[04] * * * Thế rồi chủ khách thảy đồng Ði vào tu viện, Nguyên Không đang thiền Vừa trông thấy, khách cười liền Thông, Thư chẳng rõ cớ duyên thế nào Ðến khi tới chỗ sân đào Giác Nhiên cùng với Tâm Cao ra chào Ðại Sư nghe tiếng xôn xao Mở mắt quan sát, bỗng màu mặt thay: "Ô! kìa ... Sư Ðệ đến đây Làm sao biết rõ chốn này viếng thăm?!" Bạch rằng: chẳng ý kiếm tầm Cơ duyên hạnh ngộ đến nhằm Sư Huynh Nói rồi cung kỉnh nghiêng mình Ðại Sư vội đỡ dắt lên cùng ngồi Hỏi rằng từ lúc vắng tôi Tôn Sư vẫn mạnh, mọi người bình yên? Bạch rằng tất cả vẫn yên Chỉ Thầy hơi yếu, nhưng Thiền luôn luôn Sư Huynh đi vắng hơi buồn Những nơi pháp hội thành khuông tu thiền Cảnh chùa cô tịch quanh niên Ðệ khi ra "Hạ" khắp miền vân du Tùy duyên nhắc nhở dân tu Bước chân Tăng sĩ phiêu lưu đủ vùng Khi Rạch Giá, lúc Vĩnh Long Khi nơi bảy núi, lúc dòng Hà-Giang Khi Trà Khúc, lúc La Bang Khi ra Kinh Xáng, lúc vào Cái Răng... Ðại Sư cười bảo chúng Tăng Ðây là pháp đệ tên rằng Nguyên Siêu Luật, Kinh, Diệu pháp hiểu nhiều Suốt thông sinh ngữ, đủ điều luật nghi Tỷ Khưu tuổi trẻ cao kỳ Tánh không lập dị, chẳng khi ai hèn Mà hay bắt bẻ thói quen Nhưng rất khiêm nhượng, ai khen ngại ngùng Ðến đây, Ðại Ðức Nguyên Không Xoay qua nhắc nhở Pháp Thông nhớ rằng: Hãy lo quét dọn phòng Tăng Và cho thí chủ cúng dường được hay... Ðoạn rồi Tăng chúng kiếu Ngài Dắt nhau trở xuống Phật đài nghĩ ngơi. * * * Gió hây hãy quyện bên trời Mong long bóng nguyệt giữa vời xanh xanh Mưa rơi tầm tả bên gành Vài cơn sắm sét, âm thanh rởn người. Bình minh vừa hé nắng tươi Xa xa trông thấy một người đi lên Dáng người nho nhã thư sinh Nếu không thi sĩ, cũng tình văn gia Tánh người có lẽ ôn hòa Nên đi thong thả dù xa dù gần Khách đi vừa đến bên sân Cởi giày, gỡ mũ, đầu trần chân không Thiên-Thư nói với Pháp Thông Chắc là thiện tín nên không mang giày... Khách vào liền hỏi: Bạch Thầy Cho Con nghỉ tạm nơi này ít hôm Ðường xa bị cảm hồi hôm Sáng nay lại thấy thiền môn nên vào * * * Pháp thông dẫn lại phòng sau Rồi đem cho thuốc cho dầu đốt xông Khoẻ rồi khách mới ra phòng Cùng chư Sư rõ chuyện lòng hàn huyên Khách rằng con ở Hà Tiên Mẹ cha mất sớm, của tiền ít oi. Gần đây chừng bốn năm rồi Con đang đi học, lại thôi, đi làm... Quê người vất vả quanh năm Quyết làm ra của để đem về làng Cưới người thiếu nữ đài trang Trước là bạn học, thuộc hàng giàu sang Cha nàng: "hộ đối môn đăng" Nàng thương nên giúp ít vàng lập thân Con luôn tận tụy chuyên cần Vừa làm ra của nên lần về quê Nào ngờ nàng đã lỗi thề Lấy chồng Ðại Úy vì chê con nghèo Tủi thân, con tính qua Lèo Nhưng đường biên giới