Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
01. Kinh Thiện Pháp
02. Kinh Trú Ðạc Thọ
03. Kinh Thà nh Dụ
04. Kinh Thủy Dụ
05. Kinh Một Tích Dụ
06. Kinh Thiện Nhân Vãng
07. Kinh Thế Gian Phước
08. Kinh Thất Nhật
09. Kinh Thất Xa
10. Kinh Lậu Tận
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

1. PHẨM BẢY PHÁP

3. KINH THÀNH DỤ[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hà nh nước Xá-vệ, ở trong Thắng lâm vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Như Vương thà nh ở biên giới có bảy việc đầy đủ[02] và bốn thứ lương thực sung túc dỠtìm không khó; do đó Vương thà nh không bị ngoại địch đánh phá, ngoại trừ tự phá hoại từ bên trong.

“Những gì là bảy việc mà Vương thà nh có đầy đủ? Đó là Vương thà nh ở biên giới xây cất vọng gác[03], đắp đất cho chắc không thể phá vỡ, để bên trong được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là việc đầy đủ thứ nhất của Vương thà nh.

“Lại nữa, Vương thà nh ở biên giới, đà o hà o vét ao cho thật sâu rộng, sửa sang cụ bị để có thể nương tựa, là m cho bên trong được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là việc đầy đủ thứ hai của Vương thà nh.

“Lại nữa, như đường giao thông chung quanh Vương thà nh ở biên giới được dọn dẹp cho bằng phẳng, rộng rãi, để bên trong được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là việc là m đầy đủ thứ ba của Vương thà nh.

“Lại nữa, như ở Vương thà nh biên giới tập trung bốn binh quân: quân voi, quân ngựa, quân xe, quân bộ, để bên trong được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoà i, đó là việc là m đầy đủ thứ tư của Vương thà nh.

“Lại nữa, như Vương thà nh ở biên giới dự bị binh khí, cung, tên, mâu, kích, để bên trong được an ổn, chế ngự oán địch ở bên ngoà i. Đó là việc là m đầy đủ thứ năm của Vương thà nh.

 â€œLại nữa, như Vương thà nh ở biên giới lập vị Đại tướng trấn thá»§, sáng suốt, thao lược, cÆ¡ trí, tháo vác, dÅ©ng mãnh, cương nghị, giỏi mưu chước, người là nh thì cho và o, kẻ không lương thiện thì ngăn cấm, để bên trong được an ổn, chế ngá»± oán địch bên ngoà i. Đó là việc là m đầy đủ thứ sáu cá»§a Vương thà nh.

“Lại nữa, như Vương thà nh ở biên giới xây đắp tường cao cho thật kiên cố, trét bùn, tô đất, để bên trong được an ổn, chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là việc là m đầy đủ thứ bảy của Vương thà nh.

“Bốn thứ lương thực[04] dỠtìm không khó là gì? Đó là Vương thà nh ở biên giới nước, cỏ, củi, gỗ có sẵn, có dự bị để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là loại lương thực thứ nhất sung túc, dỠtìm không khó ở Vương thà nh.

“Lại nữa, như Vương thà nh ở biên giới thu nạp nhiều lúa gạo và chứa cất lúa mạch, để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch ở bên ngoà i. Đó là loại lương thực đầy đủ, dỠkiếm không khó ở Vương thà nh.

“Lại nữa, như Vương thà nh ở biên giới chứa nhiều đậu niêm, đại đậu, tiểu đậu[05] để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là loại lương thực thứ ba sung túc, dỠtìm không khó ở Vương thà nh.

“Lại nữa, như Vương thà nh ở biên giới, chứa để dầu bơ, mật, mía đường, cá, muối, thịt khô, tất cả đầy đủ, để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Đó là loại lương thực thứ tư sung túc, dỠtìm không khó ở Vương thà nh.

“Như vậy, Vương thà nh bảy việc đầy đủ, bốn thứ lương thực sung túc, dỠtìm không khó, nên không bị ngoại địch đánh phá, chỉ trừ bên trong tự phá hoại.

“Cũng vậy, nếu Thánh đệ tử cũng được bảy thiện pháp và bốn tăng thượng tâm[06], dỠđược không khó, vì thế Thánh đệ tử không bị ma vương lung lạc[07] cũng không theo pháp ác bất thiện, không bị ô nhiỠm bởi phiền não, không còn thọ sanh trở lại.

