Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

THERAVĀDA
TẠNG KINH - TIỂU BỘ

 THÁNH NHÂN KÝ SỰ
APADĀNAPĀḶI

KÝ SỰ VỀ TRƯỞNG LÃO NI
THERĪ APADĀNA PĀḶI

 Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda
(Trương đình Dũng)

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


III. KUṆḌALAKESIVAGGO

III. PHẨM KUṆḌALAKESĪ:

21. Kuṇḍalakesāpadānaṃ
21. Ký Sự về Kuṇḍalakesā:

 

639. Padamuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.

 

640. Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ,
nānāratanapajjote mahāsukhasamappite.

Khi ấy, tôi đã được sanh ra tại Haṃsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ bởi vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.

 

641. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ,
tato jātappasādā ’haṃ upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ.

Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.

 

642. Tadā mahākāruṇiko padumuttaranāmako,
khippābhiññānamaggatte ṭhapesi bhikkhuniṃ subhaṃ.

Khi ấy, đấng Đại Bi tên Padumuttara đã thiết lập tỳ khưu ni Subhā vào vị thế tối thắng trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.

 

643. Taṃ sutvā muditā hutvā dānaṃ datvā mahesino,
nipajja sirasā pāde taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ.

Sau khi nghe điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã cúng dường vật thí đến bậc Đại Ẩn Sĩ, rồi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã phát nguyện vị thế ấy.

 

644. Anumodi mahāvīro bhadde yaṃ te ’bhipatthitaṃ,
samijjhissati taṃ sabbaṃ sukhinī hohi nibbutā.

Đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ rằng: “Này cô gái hiền thục, điều nào đã được con ước nguyện toàn bộ điều ấy sẽ được thành tựu. Hãy được an lạc, hãy được Niết Bàn.

 

645. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

646. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
bhaddā kuṇḍakesāti hessasi satthusāvikā.

(Người n này) sẽ là Bhaddā Kuṇḍakesā, nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người tha t Giáo Pháp ca v (Pht) y, là chánh thng, được to ra t Giáo Pháp.”

 

647. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

648. Tato cutā yāmamagā tato ’haṃ tusitaṃ gatā,
tato ca nimmāṇaratiṃ vasavattipuraṃ tato.

Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.

 

649. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa vāhasā,
tattha tattheva rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ.

Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.

 

650. Tato cutā manussesu rājūnaṃ vasavattinaṃ,
maṇḍalīnañca rājūnaṃ mahesittamakārayiṃ.

Từ nơi ấy chết đi, ở giữa loài người tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua có quyền lực và của các vị vua có lãnh thổ.

 

651. Sampattiṃ anubhotvāna devesu mānusesu ca,
sabbattha sukhitā hutvā nekakappesu saṃsariṃ.

Tôi đã thọ hưởng sự thành công ở giữa chư thiên và nhân loại, tôi đã được an vui ở trong mọi nơi, tôi đã luân hồi vô số (đại) kiếp.

 

652. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.

Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.

 

653. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasi puruttame.

Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.

 

654. Tassa dhītā catutth’ āsiṃ bhikkhudāsīti vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.

Tôi đã là người con gái thứ tư của vị (vua) ấy được nổi danh là “Bhikkhudāsī.” Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.

 

655. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.

Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.

 

656. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.

Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.

 

657. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.

Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.

 

658. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ahaṃ tathā,
kisāgotamī dhammadinnā visākhā hoti sattamī.

Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, thêm vào tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).

 

659. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

660. Pacchime ca bhave dāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte yadā ’haṃ yobbane ṭhitā.

Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú thịnh vượng. Rồi đến lúc tôi đã ở vào lứa tuổi thanh xuân.

 

661. Coraṃ vadhatthaṃ nīyantaṃ disvā rattā tahiṃ ahaṃ,
pitā me taṃ sahassena mocayitvā vadhā tato.

Sau khi nhìn thấy kẻ trộm đang bị dẫn đi để xử tử, tôi đã bị luyến ái với gã. Do đó, cha của tôi đã giải cứu gã ấy khỏi cái chết bằng ngàn đồng tiền.

 

662. Adāsi tassa maṃ tāto viditvāna manaṃ mama,
tassāhamāsiṃ vissatthā atīva dayitā hitā.

Sau khi biết được tâm ý của tôi, cha đã ban gã ấy cho tôi. Tôi đã trở nên thân thiết, vô cùng yêu thương, gắn bó đối với gã ấy.

 

663. So me bhūsanalobhena khalitajjhāsayo diso,
corappapātaṃ netvāna pabbataṃ cetayī vadhaṃ.

Vì lòng tham đối với các đồ trang sức của tôi, gã nghịch thù ấy có ý định gây tội đã đưa (tôi) đến ngọn núi có vực thẳm Kẻ Trộm và đã nghĩ đến việc giết hại.

 

664. Tadā ’haṃ paṇamitvāna bhattukaṃ sukatañjalī,
rakkhantī attano pāṇaṃ idaṃ vacanamabraviṃ:

Khi ấy, trong lúc bảo vệ mạng sống của mình, tôi đã cúi lạy, nghiêm chỉnh chắp tay lại với người chồng, và đã nói lời nói này:

 

665. “Idaṃ suvaṇṇaṃ keyūraṃ muttā veḷuriyā bahū,
sabbaṃ harassu bhaddante mañca dāsīti sāvaya.”

