|
Chương XXII
Đại Phẩm
(tiếp theo)
-ooOoo-
547. CHUYỆN ÐẠI VƯƠNG VESSANTARA
(Tiền thân Vessantara)
Phu-sa-tì, mỹ hậu huy hoàng...,
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú gần thành Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la-vệ) về một cơn mưa lớn.
Lúc bậc Ðạo Sư đang chuyển Pháp luân trên
đường dẫn đến thành Ràjagaha (Vương Xá),
nơi đó Ngài trú mùa
đông cùng Trưởng lão Udàyi (Ưu-đà-di)
dẫn đường, và
được hai mươi ngàn Thánh
đệ tử hầu cận, Ngài
đi vào thành Kapilavatthu. Ngay lập tức
các vương tử dòng Sàkya (Thích-ca) tụ tập lại
để đón vị trưởng tộc của họ.
Họ quan sát nơi cư trú của đức Thế Tôn và
bảo:
- Rừng Cây đa này thật là một nơi an
lạc xứng đáng với một vị Thích-ca.
Rồi họ làm đủ mọi vật dụng thích hợp để bảo
vệ nơi ấy chuẩn bị sẵn sàng nghênh đón
Ngài với những bó hoa thơm ngát trong tay. Trước hết họ
đưa các thiếu nhi nam nữ trong thành mặc
áo quần đẹp nhất, kế đó là các vương tôn
công chúa đến kính lễ đức Thế Tôn với hương hoa
thơm ngát và theo hầu đức Thế Tôn đến
tận rừng Cây đa, nơi đó đức Thế Tôn an tọa được hai mươi ngàn Thánh
đệ tử vây quanh bảo tọa dành cho Ngài.
Bấy giờ dòng họ Thích-ca là một bộ tộc kiêu mạn và cứng
đầu nghĩ thầm: "Nam tử Siddhattha trẻ tuổi hơn
ta, đó là em ta, cháu gọi ta bằng chú, bằng ông". Vì thế họ bảo các
vương tử trẻ tuổi:
- Các anh hãy kính lễ người ấy, còn chúng tôi chỉ muốn ngồi sau các anh.
Trong khi họ ngồi yên đó không muốn làm
lễ chào Ngài, đức Thế Tôn biết ý định của họ,
nghĩ thầm: "Thân tộc ta không kính lễ ta, được rồi, ta sẽ làm cho hội
chúng kính lễ". Do đó Ngài khởi lên một
định lực nhờ thần thông vụt lên không
trung và làm như thể phủi bụi trên chân Ngài lên
đầu họ, thực hiện một phép thần kỳ như Thần
thông Song hành dưới gốc cây xoài có cục u (Yamaka Patihariya: số 483
Tiền thân Sarabha-miga, tập V).
Vua cha thấy việc kỳ diệu này liền nói:
- Bạch Ngài, vào ngày Ðản sinh của Ngài, khi trẫm thấy chân Ngài
đặt lên đầu
Bà-la-môn Kèladevala đến kính lễ Ngài,
trẫm đã kính lễ Ngài,
đó là lần
đầu. Vào ngày Lễ Cày ruộng, khi Ngài ngự trên vương tọa dưới bóng cây
hồng đào, trẫm thấy bóng cây ấy không
lay động, trẫm cũng kính lễ dưới chân Ngài
và đó là lần thứ hai. Và bây giờ nữa,
trẫm thấy một phép mầu mà trẫm chưa từng thấy trước kia, nên trẫm lại kính
lễ chân Ngài: đây là lần thứ ba.
Nhưng khi vua cha đã kính lễ như vậy
thì không một vị Sàkya nào có thể ngồi yên và tự kiềm chế
được nữa, tất cả bọn họ đều kính lễ Ngài.
Sau khi đã làm cho cả thân tộc kính
lễ Ngài như vậy đức Thế Tôn từ trên
không hạ xuống ngồi trên chiếc bảo tọa đã
soạn sẵn. Khi đức Thế Tôn đã an tọa,
đám thân tộc của Ngài
đã được
sáng trí và cùng ngồi xuống với tâm an tịnh.
Lúc ấy một vầng mây lớn nổi lên và bùng ra thành một trận mưa lớn: mưa
màu hồng đổ trút xuống ầm ầm, những ai muốn ướt
đều được ướt sũng, còn ai không muốn thì chẳng có giọt nào rớt trên
mình. Mọi người thấy vậy đều rất kinh ngạc
trước phép mầu và đồng kêu to với
nhau:
- Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay! Hãy nhìn thần lực của chư Phật!
Cơn mưa lớn này đang trút xuống đám thân tộc
của Ngài!
Nghe vậy, đức Phật bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là
lần đầu tiên một trận mưa lớn trút xuống
đám thân tộc của Ta.
Và rồi theo lời thỉnh cầu của hội chúng, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
I. THÁI TỬ RA ÐỜI
Một thuở nọ, vị vua có tên Sivi ngự trị ở kinh thành Jetuttara, trong
vương quốc Sivi. Ngài có một vương tử là Sañjaya. Khi chàng
đến tuổi trưởng thành, vua cha kết duyên
chàng với công chúa Phusatì, con gái vua Madda, rồi giao vương quốc cho
chàng và phong Phusatì làm chánh hậu.
Mối liên hệ đời trước của nàng với
thế giới này như sau:
Cách đây chín mươi mốt kiếp, một bậc
Ðạo Sư ở thế gian có danh hiệu là Vipassi (Tỳ-bà-thi). Trong lúc Ngài an trú
tại Vườn nai Khema (Thái Hòa) gần thành Bandhumati, một vị vua gởi tặng vua
Bandhuma một chuỗi vàng trị giá một trăm ngàn
đồng tiền cùng khúc gỗ quý trầm hương
(chiên-đàn).
Bấy giờ vua ấy có hai con gái, và vì muốn tặng bảo vật cho hai con, vua
ban khúc gỗ trầm hương cho cô chị, và chuỗi vòng vàng cho cô em. Nhưng cả
hai cô đều không muốn dùng các tặng vật
này cho mình, và có ý định dâng chúng lên
bậc Ðạo Sư để tỏ lòng tôn kính, họ liền
tâu vua cha:
- Tâu phụ vương, chúng con muốn dâng gỗ trầm hương và chuỗi vàng này lên
đấng Thập Lực (Dasabala).
Vua cha thấp thuận việc này. Vì thế công chúa chị nghiền bột gỗ trầm
hương và đổ bột ấy vào một hộp bằng
vàng. Còn công chúa em bảo lấy chuỗi vàng làm thành một vòng vàng
đeo cổ và
đặt vào một hộp bằng vàng.
Sau đó hai nàng cùng
đi đến thảo am ẩn sĩ trong Vườn nai, cô chị
kính cẩn rảy bột trầm hương lên kim thân của
đấng Thập Lực, và rắc phần bột còn lại
trong nội thất của Ngài cùng cầu nguyện:
- Bạch Ngài, trong thời vị lai, tiện nữ ước mong làm mẹ một vị Phật như
Ngài.
Công chúa em kính cẩn đặt lên kim
thân của đấng Thập lực chuỗi vòng cổ
được làm từ vòng vàng ấy và phát nguyện:
- Bạch Ngài, tiện nữ ước mong chuỗi kim hoàn này không rời thân mình cho
đến ngày tiện nữ
đắc Thánh quả.
Và bậc Ðạo Sư đã ban các
điều nguyện ước ấy sau khi mạng chung, cả hai nàng
đều tái sinh vào thiên giới. Cô chị từ
thiên giới đến thế giới loài người rồi
trở lại thiên giới, sau chín mươi mốt kiếp, nàng
đã trở thành vương hậu Màyà, mẹ của
đức Phật.
Còn cô em cũng tái sinh liên tiếp như vậy, vào thời
đấng Thập Lực Kasspa (Ca-diếp), nàng trở
thành con gái vua Kiki. Lúc mới sinh đã
có hình chiếc vòng trên cổ và vai nàng, dung sắc diễm lệ như tranh vẽ và
được đặt tên Uracchadà.
Khi nàng lên mười sáu tuổi, nàng nghe lời thuyết Pháp của bậc Ðạo Sư, và
đắc Sơ quả Dự lưu, và cùng ngày
đó nàng đắc
Thánh quả (A-la-hán) rồi thọ giới xuất gia và nhập Niết-bàn vô dư y.
Bấy giờ vua Kiki có bảy công chúa tên là:
Samanì, Samanà, Thánh nữ Tỷ-kheo-ni Guttà,
Tỷ-kheo-ni Dàsikà, Dhammà và Sudhammà.
Và nàng thứ bảy là Sanghadàsì.
Vào thời đức Phật Gotama xuất hiện bảy chị em này:
Khemà, Uppalavannà, thứ ba là Patàcàrà,
Gotamì, Dhammadinnà, thứ sáu là Mahà-màyà.
Trong đám chị em này thứ bảy là Visàkhà.
Ðây là các nữ Đại đệ tử của Ngài.