“Bảy thiện pháp mà Thánh đệ tử có được là những gì? Đó là Thánh đệ tử có tín kiên cố, tin sâu nơi Như Lai[08], tín căn đã vững, trọn không tin theo Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo, cũng như Thiên ma, Phạm thiên, và các hạng thế gian khác. Đó là Thánh đệ tử được thiện pháp thứ nhất.

“Lại nữa, Thánh đệ tử thường thực hà nh tà m sỉ[09], điều đáng xấu hổ thì biết xấu hổ, xấu hổ pháp ác bất thiện, phiền não ô ế, là thứ khiến thọ các ác báo, gây nên gốc rỠsanh tử. Đó là thiện pháp thứ hai mà Thánh đệ tử có được.

 â€œLại nữa, Thánh đệ tá»­ thường thá»±c hà nh xấu thẹn[10], điều đáng xấu thẹn biết xấu thẹn, xấu thẹn pháp ác bất thiện, phiền não ô uế là thứ khiến thọ các ác báo, tạo gốc sanh tá»­. Đó là thiện pháp thứ ba mà Thánh đệ tá»­ có được.

“Lại nữa, Thánh đệ tử thường thực hà nh tinh tiến[11], đoạn trừ các ác bất thiện pháp, tu các thiện pháp, luôn gắng sức bền chí[12], chuyên nhất kiên cố[13], là m các điều thiện, không bỏ phương tiện[14]. Đó là thiện pháp thứ tư mà Thánh đệ tử có được.

“Lại nữa, Thánh đệ tử học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự học rộng. Các pháp nà o là toà n thiện ở khoảng đầu, toà n thiện ở khoảng giữa, toà n thiện ở khoảng cuối, có nghĩa có văn, thanh tịnh trọn đủ, phạm hạnh hiển hiện[15], học rộng nghe nhiều các pháp như vậy; học đến cả ngà n lần, chú ý chuyên tâm quán sát[16], thấy rõ hiểu sâu[17]. Đó là thiện pháp thứ năm mà Thánh đệ tử có được.

“Lại nữa, Thánh đệ tử thường thực hà nh nơi niệm, thà nh tựu chánh niệm; những điều đã học tập từ lâu, đã từng nghe từ lâu[18], nhớ luôn không quên. Đó là thiện pháp thứ sáu mà Thánh đệ tử có được.

“Lại nữa, Thánh đệ tử tu hà nh trí tuệ, quán sát pháp hưng suy[19]. Do có trí như vậy, có thánh tuệ, có sự thấu hiểu, phân biệt rõ rà ng, mà diệt tận hoà n toà n sự khổ. Đó là thiện pháp thứ bảy mà Thánh đệ tử có được.

“Những gì là bốn tăng thượng tâm, dỠđược không khó mà Thánh đệ tử đạt được? Đó là Thánh đệ tử ly dục[20], ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ và lạc phát sinh do viỠn ly, thà nh tựu và an trụ Sơ thiềân. Đó là tăng thượng tâm thứ nhất dỠđược không khó mà Thánh đệ tử đạt đến.

“Lại nữa, Thánh đệ tử giác và quán đã dứt, nội tâm tịch tịnh, không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh thà nh tựu và an trụ Nhị thiền. Đó là tăng thượng tâm thứ hai dỠđược không khó mà Thánh đệ tử đạt đến.

 â€œLại nữa, Thánh đệ tá»­ lìa há»· dục, an trụ xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều mà Thánh gọi là được xả bởi Thánh, có niệm và lạc, an trụ không, thà nh tá»±u an trụ tâm. Đó là tăng thượng tâm thứ ba dỠđược không khó mà Thánh đệ tá»­ đạt đến.

“Lại nữa, Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh thà nh tựu an trụ Tứ thiền. Đó là tăng thượng tâm thứ tư dỠđược không khó mà Thánh đệ tử đạt đến.

 â€œNhư vậy, Thánh đệ tá»­ được bảy thiện pháp, đạt đến bốn tâm tăng thượng dỠđược không khó, không bị ma vương lung lạc, cÅ©ng không theo pháp ác bất thiện, không bị nhiá» m bởi nhiá» m ô, không còn thọ sanh trở lại.