hiểm nghèo khó đi Lang thang khắp chốn ngại gì Ðể xem con tạo đưa thì về đâu Ðêm hôm bị cảm nhứt đầu Ðương khi bệnh hoạn may sao gặp Thầy Xin cho tạm nghĩ nơi đây Mạnh rồi con sẽ đi ngay chẳng chầy. * * * Thư rằng: chuyện ấy lo chi Chỉ lo những chuyện sầu bi cõi lòng Thôi thì... thôi thế cũng xong Nàng đà đổi dạ thay lòng phụ anh Cũng là một dịp phúc lành Ðể anh thức tỉnh là tình trái oan Xã ly thanh thoát tịnh nhàn Không con không vợ buộc ràng cũng không Yêu đương: chết nữa cõi lòng Ðó là chơn lý đừng hòng đổi thay Càng yêu càng phải đắng cay Càng yêu càng mãi miệt mài khổ đau Hãy tu cho khỏi ưu sầu Hãy tu cho khỏi đớn đau cõi lòng Khách thưa: duyên nghiệp chưa xong Làm sao thanh toán hận lòng mới nguôi Số là con đã tính rồi Qua Lèo chuộc ngãi rẽ đôi cho vừa Thư rằng: chỉ chút hương thừa Ðem thân dầm dãi nắng mưa bao đành! Lại còn oan trái mãi sanh Nghe lời dứt bỏ, tu hành hay hơn... Khách như dịu nỗi căm hờn Chấp tay cung kỉnh trước đơn bạch rằng: Lời vàng của Ðại Ðức Tăng Như trừ não chướng, như tan hận tình. Từ nay theo đạo học kinh Già Lam ẩn náo, xả tình trái oan... Nương theo thánh đức tịnh nhàn Phồn hoa xa lánh, núi ngàn ẩn tu * * * Lần lần hè mãn sang thu Lá rừng lả tả, chim vù khói lam... Một hôm dưới ánh trăng vàng Ðại Sư xả định hân hoan vẻ thiền. Chư Sư họp mặt dưới hiên Cùng nhau luận đạo giảng thiền giải kinh... Ðại Sư nhơn dịp thuyết trình: Các Sư thuyết pháp thuận tình mới nên Lẽ thường "Bố thí" trước tiên Khuyên người rộng rãi: căn nền thiện duyên Thứ hai "Trì giới" răng khuyên Giữ gìn thân khẩu: tịnh yên cõi lòng. Thứ ba: thiên chúng phước hồng Ðể người phấn khởi gieo trồng thiện căn Thứ tư: tai hại ngũ trần Cho người nhàm chán, chuyên cần thoát ra... Thứ năm: quả báo xuất gia Khiến người dứt bỏ trần sa ngủ ngầm Ðó là tùy thuận Pháp âm Giúp đời tiến hóa phước thâm đặc thù Lại thêm bổn phận Pháp Sư Có năm chi pháp phải như thuộc lòng: 1- Thuyết theo thứ lớp quả nhân Không thêm không bớt tránh phần ba hoa... 2- Giải bày nghĩa lý cao xa Chứng minh thí dụ, người nghe tỏ tường 3- Không mong lợi lộc cúng dường Chỉ mong đợi chúng mười phương tu hành 4- Tâm từ rải khắp chúng sanh Cho người mát mẻ đắc thành đạo cao 5- Chẳng chê hạ mạt kẻ nào Và không tự đắc tự cao khoe tài... Pháp Sư giữ đúng đừng sai Vì đời hóa đạo, đức đầy dồi trau Sa-Môn đời sống tiêu dao Với người Cư Sĩ trước sau sáu điều: 1- Khuyên ngăn việc ác chớ liều Dữ hung lớn nhỏ ít nhiều cũng kiêng 2- Việc lành hướng dẫn nhắc khuyên Thiện hiền lớn nhỏ thường xuyên thực hành 3- Tâm từ đối với nhơn sanh Luôn luôn mát mẽ lòng thành thuần