Thưa tướng công, vàng vòng ngọc trai ngọc bích này có nhiều, xin chàng hãy tự mang đi tất cả. Và hãy thông báo rằng thiếp là ‘Nô tỳ.’”

 

666. Oropayassu kalyāṇi mā bāḷhaṃ paridevasi,
na cāhaṃ abhijānāmi ahantvā dhanamābhataṃ.”

Này người đẹp, nàng phải chết. Chớ than vãn nhiều quá. Và ta biết chắc rằng không giết thì của cải không mang đi được.”

 

667. “Yato sarāmi attānaṃ yato pattāsmi viññutaṃ,
na cāhaṃ abhijānāmi aññaṃ piyataraṃ tayā.

Kể từ khi thiếp ghi nhớ được bản thân, kể từ khi thiếp đạt được sự hiểu biết, và thiếp biết chắc rằng không ai khác được yêu thương hơn là chàng.

 

668. Ehi taṃ upagūhissaṃ kassañca taṃ padakkhiṇaṃ,
na ca dāni puno atthi mama tuyhañca saṅgamo.

Xin chàng hãy đến, thiếp sẽ ôm lấy chàng và sẽ nhiễu quanh chàng. Và giờ đây không còn có sự gần gũi nào giữa thiếp và chàng nữa.”

 

669. Na hi sabbesu ṭhānesu puriso hoti paṇḍito,
itthīpi paṇḍitā hoti tattha tattha vicakkhaṇā.

Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ có sự cẩn thật nhiều bề cũng là khôn ngoan.

 

670. Na hi sabbesu ṭhānesu puriso hoti paṇḍito,
itthīpi paṇḍitā hoti lahuṃ atthavicintakā.

Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ cân nhắc điều lợi ích một cách mau chóng cũng là khôn ngoan.

 

671. Lahuñca vata khippañca nikiṭṭhe samacetayiṃ,
migamuṇṇā yathā evaṃ tadā ’haṃ sattukaṃ vadhiṃ.

Quả nhiên, một cách nhẹ nhàng và mau chóng tôi đã suy nghĩ mưu kế. Giống như bộ lông (giết chết) con thú, khi ấy tôi đã giết chết gã Sattuka như thế.

 

672. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ na khippamanubujjhati,
so haññate mandamati corova girigabbhare.

Và người nào không mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, người có trí kém cỏi ấy sẽ bị giết như là kẻ trộm ở hẻm núi.

 

673. Yo ca uppatitaṃ atthaṃ khippameva nibodhati,
muccate sattusambādhā tadā ’haṃ sattukā yathā.

Và người nào thật mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, (người ấy) thoát khỏi sự quấy rối của kẻ thù giống như tôi và Sattuka vào khi ấy vậy.

 

674. Tadā taṃ pātayitvāna giriduggamhi sattukaṃ,
santikaṃ setavatthānaṃ upetvā pabbajiṃ ahaṃ.

Khi ấy, tôi đã quăng gã Sattuka ấy vào hóc núi, rồi đã đi đến gặp những người (ngoại đạo) mặc vải trắng, và đã xuất gia.

 

675. Saṇḍāsena ca kese me luñcitvā sabbaso tadā,
pabbājetvā sasamayaṃ ācikkhiṃsu nirantaraṃ.

Và khi ấy, sau khi đã nhổ lên toàn bộ những sợi tóc của tôi bằng nhíp,[1] họ đã cho tôi xuất gia và đã chỉ dạy giáo lý không có gián đoạn.

 

676. Tato taṃ uggahetvāna nisīditvāna ekikā,
samayaṃ taṃ vicintesiṃ suvāno mānusaṃ karaṃ.

677. Chinnaṃ gayha samīpe me pātayitvā apakkami,
disvā nimittamalabhiṃ hatthaṃ taṃ puḷavākulaṃ.

Tôi đã học xong (giáo lý) ấy từ họ. Tôi đã ngồi xuống mỗi một mình và đã suy xét về (giáo lý) ấy. Có con chó tha bàn tay của con người bị đứt lìa và đã nhả ở cạnh tôi rồi đã bỏ chạy. Sau khi nhìn thấy dấu hiệu, tôi đã nhặt lấy bàn tay có đầy dòi bọ ấy.

 

678. Tato vuṭṭhāya saṃviggā apucchiṃ sahadhammike,
te avocuṃ: “Vijānanti tamatthaṃ sakyabhikkhavo.”

Sau khi từ chỗ ấy đứng dậy, bị chấn động tôi đã hỏi những người đồng đạo. Họ đã nói rằng: “Những vị tỳ khưu dòng Sakya biết rõ ý nghĩa ấy.”

 

679. Sāhaṃ tamatthaṃ pucchissaṃ upetvā buddhasāvake,
te mamādāya gacchiṃsu buddhaseṭṭhassa santikaṃ.

(Nghĩ rằng) “Ta sẽ hỏi ý nghĩa ấy,” tôi đây đã đi đến các vị Thinh Văn của đức Phật. Sau khi đón nhận tôi, các vị ấy đã đi đến bên đức Phật Tối Thượng.

 

680. So me dhammamadesesi khandhāyatanadhātuyo,
asubhāniccā dukkhāti anattā’ti ca nāyako.

Và đấng Lãnh Đạo ấy đã thuyết Pháp cho tôi về: “Uẩn, xứ, giới, đề mục bất mỹ, vô thường, khổ não, vô ngã.”