 â€œNhư Vương thà nh ở biên giới xây cất vọng gác, đắp đất cho chắc không thể phá vỡ, để bên trong được an ổn và chế ngá»± oán địch bên ngoà i. CÅ©ng vậy, Thánh đệ tá»­ có tín kiên cố, tin sâu nÆ¡i Như Lai, tín căn đã lập, trọn không theo Sa-môn, Phạm chí, Ngoại đạo, cÅ©ng như Thiên ma, Phạm thiên và các hạng thế gian khác. Đó là Thánh đệ tá»­ có vọng gác tín tâm để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

“Như Vương thà nh ở biên giới đà o hà o vét ao thật sâu rộng, sửa sang thật vững chắc, để có thể nương tựa, là m cho bên trong được an ổn, và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng thế, Thánh đệ tử thực hà nh tà m sỉ, điều đáng xấu hổ biết xấu hổ, xấu hổ pháp ác, bất thiện, phiền não ô uế, là thứ khiến thọ các ác báo, tạo gốc rỠsanh tử. Đó là Thánh đệ tử có hồ ao tà m sỉ, trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

“Như Vương thà nh ở biên giới dọn dẹp những con đường nối liền chung quanh cho bằng thẳng rộng rãi để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử thực hà nh xấu thẹn điều đáng thẹn biết thẹn, thẹn pháp ác, bất thiện, phiền não ô uế là thứ khiến thọ các ác báo, tạo gốc rỠsanh tử. Đó là Thánh đệ tử có con đường bằng thẳng hổ thẹn để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

 â€œNhư Vương thà nh ở biên giới tập trung bốn binh chá»§ng: tượng quân, mã quân, xa quân, bộ quân, để bên trong được an ổn và chế ngá»± địch quân ở bên ngoà i. CÅ©ng vậy, Thánh đệ tá»­ thường thá»±c hà nh hạnh tinh tấn, đoạn trừ ác bất thiện, tu các thiện pháp, luôn gắng sức bền chí, chuyên nhất kiên cố, là m các điều thiện, không bỏ phương tiện đoạn trừ ác bất thiện tu các thiện pháp, luôn tá»± khởi ý, chuyên nhất, kiên cố, là m các gốc rá» thiện, không bỏ phương tiện. Đó là Thánh đệ tá»­ có quân lá»±c tinh tấn để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

“Như Vương thà nh ở biên giới, chuẩn bị binh khí, cung tên, mâu kích, để bên trong được an ổn, và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự nghe rộng. Các pháp nà o là toà n thiện ở khoảng đầu, toà n thiện ở khoảng giữa, toà n thiện ở khoảng cuối, có nghĩa có văn, thanh tịnh trọn đủ, phạm hạnh hiển hiện, học rộng nghe nhiều các pháp như vậy; học đến cả ngà n lần, chú ý chuyên tâm quán sát, thấy rõ hiểu sâu. Đó là Thánh đệ tử có binh khí đa văn, để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

“Như Vương thà nh ở biên giới lập vị Đại tướng trấn thủ sáng suốt, thao lược, cơ trí, tháo vác, dũng mãnh, cương nghị, giỏi mưu chước, người hiền thì cho và o, kẻ bất lương thì ngăn cấm, để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử thường thực hà nh nơi niệm, thà nh tựu chánh niệm, những gì đã từng thực tập từ lâu, đã từng nghe từ lâu, nhớ luôn không quên. Đó là Thánh đệ tử có Đại tướng trấn thủ niệm để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

“Như Vương thà nh ở biên giới xây đắp tường cao cho thật kiên cố, trét bùn tô đất, để bên trong được an ổn, và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy Thánh đệ tử tu hà nh trí tuệ, quán pháp hưng suy. Nhờ đó Thánh tuệ có thể thấu hiểu, phân biệt rõ rà ng mà hoà n toà n diệt tận khổ. Đó là Thánh đệ tử có bức tường trí tuệ, để trừ ác và bất thiện, tu các thiện pháp.

“Như Vương thà nh ở biên giới có chuẩn bị sẵn nước, cỏ, củi, gỗ, để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử ly dục và ác bất thiện pháp, có giác có quán, có hỷ lạc do viỠn ly, thà nh tựu an trụ Sơ thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an ổn khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bà n.

“Như Vương thà nh ở biên giới thu nạp nhiều lúa gạo và chứa nhiều cây lúa mạch, để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử đã dứt giác quán, nội tỉnh nhất tâm, không giác không quán, hỷ lạc do định sanh, thà nh tựu an trụ Nhị thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an ổn, khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bà n.