lương 4- Giảng kinh đặc biệt hơn thường Tức là những pháp chưa từng được nghe 5- Giải thêm những pháp đã nghe Cho được thấu rõ chỗ chưa tận tường 6- Chỉ cho biết rõ con đường Hướng về lạc cảnh và phương thoát trần Sa-Môn tánh tướng chuyên cần "Xuất gia thí pháp" là phần chư Tăng Còn về Thiền định sơn Tăng Hướng về đạo quả thường hằng chú tâm: 1- Niệm thân: đi, đứng, ngồi, nằm Tử thi, bất tịnh, quán ngầm sắc âm (1) Vô ra hơi thở lưu tâm Vô thường, khổ não, sắc tâm đổi hình. (1) Sắc Uẩn
2- Niệm thọ: nhận thức cảm tình Khổ, lạc hoặc xả; khác hình đồng căn Diệt sanh quan chiếu thường năng Cho tường thọ uẩn tánh hằng đổi thay. 3- Niệm tâm: quán thức trong ngoài Nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân nầy, ý kia Do căn và cảnh hiện ra Khiến nên thức uẩn dung hòa phát sanh. 4- Niệm pháp: quan sát tưởng, hành Tham, sân, nghi, hối... chẳng lành gốc si Tín, cần, niệm, định, vô si... Thuộc thành phần thiện trí tri đủ đầy. Người tu chánh niệm thường ngày Biết mình ghi nhớ từng giây từng giờ Tâm thiền trái với hồn thơ: Không buồn dĩ vãng, chẳng chờ tương lai. * * * Ngày xưa thiền đức có Ngài Luôn luôn chánh niệm chơn tay, việc làm. Ra đường hoặc ở trong am Vẫn luôn theo dõi việc làm thân tâm. Mỗi khi ác pháp: sân, tham... Khởi lên tâm trí, Ngài dừng chân ngay Niệm cho diệt mất mới đi Nhiều người chẳng rõ chuyện chi hỏi Ngài... Có lần thọ dụng bằng tay Ðưa ra quên niệm nên Ngài rút vô Ngạc nhiên khách hỏi lý do Mới hay tác dụng cách tu tuệ thiền Tu hành trọng yếu cần chuyên Thiết tha tu tập như ghiền cần sa Mới mong vượt khỏi ái hà Mới mong thoát chốn ta bà trầm luân Chánh niệm nhờ pháp chánh cần Mới năng tiến hóa, mới hằng chú tâm Những người trí tuệ cao thâm Tự mình thắp đuốc khỏi lầm huyển mơ Thế gian như thể cuộc cờ Tính toan lắm nỗi, được nhờ gì đâu?! Với người trí đức cao sâu Chỉ nương chánh pháp chẳng cầu chi ai Ðây lời các đấng Như Lai: "Thế gian phiền toái dẩy đầy khổ đau Cảnh đời như giấc chiêm bao..." Xuân xanh mới đó bạc đầu rồi đây Trần hoàn đổi đổi thay thay Nam kha huyển mộng mỗi ngày có chi Sao bằng giới định ... hành trì Nương theo Chánh pháp khổ già cũng qua. * * * Lành thay! kiếp sống không nhà Xã ly thế lợi ta bà độ sinh Quê-San-Ta (1)trước dứt tình Cũng mong thoát khổ tử sinh luân hồi (1) Vessantara: tên của Bồ Tát; tiền thân Ðức Phật, kiếp bố thí: voi quý hai con và vợ