Bấy giờ, trong số này, nàng Phusatì trở thành Sudhammà, chuyên làm thiện
sự và bố thí. Và nhờ phước báo do cúng dâng gỗ trầm hương lên Ðức Phật
Vipassi, thân nàng như được rảy trầm hương
thượng hạng. Sau đó nàng tái sinh qua lại giữa thiên giới và nhân
giới, cuối cùng nàng trở thành chánh hậu của Thiên chủ Sakka (Ðế Thích).
Vào thời số phần của nàng ở đấy đã
mãn, năm tướng suy theo lệ thường hiện ra. Thiên
chủ Sakka biết thọ mạng của nàng sắp tận, nên tiễn
đưa nàng vô cùng trọng thể vào Thiên lạc
Viên Nandana. Trong khi nàng ngự trên bảo tọa
được trang hoàng lộng lẫy, ngài ngự bên cạnh nàng và bảo:
- Này ái hậu Phusatì, trẫm ban nàng Mười
điều ước hãy chọn đi.
Cùng với những lời trên, ngài ngâm vần kệ
đầu trong Tiền thân Vessantara vĩ đại này với gần ngàn bài kệ:
1. Phu-sa-tì, mỹ hậu huy hoàng,
Mười ước nguyện nay trẫm tặng nàng,
Hãy chọn điều gì nàng nhận thấy
Ðược nàng quý báu giữa trần gian.
Như vậy nàng đã
được an trú trên thiên giới theo lời
thuyết giáo trong Ðại Tiền thân Vessantara.
Nhưng nàng không biết cảnh giới sắp tái sinh của mình nên nàng hốt hoảng
ngâm vần kệ thứ hai:
2. Vạn tuế Sak-ka, đấng Ngọc hoàng,
Tội gì thần thiếp lỡ tay làm
Khiến ngài đày thiếp xa thiên giới
Như gió thổi cây nọ nát tan?
Thiên chủ nhận thấy vẻ thất vọng của nàng, liền ngâm hai vần kệ:
3. Nàng luôn được sủng ái từ xưa,
Tội lỗi nàng đâu có tạo ra?
Trẫm bảo phước trời nàng đã tận,
Bây giờ đến lúc phải chia xa.
4. Tống biệt nàng nay đã
đến thì,
Tử thần đang đến phút phân kỳ,
Trẫm ban ái hậu Mười điều ước,
Lâm mạng chung thời, hãy chọn đi.
Nghe những lời Thiên chủ nói, nàng tin mình sắp phải tận số, nên nàng
chọn các ước nguyện này:
5. Thiên chủ Sak-ka, đấng Thượng hoàng,
Ban Mười điều ước, thiếp tri ân:
Mong rằng thần thiếp đời sau sẽ
Ở xứ Si-vi được trú thân.
6. Ðôi mắt huyền mơ tựa mắt nai,
Như nhung đen nháy, cặp mày ngài,
Phu-sa-tì ấy là tên thiếp,
Thánh thượng, thiếp mong ước nguyện này.
7. Thiếp mong có được một hoàng nam,
Vua chúa kiêng oai, tiếng lẫy lừng,
Hòa nhã, nhân từ, tâm rộng lượng,
Lắng tai nghe mọi tiếng cầu ân.
8. Trong khoảng thời gian thiếp thọ thai,
Ước mong giữ trọn tấm hình hài,
Toàn thân thiếp được luôn kiều diễm
Như thể cành cung uốn mảnh mai.
9. Ðế Thích, thiếp mong ngực gợi tình,
Xin được nhuốm bạc mái đầu xanh,
Tấm thân bồ liễu luôn hoàn hảo,
Mong cứu tù nhân thoát tử hình.
10. Giữa tiếng hạc rền, khổng tước vang,
Cung nhân hầu cận đẹp quanh nàng,
Thi sĩ ca nhân đồng tán tụng,
Khăn quàng tung vẫy giữa không gian.
11. Khi ngõ nhẹ nhàng cánh cửa hoa
Nô tỳ cất tiếng lớn trình thưa:
"Vạn tuế Ðại vương! Giờ ngự thiện!"
Thiếp mong làm chánh hậu hoàng gia!
Thiên chủ Sakka đáp:
12. Mười ước nguyện kia, hỡi nữ hoàng,
Phải biết rằng ta đã tặng nàng,
Mỹ nương đến xứ Si-vi nọ
Mười ước nguyện kia sẽ thập toàn.
13. Phán vầy chúa tể các Thiên thần,
Phu tướng Su-ja, đại đế vương,
Ðược gọi Và-sa-va mỹ hiệu,
Hân hoan ban nguyện ước cho nàng.
Khi đã chọn xong Mười ước nguyện như
vậy, nàng từ giã thiên giới và nhập vào mẫu thai hoàng hậu của vua Madda.
Lúc nàng ra đời, thân thể nàng tỏa mùi
thơm như được rảy phấn trầm hương, nên
nàng được đặt tên Phusatì (được
rảy hương). Nàng lớn lên giữa đám cung
tần đông đảo cho đến năm mười sáu tuổi dung sắc nàng vượt hẳn lên tất
cả.
Lúc bấy giờ vương tử Sañjaya, con vua Sivi,
được phong vương với chiếc lọng trắng, công chúa này
được phong làm chánh hậu
đứng đầu mười sáu ngàn cung phi; do vậy
có chuyện kể:
14. Kế đó nàng công chúa tái sinh
Phu-sa-tì được rước về thành
Je-tut-ta ấy là tên gọi,
Cùng với Sañ-ja kết mối tình.
Vua Sañjaya vô cùng sủng ái nàng. Bấy giờ Thiên chủ Sakka nhớ lại thấy
chín điều ước nguyện ngài ban cho
Phusatì đã trọn vẹn, ngài nghĩ thầm:
"Chỉ còn một điều ước chưa trọn đó là
một thiện nam tử. Ta sẽ ban nguyện ước này cho nàng."
Thời ấy bậc Ðại Sĩ đang ở trên cõi
trời Ba mươi ba, và thọ mạng ngài đã
tận; nhận thấy điều này, Thiên chủ
đến gần ngài và bảo:
- Thưa Tôn giả, ngài phải sinh vào thế giới loài người, ngài phải nhập
mẫu thai chánh hậu Phusatì của vua Sivi, xin
đừng chậm trễ.
Cùng với những lời này yêu cầu bậc Ðại Sĩ chấp thuận và sáu mươi ngàn vị
Thiên tử sắp được tái sinh, Thiên chủ
trở về cung của ngài.
Bậc Ðại Sĩ giáng trần và tái sinh tại đó, cùng
sáu mươi ngàn thiên tử tái sinh vào gia đình
của sáu mươi ngàn triều thần.
Khi bậc Ðại Sĩ nhập mẫu thai, hoàng hậu Phusatì biết mình
đã có thai, liền ước nguyện xây sáu bố
thí đường, mỗi nhà ở một trong bốn cửa
thành, một nhà ở giữa kinh thành và một nhà ở ngay cửa cung của nàng. Mỗi
ngày nàng phát sáu trăm ngàn
đồng tiền. Vua biết được việc làm ấy của
nàng liền hỏi ý các vị xem tướng số, họ đáp:
- Tâu Ðại vương, chánh hậu đang mang thai
một bậc chuyên tâm bố thí, ngài sẽ không bao giờ thỏa mãn với việc bố
thí cả.
Nghe vậy vua hoan hỷ và thực hành hạnh bố thí như trên.
Từ thời Bồ-tát nhập mẫu thai, phước lộc của nhà vua có thể nói là vô cùng
tận; nhờ ảnh hưởng lòng nhân từ của vua lan rộng khắp nơi, các quốc vương ở
toàn cõi Diêm-phù-đề đều dâng ngài cống
vật.
Bấy giờ lúc chánh hậu mang thai, nàng vẫn ở chung cùng
đám thị nữ hậu cận nàng. Sau mười tháng
tròn vẹn, nàng muốn đi thăm kinh thành.
Nàng tâu trình với vua, ngài truyền kinh thành
được trang hoàng như kinh thành chư Thiên rồi
đưa hoàng hậu ngự lên vương xa sang
trọng và cử hành đám rước quanh kinh thành
về phía hữu. Khi xe đến giữa khu phố Vessa
(Vệ-xá: thương nhân), nàng thấy giờ lâm bồn chợt
đến. Thị nữ liền trình vua và ngài
truyền làm ngay một phòng bảo sinh tại đó và
đưa nàng
đến nơi, nàng liền sinh hạ một nam tử và vì thế có chuyện kể:
15. Trong lòng mười tháng mẹ mang con,
Ðám rước ngày kia khắp phố phường,
Khi đến khu dân cư Vệ-xá,
Vì con, mẫu hậu phải lâm bồn.
Bậc Ðại Sĩ từ lòng mẹ sinh ra không bị cấu uế, mở lớn mắt và một lát
đưa tay cho mẹ, ngài nói:
- Thưa mẫu hậu, con muốn bố thí, có gì không?
Bà mẹ đáp:
- Này vương nhi, con hãy bố thí như ý.
Rồi bà đặt túi tiền một ngàn
đồng vào bàn tay mở rộng của con.
Có ba lần bậc Ðại Sĩ nói ngay khi giáng sinh: Ðó là trong Tiền thân
Ummagga, trong Tiền thân này và trong đời cuối
cùng của ngài.