 

681. Tassa dhammaṃ suṇitvā ’haṃ dhammacakkhuṃ visodhayiṃ,
tato viññātasaddhammā pabbajjaṃ upasampadaṃ.

682. Āyāciṃ so tadā āha “ehi bhadde”ti nāyako,
tadā ’haṃ upasampannā parittaṃ toyamaddasaṃ.

Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã yêu cầu sự xuất gia và sự tu lên bậc trên. Khi ấy, đấng Lãnh Đạo ấy đã nói rằng: “Này cô gái hiền thục, hãy đến.” Khi ấy, được tu lên bậc trên, tôi đã nhìn thấy một ít nước.

 

683. Pādapakkhālanenāhaṃ ñatvā sa-udayaṃ vayaṃ,
tathā sabbepi saṅkhārā iti saṃcintayiṃ tadā.

Với sự rửa sạch bàn chân, tôi đã biết được là có sự tiêu hoại với nước. Khi ấy, tôi đã tự suy xét rằng: “Tất cả các hành cũng là tương tợ như thế.”

 

684. Tato cittaṃ vimucci me anupādāya sabbaso,
khippābhiññānamaggaṃ maṃ tadā paññāpayī jino.

Sau đó, tâm tôi đã được giải thoát trọn vẹn không còn chấp thủ. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã tuyên bố tôi là đứng đầu trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.

 

685. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paricittāni jānāmi satthusāsanakārikā.

Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.

 

686. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddh’ āsiṃ sunimmalā.

Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.

 

687. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.

Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.

 

688. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.

Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.

 

689. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāṇe tatheva ca,
ñāṇaṃ me vipulaṃ suddhaṃ buddhaseṭṭhassa sāsane.

Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là bao la, trong sạch ở trong Giáo Pháp của đức Phật tối thượng.

 

690. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

691. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

692. Paṭisambhidā catasso ca vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Bhaddā Kuṇḍalakesā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.

Tỳ khưu ni Bhaddā Kuṇḍalakesā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Kuṇḍalakesātheriyāpadānaṃ paṭhamaṃ.

Ký sự về trưởng lão ni Bhaddā Kuṇḍalakesā là phần thứ nhất.

--ooOoo--

22. Kisāgotamī apādānaṃ

22. Ký Sự về Kisāgotamī:

 

693. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.

 

694. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā aññatare kule,
upetvā taṃ naravaraṃ saraṇaṃ samupāgamiṃ.

Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở một gia đình nọ trong (thành) Haṃsavatī. Tôi đã đi đến và đã nương nhờ vào bậc Quý Nhân ấy.

 

695. Dhammañca tassa assosiṃ catusaccūpasaṃhitaṃ,
madhuraṃ paramassādaṃ vaṭṭasantisukhāvahaṃ.

Và tôi đã lắng nghe Giáo Pháp ngọt ngào của vị ấy, bao gồm bốn Sự Thật, có phẩm vị tối thắng, đưa đến sự an lạc và tịnh lặng của vòng luân hồi.

 

696. Tadā ca bhikkhuniṃ vīro lūkhacīvaradhāriniṃ,
ṭhapento etadaggamhi vaṇṇayī purisuttamo.

Và khi ấy, trong khi thiết lập vị tỳ khưu ni mặc y thô vào vị thế tối thắng, bậc Anh Hùng, đấng Tối Thượng Nhân đã khen ngợi.

 

697. Janetvānappakaṃ pītiṃ sutvā bhikkhuṇiyā guṇaṃ,
kāraṃ katvāna buddhassa yathāsattī yathābalaṃ.

Sau khi đã làm sanh lên niềm phỉ lạc không nhỏ nhoi, sau khi lắng nghe đức hạnh của vị tỳ khưu ni, tôi đã làm công việc phục vụ đến đức Phật tùy theo khả năng, tùy theo sức lực.

 

698. Nipacca munivīraṃ taṃ taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ,
tadānumodi sambuddho ṭhānalābhāya nāyako.

Tôi đã cúi xuống ở bậc Hiền Triết Anh Hùng ấy và đã ước nguyện vị thế ấy. Khi ấy, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo đã nói lời tùy hỷ về sự lợi ích của vị thế (ấy):

 

699. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

700. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
gotamī nāma nāmena hessasi satthusāvikā.”

(Người n này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người tha t Giáo Pháp ca v (Pht) y, là chánh thng, được to ra t Giáo Pháp, có tên là Gotamī.

 

701. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ,
mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ.

Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.

 

702. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

703. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.

Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.

 

704. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.

Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.

 

705. Pañcamī tassa dhīt’ āsiṃ dhammā nāmena vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.

Tôi đã là người con gái thứ năm của vị (vua) ấy được nổi danh với tên là Dhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.

 

706. Anujāni na no tāto agāreva tadā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.

Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, dầu chỉ là người tại gia chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.

 

707. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhupaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.

Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.

 

708. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.

Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.

 

709. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā,
ahaṃ ceva dhammadinnā visākhā hoti sattamī.

Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā,  Kuṇḍalā, tôi, luôn cả Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).

 

710. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsamagacchahaṃ.

Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

711. Pacchime ca bhavedāni jātā seṭṭhikule ahaṃ,
duggate adhane naṭṭhe gatā ca sadhanaṃ kulaṃ.

Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra trong gia đình triệu phú bị lâm cảnh khốn cùng, không tài sản, bị khánh tận, và tôi đã được gả vào gia đình có tài sản.