Người trời phước báu tạm thôi Sáu đường ba cõi đổi đời luôn khi! Nên người nam tử tu mi Hằng trau dồi đức trí bi vẹn toàn Thú vui: hành đạo lâm san Hướng về đạo quả tịnh an cõi lòng Giữa trần cấu, lại sạch trong Giữa nơi tham dục mà lòng tịnh thanh. Vui thay! giữ được lòng thành Vui thay! chứng đắc vô sanh, bất hoàn Vui thay! phiền não lặng an Vui thay! không kết trái oan trong đời Vui thay! thánh đức tuyệt vời Vui thay! thánh đạo chẳng lời gọi xưng Vui thay! thánh đế chứng chân Vui thay! thánh thiện cõi trần bình yên Vui thay! không nhiễm không ghiền Không vương trần cấu: không triền, bộc lưu... Vui thay! đời sống Tỷ Khưu: Xả ly thế sự, ẩn tu núi rừng. Trăm năm trong cõi hồng trần Lưỡi câu dục lạc: cáng cân tử thần! Vui trong bể ái nguồn ân Rập gài hoạn lộ, lưới giăng thành sầu! Thế nhân ai đã hiểu đâu? Cầu sương quán cỏ có lâu bao giờ! Bình minh nắng sớm mai mơ Chiều nghiêng bóng rũ chửa ngờ hoàng hôn! Buồn thay! sanh tử lưu tồn Buồn thay! ngũ uẩn vẫn còn nối sanh Buồn thay! tam giới lộn quanh Buồn thay! đời mãi tương tranh thế quyền! Buồn thay! ác kiến đảo điên Buồn thay! ác đạo khổ triền miên lâu Buồn thay! ác hạnh tham sân Buồn thay! ác thú khó cầu siêu sanh Buồn thay! đời nhiễm lợi danh Càng mê dục lạc càng ganh tỵ nhiều! Buồn thay! người chẳng chịu tu Ðam mê thế sự, bám bu thị thành Kiếp người: lá gió chim cành Vui khi đông tụ, buồn cơn thu tàn! Kìa bần tiện nọ giàu sang Cỏ xanh một nắm, đất hoang một gò! Nhưng đời mấy kẻ biết lo Chỉ mơ sông vị, chờ đò ô giang! Chưng hoa chẳng rõ hoa tàn! Xuân mai dương đắc, chiều vàng ngẩn ngơ! Thương ta, sao lại chần chờ? Thương ta, sao lại hẩn hờ đường tu? Thương ta, sao tạo oán thù? Thương ta, sao để mịt mù tối tăm?! Thương ta, phải chiến thắng tâm Thương ta, phải thoát khỏi đầm lợi danh Thương ta, tinh tấn làm lành Thương ta, phòng hộ ... tịnh thanh cõi lòng... Thương ta, trì giới sạch trong Thoát đường trần cấu, khỏi giòng phù sa Thương ta, tự độ lấy ta: Ngăn lòng tham dục, tránh xa não phiền Tình người tựa đóa hoa thiêng: Sương rơi phơi phới, nắng xuyên dàu dàu Nắng mưa càng thắm sắc màu Gió lay: làm dáng, trăng sao thêm tình... Thế nên, nếu biết thương mình: Ðừng quên ý nghĩa hữu tình: nghiệp duyên! * * * Quả nhân, nhân quả triền miên Luân lưu lắm lượt, đảo điên nhiều lần! Nghiệp là định luật cõi trần Nghiệp là mẹ đẻ ra thân con người Nghiệp cho hưởng phước cõi trời Nghiệp cho chịu khổ ở nơi ngục hình Nghiệp làm các loại tục sinh Nghiệp làm trổ quả phân minh dữ lành Nghiệp; nơi nương tựa chúng sanh Nghiệp gìn tài sản để dành tương lai Nghiệp luôn chi phối đêm ngày: Phước sanh thiên giới, tội đày phong đô Nghiệp tinh khiết, hoặc trược ô ... Tốt nhà muôn thuở, xấu mồ thiên thu! Trăm năm trong cõi diêm phù Khéo tu: hoan lạc, vụng tu khổ sầu Xuân xanh, phút đã bạc đầu Chuyến