Vào ngày lễ đặt tên, vì ngài sinh ra
ở phố Vessa, ngài được đặt tên
Vessantara, do đó có chuyện kể:
16. Tên ta chẳng phía mẹ đưa ra,
Cũng chẳng phát từ quý tộc cha,
Vì được sinh trên
đường Vệ-xá,
Nên tên ta gọi Ves-san-ta.
Vào đúng ngày ngài ra
đời, một con voi cái sinh được một voi con,
được xem là có điềm lành, toàn
thân màu trắng và được đặt vào chuồng
nhà vua. Vì con voi này ra đời đáp ứng một nhu
cầu của bậc Ðại Sĩ, nó được đặt tên
Paccaya (Phương tiện).
Vua cha ban ngài hai trăm bốn mươi nhũ mẫu
không quá cao cũng không quá thấp, không bệnh tật gì và có sữa ngọt.
Ngài cũng ban các nhũ mẫu cho sáu mươi ngàn hài nhi kia, vì thế vương tử lớn
lên giữa đám sáu mươi ngàn ấu nhi hầu hạ
quanh mình.
Vua cha truyền làm cho vương tử một chiếc vòng
đeo cổ trị giá một trăm ngàn
đồng tiền rồi đem tặng con. Nhưng khi vừa lên
bốn lên năm, ngài
đã đem nó
cho các nhũ mẫu và khi họ muốn đưa trả
nó lại, ngài không muốn nhận nó. Họ tâu trình vua, ngài phán:
- Vật gì vương tử đã ban
đều xứng đáng được ban cả, dù
đó là tặng vật dành cho một vị
Bà-la-môn.
Và vua truyền làm chiếc vòng cổ khác. Nhưng trong thời thơ ấu, vương tử
vẫn đem vòng ấy cho các nhũ mẫu cả
đến chín lần như vậy.
Khi ngài lên tám, trong lúc nằm trên vương sàng, vương tử suy nghĩ: "Tất
cả các vật ta cho đều có từ bên ngoài.
Ðiều này không làm ta hài lòng. Ta muốn cho cái gì của chính thân ta. Nếu có
người xin quả tim ta, ta sẽ cắt lồng ngực và xé tim ra cho. Nếu ai xin
đôi mắt, ta sẽ móc mắt ra cho. Nếu ai muốn xin
thịt, ta sẽ lóc hết thịt trên thân ta và cho họ."
Ngài suy nghĩ như vậy với tất cả tâm hồn lẫn thể xác mình; vì thế quả
đất này với bề rộng bốn mươi ngàn tỷ
triệu dặm và hai trăm ngàn dặm chiều
sâu, rúng động ầm ầm như một con voi khổng lồ
điên loạn. Ngọn núi Sineru (Tu-di) chúa tể núi non, cúi rạp xuống như
một cây con trong dòng nước nóng và dường như nhảy múa rồi
đứng nghiêng mình về phía kinh thành
Jettutara. Giữa lúc quả đất rúng động, bầu trời
sấm sét vang dội và đổ mưa, tia chớp
sáng lòa, đại dương sôi sục lên,
Sakka Thiên chủ vỗ tay, Ðại Phạm thiên tán
đồng, toàn thể chấn động lên
đến Phạm Thiên giới, vì thế có chuyện
kể:
17. Khi ta còn trẻ, tuổi còn thơ
Chỉ khoảng chừng lên tám tuổi dư,
Trên thượng lầu ta trong nội điện,
Nhân từ, bố thí vẫn suy tư:
18. Nếu người nào đến hỏi xin cho
Máu, thịt, tim và con mắt ta,
Ta sẽ cho thân, tim, máu, mắt,
Sẵn sàng ta cất tiếng kêu to.
19. Trong khi ta nghĩ ngợi trầm ngâm
Như vậy cùng toàn thể bản thân,
Quả đất vững bền kia rúng động,
Chuyển rung cùng thảo mộc, sơn lâm.
*
II. BỐ THÍ VOI BÁU
Vào năm mười sáu tuổi, Bồ-tát đã tinh
thông mọi môn học thuật. Lúc ấy phụ vương muốn cho ngài lên ngôi, liền hỏi ý
kiến hoàng hậu. Từ hoàng gia Madda tiến dâng công chúa Maddì, em họ ngoại
của ngài cùng mười sáu ngàn thị nữ, vua phong nàng làm chánh hậu và cử hành
lễ quán đảnh (rảy nước) phong vương cho ngài.
Từ lúc lên ngôi, ngài vẫn thực hành đại bố thí,
mỗi ngày phân phát sáu trăm ngàn
đồng tiền.
Sau đó chánh hậu Maddì sinh một vương
tử được đặt vào một chiếc võng bằng
vàng, vì thế vương tộc đặt tên vương tử
Jàli (chiếc võng). Vào thời vương tử chập chững biết
đi, chánh hậu lại sinh một công chúa, được đặt
vào một tấm da đen nên họ gọi tên
cô là Kanhàjinà.
Mỗi tháng bậc Ðại Sĩ ngự đến sáu bố thí
đường sáu lần trên con voi lộng lẫy của ngài.
Lúc bấy giờ quốc độ Kàlinga có hạn
hán, lúa không mọc, nạn đói tràn lan,
dân chúng không sống nổi sinh trộm cướp. Bị cơn túng quẩn bức bách, dân
chúng tụ tập trước sân chầu và phỉ báng vua. Nghe vậy, vua hỏi:
- Có chuyện gì vậy các con?
Họ trình vua. Ngài đáp:
- Ðược rồi, các con. Ta sẽ làm mưa xuống:
Rồi vua bảo họ ra về. Ngài phát nguyện sống
đức hạnh và giữ ngày trai giới (Bố tát), nhưng vẫn không thể làm mưa
xuống. Vì vậy vua triệu tập dân chúng lại và bảo họ:
- Ta đã phát nguyện sống
đức hạnh và giữ bảy ngày trai giới, tuy
nhiên vẫn không làm mưa rơi. Vậy phải làm gì bây giờ?
Họ đáp:
- Tâu Chúa thượng, nếu ngài không thể làm mưa rơi, thì có
đại vương Vessantara ở kinh thành
Jettuttara thái tử của vua Sañjaya, chuyên tâm bố thí. Ngài có một con voi
lộng lẫy toàn trắng. Hễ nơi nào ngài ngự đến,
mưa liền rơi xuống. Chúa thượng hãy phái các Bà-la-môn
đến xin con voi ấy và
đem nó về đây.
Vua chấp thuận, triệu các vị Bà-la-môn đến
chọn tám người trong số đó và ban lương thực cho họ
đi đường và bảo:
- Các khanh hãy đi tìm voi báu của
vua Vessantara.
Vì sứ mạng này, họ lên đường đến Jetuttara.
Tại bố thí đường, họ được tiếp đãi ân cần. Rồi rảy bụi bặm và phết
bùn dơ khắp thân mình, vào ngày trăng rằm, họ
đi xin voi báu của vua. Từ sáng sớm, vua định đi thăm bố thí đường, nên
đã tắm rửa bằng mười sáu bình nước hoa
thơm và dùng điểm tâm, rồi ngự lên lưng
bảo tượng được trang hoàng rực rỡ tiến
về cổng phía Ðông. Các Bà-la-môn không tìm được
cơ hội ở đó, liền đi về cổng nam, đứng trên một mô
đất cao nhìn vua bố thí ở cổng Ðông. Khi
ngài đến cổng Nam, họ đưa tay ra và kêu
lên:
- Ðại vương Vessantara vạn tuế!
Khi thấy các Bà-la-môn, bậc Ðại Sĩ thúc voi về phía họ
đứng và ngâm vần kệ:
20. Các đạo sĩ kia, rậm tóc, lông,
Răng dơ, đầu phủ bụi màu hồng,
Cớ sao giơ cả hai tay nọ,
Gì đó các người vẫn ước mong?
Nghe vậy, các Bà-la-môn đáp:
21. Bảo vật chúng thần vẫn khát khao
Cứu toàn dân tộc ấy, muôn tâu,
Con voi tối thượng phò nguy khốn,
Ngà trắng dài như một chiếc sào.
Bậc Ðại Sĩ nghe vậy, nghĩ thầm: "Ta đang
muốn bố thí bất cứ vật gì của chính ta, từ
đầu trở xuống, thế mà họ
đòi một vật ở ngoài thân ta. Thôi ta sẽ
cho họ thỏa nguyện". Và từ lưng voi, ngài đáp:
22. Bố thí, ta không hề chối từ
Vật kia Ðạo sĩ muốn ta cho,
Cao sang bảo vật phò vua ngự,
Dũng mãnh con voi có bộ ngà.
Và ngài chấp thuận:
23. Vua, vị cứu tinh dân tộc ngài,
Nhẹ nhàng bước xuống khỏi lưng voi,
Hy sinh bố thí, đầy hoan hỷ
Cho đám La-môn vật họ đòi.