 

712. Patiṃ ṭhapetvā sesā disanti adhanā iti,
yadā ca sasutā āsiṃ sabbesaṃ dayitā tadā.

Ngoại trừ người chồng, những người còn lại giễu là “Nữ nhân không tài sản.” Và đến khi tôi đã có con trai, khi ấy tôi đã được cảm tình của tất cả.

 

713. Yadā so taruṇo bhadro komalaṅgo sukhedhito,
sapāṇamiva kanto me tadā yamavasaṃ gato.

Vào lúc đứa bé trai hiền hậu ấy, có cơ thể mềm mại, được nuôi dưỡng trong sung sướng, được yêu quý như chính mạng sống của tôi đã đi đến cõi Dạ Ma.

 

714. Sokaṭṭā dīnavadanā assunettā rudammukhā,
mataṃ kuṇapamādāya vilapantī bhamāmahaṃ.

Bị dằn vặt bởi sầu muộn, có vẻ mặt thê lương, mắt đẫm lệ, miệng khóc than, tôi đã bồng ẳm thi thể đã chết, trong lúc than vãn tôi đã đi lang thang.

 

715. Tadā ekena sandiṭṭhā upetvā bhisajuttamaṃ,
avocaṃ “dehi bhesajjaṃ puttasañjīvananti bho.”

Khi ấy, nhận thức một chiều, tôi đã đi đến vị Đệ Nhất Lương Y và đã nói rằng: “Thưa ông, xin ông hãy cho thuổc đem lại sự sống cho con tôi.”

 

716. “Na vijjante matā yasmiṃ gehe siddhatthakaṃ tato,
āharā”ti jino āha vinayopāyakovido.

Đấng Chiến Thắng, bậc rành rẽ về phương thức huấn luyện, đã nói rằng: “Những người chết không được tìm thấy ở tại ngôi nhà nào thì nàng hãy mang lại hạt cải từ nơi (ngôi nhà) ấy.”

 

717. Tadā gamitvā sāvatthiyaṃ na labhiṃ tādisaṃ gharaṃ,
kuto siddhatthakaṃ kasmā tato laddhā satiṃ ahaṃ.

Khi ấy, tôi đã đi ở trong thành Sāvatthī, và đã không đạt được ngôi nhà như thế ấy. Do đó, tôi đã đạt được trí nhớ rằng: “Hạt cải ở đâu, từ nơi đâu?

 

718. Kuṇapaṃ chaḍḍayitvāna upesiṃ lokanāyakaṃ,
dūratova mamaṃ disvā avoca madhurassaro.

Sau khi đã quăng bỏ thây chết, tôi đã đi đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi nhìn thấy tôi từ rất xa, vị có âm giọng ngọt ngào đã nói rằng:

 

719. “Yo ca vassasataṃ jīve apassaṃ udayabbayaṃ,
ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo passato udayabbayaṃ.

Và người nào đã sống trăm năm không nhìn thấy sự sanh diệt, cuộc sống một ngày là tốt hơn đối với người đang nhìn thấy sự sanh diệt.[2]

 

720. Na gāmadhammo no nigamassa dhammo
nacāpayaṃ ekakulassa dhammo,
sabbassa lokassa sadevakassa
esova dhammo yadidaṃ aniccatā.”

Không phải là quy luật thuộc về ngôi làng, không phải là quy luật thuộc về phố chợ, quy luật này cũng không phải thuộc về một gia đình, mà thuộc về tất cả thế gian luôn cả chư thiên; quy luật ấy đấy tức là tính chất vô thường.”

 

721. Sāhaṃ sutvānimā gāthā dhammacakkhuṃ visodhayiṃ,
tato viññātasaddhammā pabbajiṃ anagāriyaṃ.

Sau khi lắng nghe lời kệ này, tôi đây đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình.

 

722. Tathā pabbajitā santī yuñjantī jinasāsane,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.

Đã được xuất gia như thế, có sự thanh tịnh, trong khi gắn bó vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, Trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

 

723. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthusāsanakārikā.

Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.

 

724. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhuṃ visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāsiṃ sunimmalā.

Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.

 

725. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.

Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.

 

726. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.

Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.

 

727. Atthadhammaniruttīsu paṭibhāṇe tatheva ca,
ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ buddhaseṭṭhassa vāhasā.

Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là trong sạch, không bợn nhơ, nhờ vào sự tác động của đức Phật tối thượng.

 

728. Saṅkārakūṭā āhatvā susānā rathiyāpi ca,
tato saṅghāṭikaṃ katvā lūkhaṃ dhāremi cīvaraṃ.

Sau khi mang về từ đống rác, từ mộ địa, và thậm chí từ đường lộ, từ đó tôi đã thực hiện y hai lớp và đã mặc y thô.

 

729. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho lūkhacīvaradhāraṇe,
ṭhapesi etadaggamhi parisāsu vināyako.

Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo, ở giữa các chúng đã thiết lập (tôi) vào vị thế tối thắng trong việc mặc y thô.

 

730. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

731. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

732. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Kisāgotamī bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Kisāgotamī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Kisāgotamītheriyāpadānaṃ dutiyaṃ

Ký sự về trưởng lão ni Kisāgotamī là phần thứ nhì.

--ooOoo--

23. Dhammadinnāpadānaṃ

23. Ký Sự về Dhammadinnā:

  

733. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.

734. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ kule aññatare ahuṃ,
parakammakarī āsiṃ nipakā sīlasaṃvutā.

Khi ấy, tôi đã ở trong một gia đình nọ tại thành Haṃsavatī. Tôi đã là người nữ làm thuê khéo léo, gìn giữ tánh hạnh.

 

735. Padumuttarabuddhassa sujāto aggasāvako,
vihārā abhinikkhamma piṇḍapātāya gacchati.

Sujāta, vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật Padumuttara, đã rời khỏi trú xá đi khất thực.

 

736. Ghaṭaṃ gahetvā gacchantī tadā udakahārikā,
taṃ disvā adadiṃ pūvaṃ pasannā sehi pāṇihi.

Là người nữ đội nước, khi ấy trong lúc cầm lấy bầu nước đang đi, tôi đã nhìn thấy vị ấy, được tịnh tín, tôi đã dâng (vị ấy) món bánh ngọt bằng hai bàn tay của mình.

737. Paṭiggahetvā tattheva nisinno paribhuñji so,
tato netvāna taṃ gehaṃ adāsiṃ tassa bhojanaṃ.

Sau khi thọ lãnh, vị ấy đã ngồi xuống ngay tại nơi ấy và đã thọ dụng. Sau đó, tôi đã đưa vị ấy về nhà và đã dâng vật thực đến vị ấy.

 

738. Tato me ayyako tuṭṭho akarī suṇisaṃ sakaṃ,
sassuyā saha gantvāna sambuddhaṃ abhivādayiṃ.

Do đó, người chủ của tôi hoan hỷ đã nhận làm con dâu của mình. Tôi đã cùng với người mẹ chồng đi đến và đã đảnh lễ bậc Toàn Giác.

 

739. Tadā so dhammakathikaṃ bhikkhuniṃ parikittayaṃ,
ṭhapesi etadaggasmiṃ taṃ sutvā muditā ahaṃ.

Khi ấy, Ngài đã tán dương và đã thiết lập vị tỳ khưu ni là vị thuyết giảng Giáo Pháp vào vị thế tối thắng. Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã vui mừng.

 

740. Nimantayitvā sugataṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ,
mahādānaṃ daditvāna taṃ ṭhānaṃ abhipatthayiṃ.

Tôi đã thỉnh mời đức Thiện Thệ đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, rồi đã cúng dường đại thí và đã ước nguyện vị thế ấy.

 

741. Tato maṃ sugato āha ghananinnādasussaro,
“Mamupaṭṭhānanirate sasaṅghaṃ parivesike.

742. Saddhammasavaṇe yutte guṇavaḍḍhitamānase,
bhadde bhavassu muditā lacchase paṇidhīphalaṃ.

Do đó, với giọng có âm điệu đều đều vang vang, đấng Thiện Thệ đã nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ hiền thục, được vui thích trong việc hộ độ Ta cùng với hội chúng, là người dâng vật thực, được gắn bó trong việc lắng nghe Chánh Pháp, với tâm ý được tăng trưởng về đức hạnh, con hãy vui mừng, con sẽ đạt được kết quả của điều nguyện ước.

 

743. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

744. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
dhammadinnāti nāmena hessasi satthusāvikā.”

(Người n này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người tha t Giáo Pháp ca v (Pht) y, là chánh thng, được to ra t Giáo Pháp, có tên là Dhammadinnā.”

 

745. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ mahāmuniṃ,
mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ.

Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.

 

746. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

747. Imasmiṃ bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.

Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.

 

748. Upaṭṭhāko mahesissa tadā āsi narissaro,
kāsirājā kikī nāma bārāṇasipuruttame.

Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.

 

749. Chaṭṭhā tassāsahaṃ dhītā sudhammā iti vissutā,
dhammaṃ sutvā jinaggassa pabbajjaṃ samarocayiṃ.

Tôi đã là người con gái thứ sáu của vị (vua) ấy được nổi danh là Sudhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.

 

750. Nānujānāsi maṃ tāto agāren’ ālayā mayaṃ,
vīsaṃ vassasahassāni vicarimha atanditā.

Cha đã không cho phép chúng tôi. Có sự ấp ủ về việc không gia đình, chúng tôi đã đi đây đó trong hai chục ngàn năm, không mệt mỏi.

 

Bhāṇavāraṃ tatiyaṃ.
Tụng Phẩm thứ ba.

 

751. Komāribrahmacariyaṃ rājakaññā sukhedhitā,
buddhūpaṭṭhānaniratā muditā satta dhītaro.

Là những người con gái của đức vua được nuôi dưỡng sung sướng về tư cách nghiêm trang của người thiếu nữ. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.

 

752. Samaṇī samaṇaguttā ca bhikkhunī bhikkhudāsikā,
dhammā ceva sudhammā ca sattamī saṅghadāsikā.

Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.

 

753. Khemā uppalavaṇṇā ca paṭācārā ca kuṇḍalā,
gotamī ca ahaṃ ceva visākhā hoti sattamī.

Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Gotamī, tôi, và luôn cả Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).  

 

754. Tehi kammehi sukatehi cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

755. Pacchime ca bhavedāni giribbajapuruttame,
jātā seṭṭhikule phīte sabbakāmasamiddhake.

Và vào kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự dồi dào về tất cả các dục lạc.