xe quá khứ, cuộc tàu tương lai! Gẩm ra lòng cũng buồn thay! Chúng sanh tam giới khổ rày cho duyên Có vui thì tất có phiền Có sanh, tử, ắt có yên luân hồi! Duyên sinh các vật trong đời Duyên sinh cảnh, cõi, thú, người vân vân Duyên làm sanh diệt căn, trần Duyên làm tan hợp các phần sắc danh Duyên trợ tạo có chúng sanh Duyên phù hộ trợ kết thành thế gian Duyên theo nghĩa ánh đạo vàng: Duyên trong ngủ uẩn, Níp-Bàn: Vô duyên Duyên sinh là khỏi não phiền Dữ lành vui khổ...chúng liền tương ưng Duyên không, các khổ... điều không Cạn ao tam giới, dứt dòng tử sanh Nghiệp duyên hết, lậu hoặc thanh Cõi đời bớt bóng, Níp-Bàn thêm không. Thế là nguồn ái cạn giòng Chiếc thân ngủ uẩn, cảnh không chẳng dừng. * * * Thoạt đầu khái niệm sắc không... Ngoài lìa cảnh tướng, nên trong nhứt hành Tùy theo cá tánh chúng sanh Cảnh duyên khế hợp căn lành tiến tu Thiền tâm tạp niệm gom thu Thiền quang vẹt ánh mây mù vô minh Thiền duyên: tầm, tứ...tương sinh Thiền thiêu triền cái: dục tình, nghi, sân... Thiền năng dứt bỏ ngủ trần Thiền đưa nhân loại lên tầng Phạm Thiên Thiền làm tạm vắng não phiền Thiền làm ác pháp tạm yên nhứt thời Thiền nhơn cao quí trong đời Thiền nghiêm tâm tịnh hơn trời Thiên Vương Thiền cơ siêu việt khác thường: Thần thông biến hiện mười phương ta bà. Cuộc đời gió dập mưa sa Kìa sân trần cảnh, nọ nhà lục căn Tầm cầu năng sở, sở năng Ðộ mai lục địa, tuần trăng hải tần... Có thân lại lụy vì thân Mấy ai giác tĩnh, gương tần hồi quang! * * * Ðường vào tam giới thênh thang: Lối vào khổ cảnh, nẽo sang cõi trời Ðạo là đường đến các nơi: Ðạo là hành lộ thú, người vân vân Ðạo đưa các loại xoay vần Ðạo không hẳn nghĩa là đang thánh nhân. Ðạo chánh sự thật chứng chân Ðạo tà là lối khách trần trầm luân Ðạo đề trừ diệt tham sân ... Ðạo duyên thì đủ đôi phần hợp, siêu Ðạo tâm khách tục thường kêu Chỉ lòng mên mộ giáo điều, sách , kinh ... Ðạo tâm đắc đạo lộ trình: Sát trừ phiền não, liễu minh Níp-Bàn. Ðời là một cuộc hòa tan Cõi người giấc mộng, thiên đàng cơn mơ Thế trần dù đẹp như thơ: Lô sơn mù tỏa, sương mờ chiết giang ! Tại sao lắm kiếp trần hoàn? Tại sao đau khổ vương mang mãi vầy? * * * Tại do căn, cảnh, thức đầy Gặp nhau mới có cái này cái kia! Xúc là gặp gở, chẳng lìa Xúc là chung hợp được chia nhiều loài: Xúc nhãn: mắt chạm sắc ngoài Xúc nhĩ: tai, tiếng gặp ngay rõ ràng Xúc tỷ: mùi, mũi hợp đoan Xúc thiệt: lưỡi, vị đôi đàng gặp nhau Xúc thân: thân xúc đụng vào Xúc ý: tâm, pháp tương giao mà thành Xúc là sở hữu biến hành Nên mọi tâm thức hiện sanh đồng đều Xúc duyên cảm thọ ghét yêu... Nếu không có xúc, mọi điều (...) cũng