Các vật trang hoàng bốn chân voi trị giá bốn trăm
ngàn đồng, các vật hai bên hông
trị giá hai trăm ngàn, tấm vải che dưới
bụng trị giá một trăm ngàn, trên lưng là
những tấm lưới đầy ngọc vàng, châu báu,
ba tấm mạng trị giá ba trăm ngàn, hai
tấm trên hai lỗ tai trị giá hai trăm ngàn,
trên lưng có tấm thảm trị giá một trăm ngàn,
món trang hoàng trên mắt trị giá một trăm ngàn,
ba tấm phủ đầu trị giá ba trăm ngàn, các
vật nhỏ trang hoàng lỗ tai trị giá hai trăm ngàn,
các vật trang hoàng đôi ngà trị giá hai
trăm ngàn, các món trang hoàng biểu hiện
điềm lành trên vòi trị giá một trăm
ngàn, bảo vật trên trị giá một trăm ngàn,
không kể các món trang hoàng vô giá trên thân giá hai trăm
hai mươi vạn đồng, máng thức ăn trị giá một trăm ngàn
đồng, tất cả lên
đến hai trăm bốn mươi vạn đồng.
Hơn nữa, các thứ châu ngọc lớn nhỏ trên tấm thảm, trong chuỗi
đeo cổ, châu báu trong chiếc gậy thúc, châu báu
trong chiếc vòng quanh cổ, châu báu trên mắt voi, tất cả các món này
đều vô giá, con voi cũng vô giá, hợp lại thành
thất bảo vô giá. Tất cả các vật này ngài đều bố
thí cho các Bà-la-môn. Ngoài ra còn có năm
trăm quân hầu cùng đám quản tượng và
quét chuồng voi.
Một cuộc tài thí lớn như vậy khiến quả đất
rúng động cùng với các điềm hy hữu như đã
kể trên.
*
Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo Sư ngâm kệ:
24. Lúc ấy khắp nơi thật hãi hùng
Người người cảm thấy rợn da lông,
Khi ngài bố thí con voi báu
Quả đất kinh hoàng phải chuyển rung.
25. Lúc ấy khắp nơi thật hãi hùng,
Người người cảm thấy rợn da lông,
Khi ngài bố thí con voi báu
Tất cả kinh thành phải chuyển rung.
26. Tiếng kêu gào thét thật kinh hoàng
Toàn thể kinh thành bỗng dậy vang:
Si-vi chúa tể nuôi dân chúng
Cho các La-môn đại tượng vương.
*
Cả kinh thành Jetuttara đều rúng động.
Chuyện kể rằng các Bà-la-môn ở cổng phía Nam nhận
được voi báu xong liền cỡi lưng voi chen lấn
trong đám người đông như thác lũ, đi qua giữa kinh thành.
Ðám dân chúng nhìn thấy họ, liền la lớn:
- Này các Bà-la-môn ngất ngưởng trên lưng voi, tại sao các ông lấy voi
của nước ta?
Bọn họ đáp:
- Ðại vương Vessantara đã ban voi cho
chúng ta. Còn các người là ai?
Bộ điệu họ hống hách với quần chúng như vậy,
rồi họ băng qua kinh thành và ra khỏi cổng phía Bắc nhờ sự hỗ trợ của
chư Thần.
Dân chúng kinh thành phẫn nộ với Bồ-tát cất tiếng trách móc ầm ĩ.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
27. Tiếng thét lớn kia cứ vọng vang
Tai nghe như vậy thật kinh hoàng
Khi vua bố thí con voi báu,
Quả đất hãi hùng phải chuyển rung.
28. Tiếng hét lớn kia cứ vọng vang
Tai nghe như vậy thật kinh hoàng,
Khi vua bố thí con voi báu
Dân chúng kinh thành thảy chuyển rung.
29. Tiếng thét lớn kia cứ vọng vang
Toàn dân đều khủng khiếp bàng hoàng:
Si-vi Chúa thượng nuôi dân chúng
Ðem bố thí luôn đại tượng vương!
*
Tất cả dân chúng kinh thành rúng động trong
lòng vì đại sự bố thí này, liền
đến trình vua cha.
Do đó có chuyện kể:
30. Vương tứ, La-môn, Vệ-xá, Ug-ga,
Quản tượng, bộ binh, kỵ mã, quản xa,
31. Ðiền chủ, toàn dân Si-vi vội đến,
Thấy tượng vương đi, tìm vua yết kiến:
32. - Quốc độ suy tàn rồi, tấu Ðại
vương,
Sao Ves-san-ta, Thái tử vinh quang,
Bố thí tượng vương mọi người quý trọng?
33. Voi cứu tinh, ngà như sào, bạch tượng,
Biết lập chiến công trên mọi đấu trường,
34. Với quạt đuôi trâu rừng, ngọc trang hoàng,
Ðã dẫm nát tan mọi quân cừu địch,
Hung hãn, ngà dài, toàn thân trắng bạch
Như tuyết trên đỉnh núi Ke-là-sa,
35. Với cân đai, lọng trắng xứng vương gia,
Cùng quản tượng và đám quân hầu cận,
Bảo vật này, ngài đã
đem ban tặng.
Sau đó, dân chúng còn nói thêm:
36. Ban y phục, lửa, xe, thức uống ăn,
Là cúng dường xứng với Bà-la-môn.
37. Tâu Ðại vương, bạn của toàn dân chúng,
Xin cho biết sao xảy ra hành động
Bởi vương nhi là dòng dõi vương gia,
Chính người là Thái tử Ves-san-ta?
38. Lệnh dân Si-vi, nếu ngài từ chối,
Các ngài sẽ bị toàn dân chống đối.
Nghe vậy, vua cha nghi ngờ họ muốn giết Vessantara, nên ngài phán:
39-40. Vâng, ta chẳng màng quốc độ, ngai vàng,
Ta quyết không đày trẻ khỏi quê hương,
Thái tử ta chẳng chút nào lầm lỗi,
Ta cũng không muốn vâng lời dân nói,
Vì con ta dòng chính thống là chàng.
41-42. Không, ta chẳng màng quốc độ, ngai vàng,
Ta quyết không đày trẻ khỏi quê hương,
Thái tử ta chẳng có gì lầm lỗi,
Ta cũng chẳng muốn vâng lời dân nói,
Vì con ta, đích thực chính là chàng.
43-44. Không, ta quyết không làm hại hoàng nam,
Vì Thái tử thật vô cùng cao cả.
Việc ấy đối với ta đầy nhục nhã,
Nó sẽ gây nhiều khổ não cho ta:
Làm sao ta cầm kiếm giết Ves-sa?
Dân chúng Si-vi đáp:
45. Người không xứng dù bất kỳ hình phạt,
Dù kiếm, đao hay phải vào ngục thất,
Song hãy đuổi người ra khỏi giang sơn,
Ðến đỉnh núi Vam-ka để náu nương.
Vua phán:
46. Hãy xem đây ý nguyền toàn dân
chúng
Và chính ta không thể nào phủ nhận,
Song cho chàng hạnh phúc một đêm thôi
Trước khi chàng phải cất bước xa rời.
47. Sau khoảnh khắc của đêm nay vừa mãn,
Khi ngày mai bình minh vừa ló dạng,
Cả toàn dân hãy đến đuổi chàng
đi.
Dân chúng đồng ý lời vua đề nghị chỉ một đêm
thôi. Sau đó, vua bảo họ lùi về và nghĩ
đến việc gửi thông điệp cho con, ngài
giao trọng trách cho một sứ giả, người này liền
đi đến cung của Thái tử Vessantara và trình mọi việc
đã xảy ra.
*
III. THÁI TỬ BỊ ÐÀY LÊN NÚI VAMKA
Các vần kệ sau đây giải thích việc này:
48. - Ngươi hãy đi nhanh và bảo Vương
nhi
Lời ta nhắn thần dân đầy căm phẫn,
Và tất cả đều đồng lòng chấp
thuận,
49-50. Ug-ga, vương tử, Vệ-xá, La-môn,
Quản tượng, quản xa, lính bộ, vệ quân,
Tất cả dân thôn quê cùng thành phố
Ðã cùng nhau kéo về đây rầm rộ,
51. Sau khoảng thời gian chỉ một đêm
nay,
Khi bình minh vừa ló dạng ngày mai,
Toàn dân chúng sẽ cùng nhau tụ họp,
Và sẽ đuổi Vương nhi ra khỏi nước.
52. Sứ giả này được lệnh chúa Si-vi,
Liền vội vàng đem sứ mạng ra đi,
Cởi con voi có mang đầy gươm giáo,
Ngát dầu thơm và rỡ ràng xiêm áo,
53. Tẩm ướt đầu, vòng ngọc mỗi bên tai,
Gã lên đường đến thành thị tuyệt vời,
Nơi Thái tử Ves-san-ta-ra ngự.
54. Gã nhìn ngắm hạnh phúc sao Vương tử
Cư trú trong lãnh thổ thật bình yên
Như Và-sa-va, chúa tể chư Thiên,
Chung quanh ngài quần thần đang hầu hạ.
55. Gã đến nơi thật nhanh chân vội vã,
Và đến bên Thái tử, gã thưa trình:
- Tâu Ðại vương, tin mang đến chẳng lành,
Xin ngài chớ vì hạ thần phẫn nộ.