 

756. Yadā rūpaguṇopetā paṭhame yobbane ṭhitā,
tadā parakulaṃ gantvā vasiṃ sukhasamappitā.

Vào lúc đạt đến sắc đẹp và đức hạnh, ở vào thời đầu của tuổi thanh xuân, khi ấy tôi đã đi đến gia tộc khác (làm vợ) và đã sống thọ hưởng lạc thú.

 

757. Upetvā lokasaraṇaṃ suṇitvā dhammadesanaṃ,
anāgāmiphalaṃ patto sāmiko me subuddhimā.

Sau khi đi đến đấng Nương Nhờ của thế gian và đã lắng nghe lời thuyết Pháp, chồng của tôi đã đạt đến quả vị Bất Lai, có trí giác ngộ hoàn hảo.

 

758. Tadā taṃ anujānetvā pabbajiṃ anagāriyaṃ,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.

Khi ấy, tôi đã thuyết phục vị ấy rồi đã xuất gia vào cuộc sống không gia đình. Trong thời gian không bao lâu, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

 

759. Tadā upāsako so maṃ upagantvā apucchatha,
gambhīre nipuṇe paññe te sabbe vyākariṃ ahaṃ.

Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy đã đi đến tôi và đã hỏi về các tuệ thâm sâu và hoàn hảo. Tôi đã giảng giải về tất cả các điều ấy.[3]

 

760. Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho etadagge ṭhapesi maṃ,
bhikkhuniṃ dhammakathikaṃ nāññaṃ passāmi edisaṃ.

Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng: “Ta không nhìn thấy vị tỳ khưu ni nào khác là vị thuyết giảng Giáo Pháp như là vị ni này

 

761. Dhammadinnā yathā dhīrā evaṃ dhāretha bhikkhavo,
evāhaṃ paṇḍitā jātā nāyakenānukampitā.

Này các tỳ khưu, Dhammadinnā là vị ni sáng trí như thế nào thì các ngươi hãy ghi nhớ như thế.” Được đấng Lãnh Đạo thương xót, tôi đã trở thành vị ni thông thái như thế.

 

762. Pariciṇṇo mayā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.

Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.

 

763. Yass’ atthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto sabbasaṃyojanakkhayo.

Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.

 

764. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthu sāsanakārikā.

Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.

 

765. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāmhi sunimmalā.

Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.

 

766. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

767. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

768. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Dhammadinnā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Dhammadinnā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Dhammadinnātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ

Ký sự về trưởng lão ni Dhammadinnā là phần thứ ba.

--ooOoo--

24. Sakulāpadānaṃ

24. Ký Sự về Sakulā:

 

769. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.

 

770. Hitāya sabbasattānaṃ sukhāya vadataṃ varo,
atthāya purisājañño paṭipanno sadevake.

Vì sự tấn hóa, sự lợi ích, ví sự an lạc của tất cả chúng sanh, đấng Siêu Nhân, bậc cao quý trong số các vị đang thuyết giảng đã sanh ra ở thế gian gồm cả thiên giới.

 

771. Yasaggappatto sirimā vaṇṇakittibhato jino,
pūjito sabbalokassa disā sabbāsu vissuto.

Đấng Chiến Thắng, đã đạt đến danh vọng cao tột, có sự vinh quang, có được sự tán dương ca ngợi, được tôn vinh, được nổi danh ở tất cả các phương của toàn thể thế gian.

 

772. Uttiṇṇavicikiccho so vītivattakathaṃkatho,
sampuṇṇamanasaṅkappo patto sambodhimuttamaṃ.

Ngài đã vượt lên trên sự hoài nghi, đã vượt qua sự lưỡng lự, đã tròn đủ tâm tư, đã đạt đến quả Toàn Giác tối thượng.

 

773. Anuppannassa maggassa uppādetā naruttamo,
anakkhātañca akkhāsi asañjātañca sañjanī.

Đấng Tối Thượng Nhân là người khai mở con đường chưa được khai mở, là vị đã nói về điều chưa được nói đến, và đã nhận thức điều chưa được nhận thức.

 

774. Maggaññū ca maggavidū maggakkhāyī narāsabho,
maggassa kusalo satthā sārathīnaṃ varuttamo.

Đấng Nhân Ngưu là vị biết được Đạo lộ, là vị rành mạch về Đạo lộ, là vị thuyết về Đạo lộ. Được thiện xảo về Đạo lộ, đấng Đạo Sư là cao quý tối thượng trong số các bậc điều ngự (người điều khiển xe).

 

775. Mahākāruṇiko satthā dhammaṃ desesi nāyako,
nimugge kāmapaṅkamhi samuddharati pāṇino.

Đấng Đại Bi, bậc Đạo Sư, vị Lãnh Đạo đã thuyết giảng Giáo Pháp. Ngài kéo lên những chúng sanh (đang) bị đắm chìm trong đầm lầy ái dục.

 

776. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā khattiyanandanā,
surūpā sadhanā cāsiṃ dayitā ca sirīmatī.

Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṃsavatī, là niềm hoan hỷ của dòng Sát-đế-lỵ. Và tôi đã có sắc đẹp tuyệt vời, có tài sản, được yêu quý, và có sự vẻ vang.

 

777. Ānandassa mahārañño dhītā paramasobhanā,
vemātu bhaginī cāpi padumuttaranāmino.

Là người con gái vô cùng xinh đẹp của vị đại vương Ānanda, và cũng là người em gái khác mẹ của vị (Phật) tên Padumuttara.