“Như Vương thà nh ở biên giới chứa nhiều niêm đậu, đại đậu, và tiểu đậu, để bên trong dược an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trụ xả, vô cầu[21], chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều mà bậc Thánh gọi là được xả bởi Thánh, có niệm và lạc, an trụ không, thà nh tựu an trụ Tam thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an ổn khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bà n.

“Như Vương thà nh ở biên giới chứa cất bơ, dầu, mía, đường, cá, muối, thịt khô, tất cả đầy đủ. Để bên trong được an ổn và chế ngự oán địch bên ngoà i. Cũng vậy, Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh, thà nh tựu an trụ Tứ thiền, lạc trụ không thiếu thốn, an ổn khoái lạc, tự mình đi đến Niết-bà n”.

 Phật thuyết như vậy. Các Thầy Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan há»· phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: A. VII.6 43, Nagara-sutta. Biệt dịch, No.125 ( 39.4) Tăng Nhất 33 “Đẳng Pháp Phẩm” (Đại 2, tr.730).
[02] Hán: thất sá»± cụ túc七 事 å · è¶³. Pāli: sattehi nagaraparikkārehi, với bảy tư cụ bảo vệ thà nh trì.
[03] Hán: lâu lỗ樓 櫓. Pāli: esika, cột trụ bằng đá, thạch trụ.
[04] Hán: thực食. Pāli: āhāra. Các bản Tống, Nguyên, Minh: sự 事.
[05] Hán: niêm đậu, đại tiểu đậu 黏 豆 大 小 豆.Pāli: tila-mugga-māsāparaṇaṃ, mè (vừng), đậu đỏ, và các loại đậu khác.
[06] Bảy thiện pháp và bốn tăng thượng tâm 七 善 法 四 曾 上 心. Pāli: satta-saḍhamma (bảy pháp vi diệu), và catu-jhāna-abhicetasika (bốn Thiền tăng thượng tâm).
[07] Hán: bất vi Ma vương chi sở đắc tiện不 為 魔 王 之 所 得 便. Pāli: akaraṇīyo marassa, không bị Ma vương chinh phục.
[08] Hán: thâm trước Như Lai深 著 如 來. Pāli: saddahati Tathāgatassa bodhiṃ, tin tưởng sâu sắc sự giác ngộ của Như Lai.
[09] Hán: tà m sá»‰æ š 恥 tức tà m, hổ thẹn. Pāli: hirÄ«mā.
[10] Hán: tu quỷ羞 愧. Pāli: ottappī.
[11] Pāli: āraddha-viriya, nỗ lực tinh cần.
[12] Hán: hằng tự khởi ý恒 自 起 意. Pāli: thāmavā, có sức mạnh.
[13] Hán: chuyên nhất kiên cố. Pāli: dalhaparakamma, năng lực bền bĩ.
[14] Pāli: anikkhittadhuro kusalesu dhammesu, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp.
[15] Hán: cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnhå · è¶³ æ·¸ æ·¨ 顯 現 梵 行. Pāli: kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahacariyau abhivadanti, (các pháp ấy) tán thán phạm hạnh viên mãn và thanh tịnh.
[16] Hán: ý sở duy quán意 所 性 觀. Pāli: manasānupekkhatā, được quán sát một cách có ý thức.
[17] Hán: minh kiến, thâm đạt明 見 深 達. Pāli: diṭṭhiyā suppaṭiviḍhā, lãnh hội bằng kiến giải.
[18] Hán: cá»­u sở tằng tập, cá»­u sở tằng vănä¹ æ‰€ 曾 習 ä¹ æ‰€ 曾 聞. Pāli: cirakataṃ pi cirabhāsitaṃ, những điều được là m từ lâu, được nói từ lâu.
[19] Hán: quán hưng suy pháp觀 興 吹 法. Pāli: udayatthagātaminiyā paññāya samannāgato, thà nh tựu trí tuệ về sự sinh khởi và hoại diệt (của các pháp).
[20] Về bốn Thiền, xem các cht. 8-14 (kinh Thà nh Dụ) trên.
[21] Hán: ly ư hỷ dục, xả, vô cầu du離 於 喜 欲 捨 無 求 遊. Pāli: pītiyā ca virāgā ca uppekkako ca viharati: vị ấy sống (an trú) trong trạng thái xả, không còn hỷ.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]