56-57. Kính lễ ngài với bao hàng lệ đổ,
Gã thưa trình lên với đấng vương quân:
- Với hạ thần, ngài là bậc chủ nhân,
Và ngài đã ban hạ thần tất cả,
Nhưng giờ đây thần phải tâu ngài rõ:
Tin chẳng lành, xin Chúa thượng bình tâm.
58. Dân thị thành cùng tất cả toàn dân
Ðồng một lòng, nổi lên cơn thịnh nộ,
Ug-ga, Vệ-xá, La-môn, vương tử,
59. Quản tượng, quản xa, vệ sĩ, bộ binh,
Dân làng quê cùng dân chúng thị thành
Nay rầm rộ kéo về đây đồng loạt,
60. Sau khoảnh khắc một đêm nay thấm thoắt,
Khi bình minh vừa đến rạng ngày mai
Ðã quyết lòng đến từng đám đông người
Và sẽ đuổi ngài đi xa xứ sở.
Bậc Ðại Sĩ nói:
61. Sao với ta, thần dân đang phẫn nộ?
Vì ta không thấy phạm lỗi lầm chi,
Này bạn hiền, hãy nói thử ta nghe,
Sao dân chúng muốn đuổi ta xa xứ?
Sứ giả đáp:
62-63. Ug-ga, Ðạo Sĩ, quản xa, Vương tử,
Quản tượng, vệ quân, Vệ-xá, bộ binh
Kéo về kinh và nổi trận lôi đình
Về việc ngài đã
đem cho báu vật,
Cho nên định đưa ngài ra tống
xuất.
Nghe vậy, bậc Ðại Sĩ đầy hân hoan đáp:
64. Chính mắt và tim ta cũng muốn cho,
Sao chẳng cho gì không phải của ta,
Hoặc vàng ròng, hoặc kho tàng, đá quý,
Hoặc ngọc trai hay bảo châu tuyệt mỹ?
65. Nếu có người nào đi đến hỏi ta
Ta sẽ cho luôn cả tứ chi mà
Lòng chẳng ngập ngừng dù trong phút chốc,
Trong phát ban chính là niềm hoan lạc.
66. Nay thần dân xin cứ đuổi ta ra,
Nay thần dân xin hãy cứ giết ta,
Hoặc cứ chặt thân ta thành bảy khúc,
Song bố thí, ta vẫn còn tiếp tục.
Khi nghe vậy, sứ giả lại nói lên, không phải thông
điệp của vua cha hay của thần dân, mà
chính là lệnh phát xuất từ tâm của gã:
67-68. Ðây là ý nguyền của dân chúng Si-vi,
Họ bảo thần đến nói Chúa công nghe,
Ở bên đồi À-rañ-ra ấy
Có dòng suối Kon-ti-mà-rà chảy,
Ðến miền kia, Chúa thượng hãy đăng trình,
Nơi kẻ lưu đày vẫn phải du hành.
Tương truyền gã nói điều này theo gợi
ý của một vị thần. Nghe vậy, Bồ-tát đáp:
- Tốt lắm, ta sẽ đi theo con đường mà
những kẻ phạm tội phải đi. Nhưng dân chúng
không đuổi ta vì một tội nào cả, mà họ
đuổi ta vì sự bố thí voi báu. Do vậy, ta muốn làm Lễ
đại bố thí bảy trăm món nữa, và ta xin
dân chúng gia hạn cho ta một ngày vì việc ấy. Ngày mai ta sẽ bố thí và ngày
kế ta sẽ đi.
69. Vậy ta sẽ đi cùng con
đường ấy
Như những kẻ xưa nay làm việc quấy,
Nhưng trước tiên để bố thí cúng dường,
Ta mong dân cho phép một ngày trường.
- Tốt lắm - Vị sứ giả đáp - Thần sẽ trình
việc này với dân chúng.
Khi người ấy đi rồi, bậc Ðại Sĩ triệu
một tùy tướng của ngài đến và bảo:
- Ngày mai ta sẽ làm lễ bố thí gọi là Lễ bố thí bảy trăm
món. Khanh hãy sắp đặt sẵn sàng
bảy trăm voi, cùng bảy trăm
ngựa, xe, con gái, bò cái, nam nô, nữ tỳ và
đủ mọi thức ăn uống ngay cả rượu nồng, đủ mọi
vật xứng đáng đem bố thí.
Như vậy, sau khi đã chuẩn bị Ðại lễ
bố thí bảy trăm món, ngài bảo quần thần
lui về. Rồi một mình ngài đi đến cung thất
vương hậu Maddì, tại đó, trong lúc ngồi
trên vương tọa, ngài bảo nàng.
*
Bậc Ðạo Sư miêu tả việc ấy như sau:
70. Như vậy cùng với Mad-dì vương hậu,
Tuyệt thế công nương này, vua phán bảo:
- Những thứ gì ta đã tặng cho nàng,
Các đồ dùng, lúa gạo, hãy canh phòng,
71. Hoặc vàng, ngọc quý cùng nhiều kho báu,
Hồi môn vương phụ, tìm nơi chôn giấu.
72. Rồi Mad-dì đã
đáp lại quân vương,
Nàng chính là vị tuyệt thế công nương:
- Thiếp sẽ kiếm nơi đâu, tâu Chúa thượng,
Xin cho biết chỗ nào chôn giấu chúng?
Vua Vessantara đáp:
73. Hãy đem phân phát của cải kho vàng
Tương xứng với điều lợi ích cho nàng,
Không nơi nào an toàn hơn nơi đó,
Chính điều này ta vẫn thường biết rõ.
Nàng chấp thuận và ngài còn khuyên giáo nàng thêm theo hướng này:
74. Hỡi Mad-dì, hãy yêu quý con nàng,
Cùng phụ vương, mẫu hậu của phu quân,
Ðối với người sẽ là chồng nàng đó,
Nàng hãy sẵn sàng hết lòng phục vụ.
75. Còn nếu không ai muốn hỏi cưới nàng
Sau khi ta đã khuất bóng trên
đường,
Hãy tìm một phu quân cho nàng nữa,
Nhưng nàng đừng sống cô đơn tàn úa.
Lức ấy Maddì nghĩ thầm: "Ta tự hỏi tại sao Vessantara lại nói một
điều như vậy với ta".
Và nàng hỏi ngài:
- Tâu Chúa thượng, tại sao ngài nói với thần thiếp những
điều không nên nói?
Bậc Ðại Sĩ đáp:
- Này vương hậu, dân chúng Si-vi phẫn nộ vì ta
đã bố thí con voi báu, nên muốn
đuổi ta đi ra khỏi đất nước. Vậy ngày
mai ta sẽ làm Lễ bố thí bảy trăm món, và
ngày kế đó ta sẽ rời kinh thành.
Và ngài ngâm kệ:
76. Ngày mai đi vào khu rừng hoang
dã,
Bị bầy thú săn mồi đến tấn công,
Ai biết chăng: Ta còn sống được không?
77. Rồi đáp lời, nàng Mad-dì diễm lệ,
Nàng chính là vị công nương tuyệt thế:
- Không phải đâu! Lời nói thật bạo tàn!
Ðừng nhẫn tâm nói điều ấy, thưa chàng!
78. Tâu Chúa công, chẳng chút nào thích hợp
Nếu chỉ riêng chàng ra đi đơn độc,
Dù cuộc du hành chàng sẽ tới đâu,
Thiếp cũng xin nguyền cất bước theo hầu:
79. Cho thiếp chọn: Ở cùng chàng để
chết,
Hoặc là sống phải xa chàng, ly biệt.
Chết là điều thần thiếp ước mong làm,
Nếu thiếp không được sống ở bên chàng.
80. Hãy đốt lên ngọn lửa hồng
đỏ rực,
Ngọn lửa nào thật hung tàn đệ nhất,
Thà thiếp chết kia trong ngọn lửa hồng
Vẫn còn hơn thiếp phải sống xa chồng.
81. Cũng như ở phía sau mình voi nọ,
Vẫn thường thấy một nàng voi là vợ
Di chuyển qua các đèo, núi, hay rừng,
Trên dốc gồ ghề hay mặt đất bằng.
82. Cùng các con, thiếp sẽ theo chàng mãi
Ði bất cứ nơi nào chàng dẫn lối,
Thiếp sẽ không làm gánh nặng cho chàng,
Cũng không đòi chàng vất vả kiếm
ăn.
Cùng với những lời này, nàng bắt đầu ca tụng
miền Tuyết Sơn như thể nàng đã
thấy cảnh ấy tận mắt:
83. Khi chàng thấy các con chàng xinh đẹp
Và nghe lời chúng chuyện trò tíu tít,
Trong khu rừng xanh tốt với muôn hoa,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
84. Khi nhìn thấy con xinh tươi chạy nhảy,
Và nghe lời chúng chuyện trò vang dậy
Trong khu rừng xanh tốt với muôn hoa,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
85. Khi chàng thấy các con thơ xinh đẹp
Và nghe lời chúng chuyện trò tíu tít,
Trong ngôi nhà diễm lệ của đôi ta,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm
vua.
86. Nhìn thấy các con thơ chơi mải miết,
Và nghe lời chúng chuyện trò tíu tít,
Trong khu rừng xanh tốt với muôn hoa,
Chàng sẽ không còn nhớ thuở làm vua.