không. Cuộc trần nguyệt chiếu hoa lồng... Phù du ánh lửa, tơ đồng hạt châu! Gió đông nào khác mưa ngâu: Buâng khuâng luyến cảnh, âu sầu tiếc hoa! Bởi duyên xúc cảnh tình ra... Khổ vui... cũng tại ngoài hòa với trong! Sở duyên Năng hiện tương đồng Cảnh ngoài xấu tốt: trong lòng buồn vui. Thọ là lãnh nhận, tiếp thâu... Thọ là cảm giác, khổ sầu ghét thương... Thọ vui: sung sướng lẽ thường Thọ đau khổ sở đoạn trường từng cơn Thọ hoan hỷ chính lòng mừng... Thọ ưu: buồn bực, nét xuân dàu dàu Thọ vô tư vẫn một màu Thọ thân tâm, cũng chẳng nao núng lòng Thọ duyên ái, thủ, hữu đồng Phát sanh tùy thuộc một dòng thuận lưu Thọ như bào ảnh: không lâu Luôn luôn biến diệt phải đâu thường hằng: Thương người đáy nước tìm trăng! Xây lầu bãi cát, tìm vàng trên không! Buồn, vui..., bóng nước giữa dòng Khởi sanh phút đã... gió lồng mành chân! Khách trần ai sợ khổ đau Chán vô thường hãy hướng vào giác chân * * * Thực hành Thập độ chuyên cần: Xả ly tài sản...chán thân luân hồi. 1- Thí: cho những cái của tôi. Thí: cho những cái người đời tiếc thương Thí là diệt ngã thần phương Thí là kiến tạo thiên đường tại tâm Thí làm thành bực siêu phàm Thí làm thành bực vô tham giữa đời... Thí là sự nghiệp người, trời ... Thí là thánh sản tuyệt vời từ xưa. Thí hằng được sự mến ưa... Dù cho tất cả, vẫn thừa báu châu... Thí là Pháp độ đứng đầu Sự: gieo trồng phước, lý mầu: diệt tham. Trí nhân mở hội hoa đàm Hiền nhân bốn bể đồng tâm xả tài Sống giờ nên nghĩ tương lai: Mạ gieo ruộng tốt, trồng khoai đất lành. Chẳng chi bì với tâm thanh Chi bằng thân khẩu nghiệp lành sạch trong Khổ vui gốc ở nơi lòng Nên người Tăng sĩ chỉ mong giữ mình. 2- Giới là điều học, phải gìn Giới là nền tảng nghiêm minh Tăng già Giới làm thanh tịnh chính ta Giới làm giải thoát trần sa trược phiền Giới năng vớt khách như thuyền Giới năng phòng hộ ác duyên như rào Giới đưa người thấp lên cao Giới đưa người khổ được vào Lạc bang Giới duyên đắc chứng Níp-Bàn Ba trong tám chánh: con đàng thánh nhơn. Giới Ba-La-Mật: thuần lương Một trong mười độ: sở trường thanh tu: Lòng lâng lâng nhẹ nhàn du Giòng ngân mát dịu, trời thu êm đềm Nợ trần chỉ bớt, không thêm, Xe dừng nẽo dục, thuyền tìm giác biên Nê hà năng xuất hồng liên Người trong cảnh dục tránh phiền... mới hay Cao nhơn phước đức đủ ầy Nhưng tâm nhàm chán, hằng ngày xả ly! 3- Xuất gia dứt bỏ mê si... Xuất gia dứt bỏ sở y người, trời Xuất gia là chán cuộc đời Xuất gia là sợ khổ nơi luân hồi Xuất gia tâm lý: muốn thôi... Xuất gia tướng mạo là ngồi già lam... Xuất gia đồng nghĩa vô tham. Xuất gia đúng lý là làm siêu sanh Xuất gia: pháp độ thuần thành Trong Ba-La-Mật căn lành chính tông Xuất gia giải thoát bụi hồng Chí mong giải thoát khỏi vòng ngũ ma (1) (1) Ngũ ma: Chư Thiên, ngũ uẩn ma, phiền não ma, pháp hành ma và tử thần ma.