 

778. Rājakaññāhi sahitā sabbābharaṇabhūsitā,
upagamma mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ.

Được tháp tùng bởi các người con gái của đức vua, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, tôi đã đi đến đấng Đại Hùng và đã lắng nghe lời thuyết Pháp.

 

779. Tadā hi so lokagaru bhikkhuniṃ dibbacakkhukaṃ,
kittayaṃ parisāmajjhe aggaṭṭhāne ṭhapesi taṃ.

Chính vào khi ấy, bậc Thầy của thế gian ấy ở giữa các chúng đã tán dương vị tỳ khưu ni có thiên nhãn và đã thiết lập vị ni ấy vào vị thế tối thắng.

 

780. Suṇitvā tamahaṃ haṭṭhā dānaṃ datvāna satthuno,
pūjetvāna ca sambuddhaṃ dibbacakkhuṃ apatthayiṃ.

Sau khi nghe điều ấy, được mừng rỡ  tôi đã dâng vật thí đến bậc Đạo Sư. Và sau khi cúng dường đến bậc Toàn Giác, tôi đã ước nguyện về thiên nhãn.

 

781. Tato avoca maṃ satthā “nande lacchasi patthitaṃ,
padīpadhammadānānaṃ phalametaṃ sunicchitaṃ.

Do đó, bậc Đạo Sư đã nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ vui vẻ, con sẽ đạt được điều đã ước nguyện. Điều đã khéo được mong muốn này là quả báu của các việc cúng dường đèn và Giáo Pháp.

 

782. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

783. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
sakulā nāma nāmena hessasi satthusāvikā.”

(Người n này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người tha t Giáo Pháp ca v (Pht) y, là chánh thng, được to ra t Giáo Pháp, có tên là Sakulā.

 

784. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

785. Imamhi bhaddake kappe brahmabandhu mahāyaso,
kassapo nāma gottena uppajji vadataṃ varo.

Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.

 

786. Paribbājakinī āsiṃ tadā ’haṃ ekacārinī,
bhikkhāya vicaritvāna alabhiṃ telamattakaṃ.

Khi ấy, tôi đã là nữ du sĩ ngoại đạo có hạnh độc hành. Sau khi đi lang thang để khất thực tôi đã nhận được một số lượng dầu thắp.

 

787. Tena dīpaṃ padīpetvā upaṭṭhiṃ sabbasaṃvariṃ,
cetiyaṃ dipadaggassa vippasannena cetasā.

Sau khi thắp sáng ngọn đèn với số (dầu) đó, với tâm ý trong sạch tôi đã phục vụ ngôi bảo tháp của đấng Tối Thượng Nhân trọn cả đêm.

 

788. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

789. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa vāhasā,
pajjalanti mahādīpā tattha tattha gatāya me.

Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, ở chính tại các nơi ấy có các ngọn đèn lớn chiếu sáng khi tôi đi đến.

 

790. Tirokuḍḍaṃ tiroselaṃ samatiggayha pabbataṃ,
passām’ ahaṃ yadicchāmi dīpadānassidaṃ phalaṃ.

Nếu tôi muốn, tôi (có thể) nhìn thấy ngọn núi sau khi đã vượt lên xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá; điều này là quả báu của việc cúng dường đèn.

 

791. Visuddhanayanā homi yasasā ca jalām’ ahaṃ,
saddhāpaññāvatī ceva dīpadānassidaṃ phalaṃ.

Tôi có cặp mắt trong ngần, và tôi chói sáng với danh vọng, lại còn có đức tin và trí tuệ nữa; điều này là quả báu của việc cúng dường đèn.

 

792. Pacchime ca bhavedāni jātā vippakule ahaṃ,
pahūtadhanadhaññamhi mudite rājapūjite.

Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình Bà-la-môn có nhiều tài sản và lúa gạo, được hài lòng, được đức vua tôn trọng.

 

793. Ahuṃ sabbaṅgasampannā sabbābharaṇabhūsitā,
purappavese sugataṃ vātapāne ṭhitā ahaṃ.

Được phú cho toàn vẹn cơ thể, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, đứng ở cửa sổ tôi (đã nhìn thấy) đấng Thiện Thệ ở lối đi vào thành. 

 

794. Disvā jalantaṃ yasasā devamānusasakkataṃ,
anubyañjanasampannaṃ lakkhaṇehi vibhūsitaṃ.

Tôi đã nhìn thấy Ngài đang chói sáng với danh vọng, được trọng vọng bởi chư thiên và nhân loại, được hội đủ các tướng phụ, được điểm tô bằng những tướng chính.

 

795. Udaggacittā sumanā pabbajjaṃ samarocayiṃ,
na cireneva kālena arahattamapāpuṇiṃ.

Với tâm phấn chấn, với thiện ý, tôi đã xin xuất gia. Trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.

 

796. Iddhīsu ca vasī homi dibbāya sotadhātuyā,
paracittāni jānāmi satthusāsanakārikā.

Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.

 

797. Pubbe nivāsaṃ jānāmi dibbacakkhu visodhitaṃ,
khepetvā āsave sabbe visuddhāsiṃ sunimmalā.

Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.

 

798. Pariciṇṇo mahā satthā kataṃ buddhassa sāsanaṃ,
ohito garuko bhāro bhavanetti samūhatā.

Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.

 

799. Yassatthāya pabbajitā agārasmānagāriyaṃ,
so me attho anuppatto tibbasaṃyojanakkhayo.

Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào cuộc sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.