87. Khi nhìn các con điểm trang rực rỡ
Và ngắm chúng đem về bao hoa nở
Trong ngôi nhà diễm lệ của đôi ta,
Chàng sẽ không còn nhớ thuở làm vua.
88. Khi nhìn các con chơi đùa rộn rã,
Và ngắm chúng đem về bao hoa lá
Trong ngôi nhà diễm lệ của đôi ta,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm
vua.
89. Khi chàng thấy các con đang nhảy múa,
Và mang về những vòng hoa rực rỡ
Trong ngôi nhà diễm lệ của đôi ta,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm
vua.
90. Khi chàng ngắm chúng chơi đùa nhảy
múa,
Và đem về những vòng hoa rực rỡ
Trong ngôi nhà diễm lệ của đôi ta,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm
vua.
91. Ông voi già có tuổi chừng sáu chục
Phiêu bạt lang thang hoàn toàn cô độc,
Trong khu rừng đầy cỏ mọc hoang sơ,
Sẽ khiến chàng quên một thuở làm vua.
92. Ông voi già có tuổi chừng sáu chục
Về buổi chiều vẫn lang thang cô độc,
Và ra đi vào buổi sáng tinh mơ,
Sẽ khiến chàng quên một thuở làm vua.
93. Khi chàng ngắm ông voi già trưởng thượng,
Ðem theo cả đàn voi con tùy tướng,
Voi sáu mươi, và nghe tiếng thét to,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
94. Khi chàng ngắm bầy thú hoang gầm rống,
Cùng mọi vật mà lòng chàng ước vọng,
Và không gian rộng rãi của rừng thưa,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
95. Ðàn hươu nai kéo về lúc chiều tối,
Nhảy nhót múa may từng bầy ếch nhái,
Và nơi nơi nở rộ cả muôn hoa,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
96. Khi chàng nghe suối sông reo ào ạt,
Và biết bao loài thần tiên ca hát,
Tin thiếp đây, chàng sẽ chóng quên là
Có một thời chàng đã
được làm vua.
97. Khi chàng nghe tiếng cú mèo đang hú
Trong hang sâu chốn núi rừng cư trú,
Chắc chắn rằng chàng sẽ chẳng nhớ ra
Có một thời chàng đã
được làm vua.
98. Loài trâu rừng cùng với loài tê giác,
Làm cho cả khu rừng vang tiếng nhạc,
Loài cọp beo và sư tử gầm gừ
Khiến chàng quên một thuở đã làm vua.
99. Khi chàng thấy trên non cao chót vót
Chim công trống múa men và nhảy nhót
Trước cả bầy công mái thật nên thơ,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
100. Nhìn công trống noãn sinh kia nhảy múa,
Xòe đôi cánh đẹp huy hoàng rực rỡ
Trước cả bầy công mái thật nên thơ,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
101. Chim công trống với cổ màu xanh đỏ
Nhìn công trống vụt lên và nhảy múa
Trước cả bầy công mái thật nên thơ,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
102. Khi núi rừng ở vào mùa đông giá,
Chàng ngắm nhìn các cây hoa rộ nở,
Các mùi hương ngào ngạt nhẹ nhàng đưa,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm
vua.
103. Khi núi rừng ở vào mùa đông giá
Chàng ngắm nhìn các cây hoa rộ nở,
Hương sen, Bim-ba, Ku-ta thoảng đưa,
Chàng se quên một thuở đã làm
vua.
104. Khi núi rừng ở vào mùa đông giá
Chàng ngắm khu rừng muôn hoa đua nở
Và hoa sen rộ nở ở quanh ta,
Chàng sẽ quên một thuở đã làm vua.
Như vậy Maddì đã ca tụng vùng Tuyết
Sơn qua các vần kệ này như thể nàng đang sống ở
đó.
Ðến đây chấm dứt Lời Ca tụng cảnh Tuyết Sơn
(Himavanta-vannanà).
*
IV. THÁI TỬ GIÃ TỪ THÂN TỘC
Lúc bấy giờ Thái hậu Phusatì suy nghĩ: "Một bản án nặng nề
đã áp đặt lên
vai vương nhi. Con ta sẽ làm gì đây? Ta muốn đi
xem sao".
Bà liền ngự lên một chiếc xe được phủ kín, và
khi bà dừng trước cửa cung thất của con bà, bà nghe lọt câu chuyện ấy và bật
tiếng than khóc thảm thiết.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
105. Bà nghe tiếng vương phi và vương tử
Lời hai vị đang hàn huyên tâm sự
Bà bật ra tiếng kêu khóc thảm thương
Thái hậu kia thật vĩ đại vinh quang:
106 -107.- Ta bảo thà ta phải dùng độc
dược
Hoặc là ta phải nhào đầu xuống vực,
Hoặc thắt dây thòng lọng ở cổ ta,
Sao thần dân tống xuất Ves-san-ta?
108 -109. Chuyên cần, bố thí và ly tham dục,
Ðược tất cả các địch vương kính phục,
Danh vọng huy hoàng vang dội gần xa,
Sao đuổi con vô tội Ves-san-ta?
110. Là điểm tựa của song thân phụ mẫu,
Biết kính trọng bậc đàn anh trưởng lão,
Sao thần dân đuổi Ves-san-ta-ra,
Chính là vương nhi vô tội của ta?
11I-112. Được phụ vương và mẫu hoàng ái
mộ
Cùng tất cả đám bà con dòng họ,
Ðược quý yêu bởi tất cả thân bằng,
Cả quê hương cùng tất giang sơn,
Con vô tội, sao chúng đòi tống xuất?
Sau lời khóc than bi thảm này, bà an ủi vương nhi và vương hậu, sau
đó bà yết kiến vua cha và tâu:
113. Giống như đám xoài kia rơi xuống
đất,
Như bạc tiền đã phung phí tiêu tan,
Vương quốc ngài cũng sụp đổ điêu tàn,
Người vô tội nếu bị dân đầy ải.
114. Rồi giống như chim thiên nga cánh gãy
Khi các nguồn suối nước cạn khô dần,
Bị bỏ rơi bởi tất cả quần thần,
Ngài sẽ sống trong khổ đau cô độc.
115. Tâu Ðại Vương, thiếp trình ngài chân thật:
Ðừng để nguồn phúc lộc Ðại vương tàn,
Ðừng đuổi con vô tội bởi dân than.
Nghe vậy, phụ vương đáp:
116. Biểu tượng của toàn dân, vương tử
đó,
Nếu ta truyền lưu đày nơi gian khổ,
Là ta tuân phận sự của hoàng gia,
Còn thiết thân hơn cả chính đời ta.
Nghe lời này, thái hậu lại khóc than:
117. Xưa biết bao đoàn quân hầu hộ tống
Với cờ xí huy hoàng bay lồng lộng,
Như rừng cây nở rộ với muôn hoa,
Nay vương nhi đành
đơn độc đi xa.
118. Các hoàng giáp Gan-dhà-ra rực rỡ
Khoác quanh con sáng ngời ngày xưa đó,
Hay bừng lên đỏ sẫm lúc con đi,
Hôm nay cô độc cất bước vương nhi.
119. Xưa con ngự vương xa, voi, hay kiệu,
Nay vua Ves-san-ta đi thất thểu.
120. Ngày xưa con được tẩm ngát trầm
hương,
Ðược đánh thức bằng vũ khúc, ca xang,
Nay làm sao khoác tấm da thô nhám,
Mang bình nước, chiếc rìu trên đường vắng?
121. Sao chúng không dâng những chiếc hoàng bào,
Không có da hươu quý bởi vì sao?
Khoác vỏ cây, con bước vào rừng rậm,
122. Vua bị đuổi, vỏ cây làm sao quấn?
Rồi làm sao nàng công chúa Mad-dì
Khoác vỏ cây và cỏ lá rừng kia?
123. Xưa thường mặc lụa tơ Ba-la-nại,
Gấm Ko-dum-ba-ra đầy êm ái,
Nay làm sao khoác lá vỏ cây kia?
124. Xưa tới lui, nàng ngồi kiệu hay xe,
Nàng công chúa yêu kiều và khả ái,
Nay làm sao bước chân nàng đi nổi?
125. Nàng có đôi chân yếu với tay mềm,
Ðứng bình yên trong hạnh phúc êm đềm,
Nay làm sao nàng công nương mỹ lệ
Bước run run vào khu rừng hoang phế?
126 -127. Nàng có đôi chân yếu với tay mềm,
Nàng sống xưa trong hạnh phúc êm đềm,
Loại hài xưa nàng mang êm dịu nhất
Vẫn làm đau đôi chân nàng gót ngọc,
Nay làm sao nàng cất bước chân đi?
128. Ngày xưa kia ở giữa ngàn nữ nhi
Nàng cất bước vòng hoa đeo lủng lẳng,
Nay làm sao giữa khu rừng hoang vắng
Nàng diễm kiều đơn độc bước chân lê?
129. Xưa, nếu loài sơn cẩu hú, nàng nghe
Nàng thường thấy trong lòng đầy lo lắng,
Nàng rụt rè nay sao đi rừng vắng?
