Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
172. Kinh Tâm
173. Kinh Phù-Di
174. Kinh Thọ Pháp (I)
175. Kinh Thọ Pháp (II)
176. Kinh Hà nh Thiền
177. Kinh Thuyết
178. Kinh Lạp Sư
179. Kinh Ngũ Chi Vật Chủ
180. Kinh Cù-Ðà m-Di
181. Kinh Đa Giới
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

14. PHẨM TÂM

177. KINH THUYẾT

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở trong Kiếm-ma-sắt-đà m, đô ấp của Câu-lâu[01].

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Ta sẽ thuyết pháp cho các ngươi nghe, vi diệu ở khởi đầu, vi diệu ở quảng giữa và vi diệu ở đoạn cuối; có văn, có nghĩa, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó là kinh ‘Tứ Chủng Thuyết’. Sau đây Ta sẽ phân biệt nghĩa lý của kinh ‘Tứ Chủng Thuyết’. Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Hãy khéo tư niệm. Ta sẽ nói”.

Khi ấy các Tỳ-kheo vâng lời dạy, lắng nghe.

Đức Phật nói:

“Thế nà o gọi là phân biệt nghĩa lý của kinh Tứ Chủng Thuyết?

“Nếu có Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng và tiêu đích, mà ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thà nh tựu an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với dục lạc, bèn thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy phải nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên khiến ta bị thoái chuyển. Do đó định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Thầy Tỳ-kheo ấy phải nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích mà ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thà nh tựu an trụ và vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp, khiến an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta an trụ, mà định nà y của ta chắc chắn tồn tại lâu dà i’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích mà ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thà nh tựu và an trụ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ niệm tưởng tương ưng với đệ Nhị thiền, thà nh tựu sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng: ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không yểm ly tởm. Ta sanh pháp nà y khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc đệ Nhị thiền’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích mà ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thà nh tựu và an trụ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, thà nh tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không thăng tiến. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta yểm ly. Như vậy, không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, giác quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Sơ thiền, thà nh tựu sự thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên khiến ta bị thoái chuyển, do đó định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, giác quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thà nh tựu và an trụ. Vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta được an trụ, do đó định nà y của ta chắc chắn tồn tại lâu dà i’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, giác quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với đệ Tam thiền, thà nh tựu sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc đệ Tam thiền’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, giác quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thà nh tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không thăng tiến. Ta sanh pháp nà y nên khiến ta yểm ly, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ, dục, xả, vô cầu, an trụ với chánh niệm, chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả, niệm, an trú lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với đệ Nhị thiền, thà nh tựu sự thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên khiến ta bị thoái chuyển, do đó định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ, dục, xả, vô cầu, an trụ với chánh niệm, chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả, niệm, an trụ lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thà nh tựu và an trụ; và vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta được an trụ, do đó định nà y của ta chắn chắn tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ, dục, xả, an trụ vô cầu, với chánh niệm, chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả, niệm, an trú lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với đệ Tứ thiền, thà nh tựu sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đệ Tứ thiền’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ, dục, xả, vô cầu, an trụ với chánh niệm, chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả, niệm, an trụ lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thà nh tựu sự vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không thăng tiến. Ta sanh pháp nà y nên có thể khiến ta bị yểm ly, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với đệ Tam thiền, thà nh sự thối thất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên khiến ta bị thối thất, do đó định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Và vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên ta được an trụ, do đó, định nà y của ta chắc chắn tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có; không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Vô lượng không xứ, với sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc Vô lượng không xứ’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thà nh tựu sự vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không thăng tiến. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta yểm ly, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nà o, nhập vô lượng không, thà nh tựu và an trụ Vô lượng không xứ. Nhưng vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với ái lạc sắc, thà nh tựu sự thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y khiến ta bị thối thất, do đó, định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nà o, nhập vô lượng không, thà nh tựu và an trụ Vô lượng không xứ, và vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta được an trụ, do đó, định nà y của ta chắc chắn tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nà o, nhập vô lượng không, thà nh tựu và an trụ Vô lượng không xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Vô lượng thức xứ, thà nh tựu thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc Vô lượng thức xứ’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nà o, nhập vô lượng không, thà nh tựu và an trụ Vô lượng không xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thà nh tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái, không trụ, cũng không thăng tiến. Ta sanh pháp nà y có thể khiến ta yểm ly, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thà nh tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Vô lượng không xứ, thà nh tựu thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên ta bị thối thất, do đó, định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thà nh tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, và vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y khiến ta được an trụ, do đó, định nà y của ta chắc chắn tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thà nh tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Vô sở hữu xứ, thà nh tựu thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc Vô sở hữu xứ’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thà nh tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thà nh tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không thăng tiến; vì ta sanh pháp nà y nên khiến ta yểm ly, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thà nh tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Vô lượng thức xứ, thà nh tựu thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp nà y khiến ta bị thối thất, do đó, định nà y của ta không tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thà nh tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, và vị ấy chấp thọ sở hà nh nà y, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, lập niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không tiến, cũng không yểm ly; vì ta sanh pháp nà y nên ta được an trụ, do đó, định nà y của ta chắc chắn tồn tại lâu dà i’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thà nh tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thà nh tựu sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không yểm ly; vì ta sanh pháp nà y nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Lại nữa, Tỳ-kheo với sở hà nh, đối tượng, tiêu đích, vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thà nh tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp thọ sở hà nh nà y, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích nà y, mà chỉ hà nh niệm tưởng tương ưng với sự nhà m tởm, thà nh tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp nà y mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không thăng tiến; vì ta sanh pháp nà y nên khiến ta nhà m tởm, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.

“Có tưởng và có tri[02]. Ngang mức ấy còn được tri; cho đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ là hà nh dư cao hơn hết trong sự hữu[03]. Tỳ-kheo hà nh thiền hãy phát khởi theo như vậy, hãy thuyết giảng lại cho người khác biết.

Đức Phật thuyết như vậy, các thầy Tỳ-kheo sau khi Phật dạy, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Xem các Kinh số 10, 55, 169.
[02] Tưởng tri, hay tưởng thọ; chỉ tất cả thiền định, trừ diệt tận định. Ở định Phi tưởng phi tưởng xứ chỉ tồn tại hai yếu tố nay. Vượt lên nữa, là diệt tận định hay tưởng thọ diệt tận định.
[03] Hà nh dư đệ nhất hữu.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]