 

800. Tato mahākāruṇiko etadagge ṭhapesi maṃ,
“Dibbacakkhukīnaṃ aggā sakulā”ti naruttamo.

Do đó, đấng Đại Bi, bậc Tối Thượng Nhân đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng “Sakulā là vị ni đứng đầu trong các vị ni có thiên nhãn.”

 

801. Kilesā jhāpitā mayhaṃ bhavā sabbe samūhatā,
nāgīva bandhanaṃ chetvā viharāmi anāsavā.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.

 

802. Svāgataṃ vata me āsi buddhaseṭṭhassa santike,
tisso vijjā anuppattā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.

 

803. Paṭisambhidā catasso vimokkhāpi ca aṭṭhime,
chaḷabhiññā sacchikatā kataṃ buddhassa sāsanaṃ.

Tôi đã đắc chứng bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Itthaṃ sudaṃ Sakulā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tỳ khưu ni Sakulā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

 

Sakulātheriyāpadānaṃ catutthaṃ.

Ký sự về trưởng lão ni Sakulā là phần thứ tư.

--ooOoo--

25. Nandājanapadakalyāṇī apadānaṃ

25. Ký Sự về Nandā - Mỹ Nhân của Xứ Sở:

 

804. Padumuttaro nāma jino sabbadhammānapāragū,
ito satasahassamhi kappe uppajji nāyako.

Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.

 

805. Ovādako viññāpako kārako sabbapāṇinaṃ,
desanākusalo buddho tāresi janataṃ bahuṃ.

Là vị giáo giới, vị làm cho hiểu rõ, vị hành xử đối với tất cả chúng sanh, là thiện xảo trong việc chỉ dạy, đức Phật đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

806. Anukampako kāruṇiko hitesī sabbapāṇinaṃ,
sampatte titthiye sabbe pañcasīle patiṭṭhahi.

Là bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị Ẩn Sĩ hữu ích đối với tất cả chúng sanh, Ngài đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.

 

807. Evaṃ nirākulaṃ āsi suññakaṃ titthiyehi ca,
vicittaṃ arahantehi vasībhūtehi tādihi.

Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có được năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và không có các ngoại đạo.

 

808. Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ uggato so mahāmuni,
kañcanagghiyasaṅkāso battiṃsavaralakkhaṇo.

Bậc Đại Hiền Triết ấy có ba mươi hai quý tướng, cao năm mươi tám ratana (14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng.

 

809. Vassasatasahassāni āyu vijjati tāvade,
tāvatā tiṭṭhamāno so tāresi janataṃ bahuṃ.

Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.

 

810. Tadā ’haṃ haṃsavatiyaṃ jātā seṭṭhikule ahuṃ,
nānāratanapajjote mahāsukhasamappite.

Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṃsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.

 

811. Upetvā taṃ mahāvīraṃ assosiṃ dhammadesanaṃ,
amataṃ paramassādaṃ paramatthanivedakaṃ.

Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời thuyết giảng Giáo Pháp Bất Tử, có phẩm vị tối thắng, làm rõ về chân lý tuyệt đối.

 

812. Tadā nimantayitvāna sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ,
datvā tassa mahādānaṃ pasannā sehi pāṇihi.

Khi ấy, được tịnh tín tôi đã thỉnh mời đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng và đã cúng dường đại thí đến vị ấy bằng hai bàn tay của mình.

 

813. Jhāyinīnaṃ bhikkhunīnaṃ aggaṭṭhānaṃ apatthayiṃ,
nipacca sirasā vīraṃ sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.

Tôi đã quỳ xuống đê đầu đến bậc Anh Hùng đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, tôi đã ước nguyện vị thế tối thắng trong số các tỳ khưu ni chứng thiền.

 

814. Tadā adantadamako tilokasaraṇo pabhū,
vyākāsi narasaddūlo lacchase taṃ supatthitaṃ.

Khi ấy, bậc Điều Phục những ai chưa được điều phục, đấng Nương Nhờ của ba cõi, vị Chúa Tể, bậc Nhân Báo đã chú nguyện rằng: “Con sẽ đạt được điều đã khéo được ước nguyện ấy.

 

815. Satasahasse ito kappe okkākakulasambhavo,
gotamo nāma gottena satthā loke bhavissati.

Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.

 

816. Tassa dhammesu dāyādā orasā dhammanimmitā,
nandāti nāma nāmena hessasi satthusāvikā.”

(Người n này) sẽ trở thành nữ thinh văn của bậc Đạo Sư, là người tha t Giáo Pháp ca v (Pht) y, là chánh thng, được to ra t Giáo Pháp, có tên là Nandā.”

 

817. Taṃ sutvā muditā hutvā yāvajīvaṃ tadā jinaṃ,
mettacittā paricariṃ paccayehi vināyakaṃ.

Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.

 

818. Tena kammena sukatena cetanāpaṇidhīhi ca,
jahitvā mānusaṃ dehaṃ tāvatiṃsaṃ agacchahaṃ.

Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.

 

819. Tato cutā yāmamagaṃ tato ’haṃ tusitaṃ agaṃ,
tato ca nimmāṇaratiṃ vasavattipuraṃ tato.

Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.

 

820. Yattha yatthūpapajjāmi tassa kammassa vāhasā,
tattha tattheva rājānaṃ mahesittamakārayiṃ.

Do tác động của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.

&nb