130 -131. Nàng rùng mình lo sợ tiếng thiên xa,
Hoặc run run như kẻ thấy tà ma
Khi nghe tiếng cú kêu gào văng vẳng
Mỹ nữ rụt rè sao đi rừng rậm?
132. Giống như chim nhìn thấy tổ trống trơn
Tất cả đều bị giết, lũ chim non,
Khi thiếp nhìn thấy nơi này trống vắng,
Lòng thiêu đốt trong khổ đau đằng đẳng.
133. Giống như chim nhìn thấy tổ trống trơn
Tất cả đều bị giết, lũ chim non,
Thiếp gầy mòn, võ vàng khi nhìn thấy
Con dấu yêu chẳng bao giờ trở lại.
134. Giống như chim nhìn thấy tổ trống trơn
Tất cả đều bị giết, lũ chim non,
Thiếp sẽ phát điên cuồng và ngây dại
Thấy con yêu không bao giờ trở lại.
135. Như diều hâu nhìn thấy tổ trống trơn
Tất cả đều bị giết, bầy chim non
Khi thiếp nhìn thấy nơi này trống vắng
Thiếp sẽ sống trong khổ đau đằng đẵng.
136. Như diều hâu nhìn thấy tổ trống trơn
Tất cả đều bị giết, lũ chim non,
Thiếp yếu gầy, võ vàng khi nhìn thấy
Con dấu yêu nhất đời không trở lại.
137. Như diều hâu nhìn thấy tổ trống trơn
Tất cả đều bị giết, lũ chim non,
Thiếp sẽ phát điên cuồng và ngây dại
Thấy con yêu chẳng bao giờ trở lại.
138. Như bầy hồng nga nọ đứng bên hồ,
Làn nước kia nay biến mất, cạn khô,
Thiếp sẽ sống trong khổ đau dằng dặc,
Không còn thấy đứa con yêu quý
nhất.
139. Như bầy hồng nga nọ đứng bên hồ,
Làn nước kia nay biến mất, cạn khô,
Thiếp sẽ gầy mòn, võ vàng héo hắt,
Không còn thấy đứa con yêu quý nhất.
140. Như bầy hồng nga nọ đứng bên hồ,
Làn nước kia nay biến mất, cạn khô,
Thiếp sẽ hóa dại cuồng khi thấy mất
Ðứa con trai mà thiếp yêu thương nhất.
141. Và nếu Ðại vương đành tống xuất
đi
Khỏi quê hương, dù vô tội, vương nhi,
Mặc dù thiếp đang khổ đau than thở
Cuộc đời thiếp e rằng đành từ bỏ.
*
Ðể giải thích vấn đề này, bậc Ðạo Sư
ngâm kệ:
142. Nghe mẫu hoàng than khóc thật đau
thương,
Tất cả cùng nhau thẳng tiến vội vàng,
Các cung phi dang đôi tay trước mặt
Ðể cùng bà tiếp nối lời than khóc.
143. Và ở trong cung điện của ông hoàng
Tất cả đều nằm la liệt ngổn ngang,
Ðàn bà trẻ con nằm như cây cỏ
Bị ngã dài trên đất liền tại chỗ.
144. Và đến khi đêm ấy
đã gần tàn
Rạng ngày sau vừa lúc mặt trời quang,
Khi ấy Ves-san-ta-ra Chúa tể
Bắt đầu Lễ đại cúng dường bố thí.
145. Ðem thức ăn cho những kẻ đói cơm,
Ðem rượu nồng cho những bọn túy ông,
Ðem y phục cho người cần y phục,
Cho mỗi người tùy theo lòng mong ước.
146. Ðừng để người xin thất vọng trở về,
Hãy tỏ bày lòng kính trọng tràn trề,
Đừng để thiếu thức uống ăn tùy thích.
147. Vì thế quần chúng tựu tề chật ních
Và nhanh chân nhảy múa với nô đùa,
Khi Si-vi Chúa tể chính là vua
Nuôi quốc độ đang sẵn sàng biệt xứ.
148. Chúng đã
đốn nhào một cây
đại thụ
Ðứng vươn cao đầy quả chín trên
cành,
Khi quần chúng đuổi ra khỏi đất lành
Vua vô tội Ves-san-ta-ra ấy,
149. Cây ban ước nguyện chúng đành
đốn gãy
Với bao điều ân huệ sẵn trong tay
Ves-san-ta-ra vô tội thế này,
Quần chúng tống xuất ngài ra khỏi nước.
150. Chúng đã
đốn cây thần ban điều ước
Với tối cao ân huệ sẵn trong tay,
Ves-san-ta-ra vô tội thế này
Chúng đã tống xuất ngài
đi biệt xứ.
151-152. Quần chúng trẻ già, mọi người
đủ cỡ
Ðều khóc than và gào thét suốt ngày
Ðồng giơ cao lên tất cả cánh tay,
Khi chúa tể sẵn sàng đi biệt xứ,
Vị vua đã nuôi Si-vi quốc
độ.
153-154. Bà cốt, hoạn quan, cung nữ khóc thương
Và thét gào suốt cả một ngày trường
Ðồng giơ các cánh tay ra phía trước,
Khi Ðại vương sẵn sàng rời đất nước,
Ngài đã nuôi dưỡng quốc
độ Si-vi.
155. Trong kinh thành tất cả bọn nữ nhi
Ðồng than khóc và thét gào hôm ấy,
Khi vị vua nước Si-vi vĩ đại
Bảo dưỡng dân sắp sửa bước lưu đày.
156. Bà-la-môn, khổ hạnh giả xưa nay
Cùng tất cả những ai cần khất thực,
Ðều giơ cao các cánh tay trước mặt
Và thét to: "Thật hành động bạo tàn!"
157. Trong khi vua đem phước lộc phát ban
Cho tất cả toàn kinh thành thừa hưởng,
Và nay bị chính thần dân kết án
Ngài đã đành
cất bước chốn lưu vong.
I58. Bảy trăm con voi ngài
đã tặng không
Với tất cả vẻ huy hoàng tô điểm:
Với dây đai bằng vàng ròng kiều diễm,
Với khăn vàng
được phủ kín sáng ngời.
159. Mỗi con voi đều chở một chú nài
Với dáo móc cầm trong tay hộ vệ,
Nay nhìn Ves-san-ta-ra Chúa tể
Bị đày đi
khỏi đất nước lưu vong.
160. Bảy trăm con ngựa ngài cũng phát không,
Ðược tô điểm với yên cương láng bóng,
Các ngựa Sindh, ngựa rặc nòi thuần chủng,
Tất cả đều phi vùn vụt
đôi chân.
161. Mỗi ngựa đều được cỡi một tên quân
Với cung kiếm trong tay đầy bạo dạn,
Nay nhìn Ves-san-ta-ra Chúa thượng
Bị đày đi
khỏi đất nước quê hương.
162. Bảy trăm xe ngựa đầy đủ yên cương
Với cờ xí rợp tung bay theo gió,
Da hổ, báo, cảnh huy hoàng rực rỡ,
163. Mỗi xe đều được cỡi một quản xa
Mang giáp bào, cầm cung nỏ sáng lòa,
Nay nhìn Ves-san-ta-ra Chúa tể
Bị đi đày khỏi quê hương như thế.
164. Bảy trăm nữ nhi ngài cũng phát ban,
Trên mỗi cỗ xe đều đứng một nàng
Với chuỗi vàng và kim hoàn tô điểm,
Các nữ nhi này thật là kiều diễm.
165- 166. Với nữ trang và y phục xinh xinh
Với eo lưng nhỏ bé và thanh thanh,
Ðôi mày cong và nụ cười tươi sáng,
Với đôi mông tròn gợi tình duyên dáng,
Nay hãy nhìn Chúa thượng Ves-san-ta
Bị đày đi
khỏi đất nước quê nhà!
167. Bảy trăm bò ngài cũng
đem phân phát,
Với mỗi thùng đựng sữa đều bằng bạc,
Nay hãy nhìn Chúa thượng Ves-san-ta
Bị đày đi
khỏi đất nước quê nhà!
168. Bảy trăm nữ tỳ ngài
đem cho hết
Khi đám mày râu kêu vang tha thiết,
Nay hãy nhìn Chúa thượng Ves-san-ta
Bị đày đi
khỏi đất nước quê nhà!
169. Ngài ban ngựa voi, cỗ xe, nô lệ,
Sau mọi việc kia xảy ra, tuy thế,
Nay hãy nhìn Chúa thượng Ves-san-ta
Bị đày đi
khỏi đất nước quê nhà!
170. Việc kia quả thật vô cùng kinh khủng,
Ðã khiến cho lông tóc ta dựng đứng,
Khi giờ đây Chúa thượng Ves-san-ta
Bị đày đi khỏi đất nước quê nhà!
Bấy giờ một vị thần báo tin cho các vua chúa khắp cõi Diêm-phù-đề
việc vua Vessantàra đã làm Ðại lễ
bố thí các phụ nữ cao sang cùng các tặng vật khác ra sao. Vì thế các vị quý
tộc Sát-đế-ly nhờ thần lực hỗ trợ đã
đến kịp bằng xe và trở về cung với các
phụ nữ cao sang cùng các tặng vật khác mà họ nhận
được. Nhờ đấy, các Sát-đế-ly (quý tộc), Bà-la-môn
(Ðạo sĩ), Vệ xá (thương nhân), Thủ-đà
(công nhân) đều nhận quà từ chính tay
ngài trước khi họ ra về.