Cõi trần lắm lược vào ra Khác chi bến đổ: chiều tà thuyền lui Ðắng cay từng nếm đủ mùi Giấc mơ dục lạc, say vùi chưa hay! Giác nhơn diệu trí lành thay! Suốt thông tam giới: miệt mài thú vui! Trầm kha lắm kiếp nhiều đời Vô Minh ngã chấp: chơi vơi bể trần! 4- Trí minh tỏ ngộ lý chân Trí thông thấu rõ nhân gần quả xa Trí tường tội phước do ta Trí năng chuyển hóa ta bà tĩnh mê Trí tu đắc chứng Bồ Ðề Trí tư liễu nghĩa điệu đề hiển minh Trí văn khai thị duyên sanh Trí đạo thấy rõ sắc danh: vô thường Trí soi vạn vật tỏ tường: Giòng đời sanh tử: bởi thường đam mê! Trí Ba-La-Mật hướng về Mục tiêu giải thoát bến mê thành sầu Chợ đời như chốn thanh lâu: Càng vui khoái lạc, càng sầu kiếp nhơ! Ðêm thanh chiếc bóng thẩn thờ Nửa ngao ngán nghiệp, nửa thơ thẩn buồn! Thiện nhơn chẳng dễ sầu tuôn Luôn luôn tiến bước, dù truông tử thần Ngăn ngừa phòng hộ chính thân Lìa xa tội lỗi, tạo nhân duyên lành. 5- Cần chuyên diệt ác đang sanh Cần chuyên tu dưỡng thiện hành đã, đang... Cần: không bỏ dỡ nửa đàng Cần không dừng bước, thường hằng tiến tu Cần là sức mạnh trượng phu Cần là thần lực hộ phù bản thân Cần làm thành bậc thánh nhân Cần làm người thế thoát trần tiêu dao. Cần duyên thánh thiện thanh cao Một trong Bát chánh, đường vào vô sanh Cần Ba-La-Mật tiến trình Các hàng Bồ Tát tự mình chuyển mê. Ðường tu tiến tiến, bến đạo về Bước chân thánh thiện, đầy huê Mạn Thù Ái hà cây cỏ hoang vu Sa-Môn vững bước, mặc dù gian nan. 6- Nhẫn kham dù phải cơ hàn Mặc ai đem lửa thử vàng cũng cam Một lòng dưỡng tánh tu tâm Trước bao thử thách, càng làm quyết tâm. Nhẫn điều khó nhẫn, vẫn kham... Nhẫn điều khó nhẫn: càng làm đời kinh! Nhẫn là chịu mọi bất bình Nhẫn là chịu mọi chúng sinh gây phiền. Nhẫn làm oan trái lặng yên (1) Nhẫn làm bao mối phược triền tiêu tan Nhẫn năng trừ diệt chướng oan Nhẫn trong giây lát, đặng an trăm ngày (2) (1) Nhẫn nhẫn nhẫn oan gia trái chữ tùng thử tâm. (2) Nhẫn nhứt thời chi sự miểm bá nhựt chi ưu.
Nhân duyên an lạc tương lai Vì bao thù hận đời nầy chẳng sanh Nhẫn Ba-La-Mật nghiệp lành Ba đời Bồ Tát vẫn hành thường xuyên Ðá mài ngọc, muối đánh vàng Nhờ nhiều trở lực, nên trang đại hùng Cứng như đá, mềm như bông Thật là đại sĩ, tất lòng cương nhu! Bây giờ và mãi nghìn thu Các vì Bồ Tát tâm tư vẫn lành Những điều sắp, đã, đang sanh Dù vui hay khổ vẫn hành thật chơn. 7- Thật chơn trước cảnh thua hơn Thật chơn trước cảnh giận hờn, mừng, vui... Thật chơn là chẳng dối lời Thật chơn là chẳng đổi đời hành vi Thật chơn: thiện tánh cực kỳ Thật chơn: đức tánh đoạn ly vọng tà Thật chơn thì chẳng điêu ngoa Thật chơn thì chẳng dối ta, gạt người... Thật chơn ngọc quí nhứt đời Vị ngon ngọt nhứt của người thượng lưu Thật Ba-La-Mật đặc thù Ðế ngôn thánh đức Tỳ Khưu hộ trì ... Thế nhân tìm bạn tương tri Xuyên qua ngôn ngữ, hành vi đã tường Với người trí thức hiền lương Có sao nói vậy, sở trường từ xưa. Xưa nay và mãi bao giờ Người tu theo Phật, ước mơ Níp-Bàn Dù chưa chứng đắc hoàn toàn Vẫn mong sẽ được nghĩa an dịp nào. 8- Ước nguyền diệt tận trần lao Ước nguyền giải thoát đường vào tử sanh Ước nguyền chứng đạo tám ngành Ước nguyền chấm dứt tái sanh luân hồi Ước nguyền mất hẳn cái Tôi Ước nguyền ngũ uẩn được thôi "trở thành" Ước nguyền thân khẩu...trọn lành Ước nguyền thấy rõ sắc danh vô thường Ước nguyền là nguyện vào đường Thánh nhơn giải thoát, con đường thanh quang Ước nguyền Pháp độ tịnh an: Chí mong giải thoát Níp-Bàn tiêu dao. Hữu vi sắc tướng huyển bào... "Hoa không" giả hiện, ước ao lợi gì! Níp-Bàn tuyệt đối vô vi Trí nhân Thiền đức luôn khi nguyện cầu. Thế gian thù hận khổ đau Trái oan không biết kiếp nào xả ly! Chỉ người hiền đức tu trì Mới luôn một dạ từ bi với đời. 9- Từ là mát mẻ thảnh thơi Từ là hòa dịu mọi người thù, thân Từ không phân biệt xa gần Từ không thương mến cá nhân, loại nào... Từ làm đời bớt khổ đau Từ làm thù hận tiêu hao dần dần Từ năng đối trị tâm sân Từ đưa nhân loại lên tầng Phạm Thiên Từ tâm niệm rải thường xuyên Không phân giới loại khắp miền bình an. Từ Ba-La-Mật thanh đoan Giúp chư Bồ Tát vẻ vang đạo mầu Ác ma thù hận thâm sâu Thì người Thích tử càng trau đức từ Ác nhân oán chạ thù tư Hiền nhân đại lượng tâm từ thứ dung. Ðại nhơn: đại xả: đại hùng Gió đời tám ngọn vẫn không ngại gì Giữ tâm bình thản luôn khi Khen, chê, vui, khổ... vẫn thì tự nhiên 10- Xả là lòng chẳng vị thiên Xả là lòng chẳng giận phiền, mừng vui... Xả: không cố chấp cái Tôi Xả: không giao động trước lời thị phi Xả làm hỷ, nộ... viễn ly Xả làm hành giả phát huy đạo, thiền Xả tình thì giảm oan khiên Xả tài thì đặng bình yên cõi lòng Xả hành, tâm được sạch trong: Vì không liên hệ vào vòng lợi danh Xả Ba-La-Mật đức lành: Tạo căn giải thoát, trở thành vô tham. Cõi đời như ngọn khói lam Mông lung huyền ảo, báo ngầm: hợp, tan! Mai mơ phút đã chiều tàn Giác nhơn bình thản, hòa tan vẫn đồng... * * * Phạm Gia liên chước thơ phong Nôm na tóm lược ít dòng văn quê Mai sau con cháu hội về Liêm ngâm đối ẩm đừng chê thơ gàn!
-ooOoo- (Hết) |