Ngài vẫn đang phân phát thí vật thì
trời tối, vì thế ngài trở về cung thất để từ giã
song thân và lên đường đêm ấy. Ngài ngự
trên chiếc vương xa lộng lẫy đến cung của cha
mẹ cùng nàng Maddì để nàng cùng
ngài từ giã hai vị. Bậc Ðại Sĩ kính lễ vua cha và thưa trình việc ngài cùng
vương phi đến hầu.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
171. Xin tạ từ Minh chúa Sañ-jà ya,
Và xin trình để phụ vương biết rõ:
- Con sẽ ra đi đến đồi Vạn-cổ
Vì giờ đây cha phán lệnh lưu đày.
172. Tấu Anh quân, thời sắp đến sau này
Sẽ biết rõ những ai đầy tham dục
Không biết thỏa, sẽ đi vào địa ngục.
173. Vì con làm nên tội với thần dân,
Ðã phát ban hào phóng với tay con,
Nên con đã bị toàn dân xét xử,
Con phải chịu đi đày ra khỏi xứ.
174. Con sẽ đền tội lỗi ấy bây giờ
Trong khu rừng loài hổ báo du cư.
Nếu cha muốn lội bùn nhơ ác dục,
Tuy thế, con vẫn muốn làm công đức.
*
Bậc Ðại Sĩ ngâm bốn vần kệ này với vua cha rồi ngài quay sang mẹ xin phép
là được rời thế tục với các lời này:
175- 176. Thưa mẹ hiền, con xin phép giã từ,
Con bị đày ra khỏi xứ biệt cư,
Vì tội lỗi đã làm cho dân chúng,
Con bố thí với bàn tay hào phóng,
Nay chiếu theo án lệnh của toàn dân
Con đi đày khỏi
đất nước quê hương.
177. Bây giờ con sắp phải đền tội lỗi
Trong rừng hoang loài hổ beo lui tới.
Nếu mẹ muốn chìm trong chốn dục tham,
Song phần con công đức quyết tâm làm.
Mẫu hậu Phusatì đáp:
178-179. Mẹ cho phép con ra đi, Thái tử,
Hãy nhận lời mẹ chúc lành vạn sự,
Ðể Mad-dì và các cháu ở nhà,
Nàng sẽ không làm lợi nữa bao giờ,
Chân yếu, tay mềm, thân hình yếu đuối,
Tại sao nàng cần phải đi, con hỡi?
Vua Vessantara đáp:
180. Con chẳng đem theo dù một nữ tỳ
Trái ý nguyền nàng chẳng muốn ra đi.
Song nàng muốn, hãy cho nàng đi với,
Còn nếu không, hãy để nàng ở lại.
Nghe lời Thái từ nói, vua cha tìm cách thuyết phục nàng.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
181. Lúc ấy phụ vương phán bảo công nương:
- Ðừng để tay chân tẩm ướt đàn hương
Chịu lấm bụi và đất dơ, cha bảo,
182. Con đừng đắp vỏ cây rừng làm áo
Thay lụa tơ Ba-la-nại mượt mà,
Công nương diễm phúc, đừng bước đi xa,
Ðời rừng rậm thật khó khăn gian khổ.
183. Công chúa Mad-dì yêu kiều, rực rỡ,
Liền đáp lời thưa với phụ vương nàng:
- Ðược diễm phúc kia con cũng chẳng màng
Nếu không có Ves-san-ta Thái tử.
184. Rồi Ðại vương Si-vi nuôi-quốc-độ
Lại nói thêm với nàng nữa như vầy:
- Này Mad-dì con hỡi, hãy nghe đây,
Khi cha giảng nỗi gian nan rừng thẳm:
185. Những bầy bọ ruồi, muỗi mòng, ong, gián,
Sẽ đốt con trong lúc sống ở rừng
Cho đến khi con mắc bệnh thương vong.
186. Còn cư dân trên bờ sông bến nước
Lại nghe nói đến nhiều tai họa khác:
Dù không mang nọc độc, giống trăn rừng,
Loài cuộn tròn siết chặt, mạnh vô cùng,
187. Hễ người, vật đến gần, liền tóm
chặt,
Rồi kéo về hang, cuộn trong nhiều khúc.
188. Còn nhiều loài dã thú khác hiểm nguy
Phủ đầy lông chằng chịt lại đen sì,
Chúng có thể trèo cây bắt người đấy,
Con gấu chính là tên sinh vật ấy.
189. Dọc theo bờ sông nước So-tum-ba
Có loài trâu cư trú chốn giang hà
Với cặp sừng thật to và nhọn hoắc
Có thể húc một cú đau cùng cực.
190. Thấy những đàn trâu vĩ
đại thế này
Ði lang thang qua rừng rậm đó đây,
Như bò mẹ đi tìm con, khốn khổ,
Mad-dì sẽ làm gì, cho ta rõ?
191. Khi vượn khỉ trên cây tụ họp đoàn,
Chúng sẽ làm con hốt hoảng kinh hoàng,
Công chúa Mad-dì chẳng hề hiểu biết
Trước cảnh tượng dị kỳ và gớm ghiếc.
192. Xưa mỗi lần tiếng hú của chó rừng
Vẫn làm con thật run sợ hãi hùng,
Nay phải sống ở trên đồi Vạn-cổ
Con sẽ làm gì, Mad-dì bé nhỏ!
193. Sao con muốn đi vào chốn như vầy?
Ngay cả lúc trời đang giữa ban ngày,
Khi các loài chim nghỉ ngơi im lặng,
Khu rừng cây vẫn thét gào vang động.
194 -195. Rồi Mad-dì diễm lệ ấy, công nương
Liền nói lên vầy đáp lại phụ vương:
- Về những điều này thật là đáng sợ
Mà cha đã cố trình bày cho rõ,
Con sẵn sàng chấp nhận mọi điều kia,
Và nay con đã quyết
định ra đi.
196. Qua mọi đồi hoang và rừng cỏ dại,
Xuyên suốt các đầm lau và khóm sậy,
Với sức mình, con sẽ mở con đường,
Quả thật con không oán trách kêu than.
197. Nàng nào muốn giữ chồng cho tốt đẹp,
Phải làm xong phận sự mình trên hết,
Phải sẵn sàng vò các cục phân bò,
Và sẵn sàng ăn bữa đói bữa no.
198. Nàng phải siêng năng chăm lo ngọn
lửa
Và phải chuyên cần lọc trong nước nữa.
Song cuộc đời quả phụ thật kinh hoàng,
Con quyết ra đi, tâu bậc Ðại vương.
199. Việc vặt vãnh cũng làm nàng lo lắng,
Nàng thường ăn thứ cơm thừa canh cặn,
Vì cuộc đời quả phụ thật kinh hoàng,
Con quyết ra đi, tâu bậc Ðại vương.
200-201. Bị quật ngã và dìm trong bụi bặm,
Bị nắm tóc lôi thật là tàn nhẫn,
Ðàn ông đều có thể đả thương nàng,
Mọi người ngoài chỉ đứng ngắm bàng quan.
Ôi hãi hùng là cuộc đời sương phụ!
Tâu Ðại vương, con quyết đi khỏi xứ.
202-203. Bọn đàn ông vây đánh trẻ mồ côi
Thật bạo tàn vì đấm đá tả tơi
Như bầy quạ thường vồ chim cú nhỏ.
Dù mỹ miều và tự cao quyến rủ,
Ôi cuộc đời quả phụ thật kinh hoàng!
Con quyết ra đi, tâu bậc Ðại vương.
204-205. Ngay cả trong nhà giàu sang thịnh vượng
Sáng ngời lên với bạc vàng vô tận,
Lời đắng cay tuôn chảy mãi không ngừng
Từ đám anh em hoặc các thân bằng,
Ôi hãi hùng là cuộc đời sương phụ!
Tâu Ðại vương, con quyết đi khỏi xứ.
206-207. Chẳng khác dòng sông suối nước cạn khô.
Chẳng khác gì vương quốc thiếu vị vua,
Người sương phụ dù có mười anh ruột
Cũng chỉ là tấm thân trần trùng trục,
Ôi cuộc đời sương phụ thật kinh hoàng!
Con quyết ra đi, tâu bậc Ðại vương.
208-209. Dấu hiệu cỗ xe: lá cờ phấp phới,
Lửa được khói xông nên người biết tới,
Ðất nước sáng danh nhờ các quốc vương,
Người vợ có tên nhờ chính phu quân.
Ôi hãi hùng là cuộc đời sương phụ!
Tâu Ðại vương, con quyết đi khỏi xứ.
210-211. Người vợ chia chung số phận với chồng,
Dù được giàu sang hay chịu bần
cùng,
Danh vọng nàng được thần linh tán tụng,
Lúc hoạn nạn nàng cũng đành an
phận.
212-213. Con vẫn quyết tâm nối gót theo chàng
Dù khoác hoàng y con cũng chẳng màng,
Làm hoàng hậu khắp thế gian chẳng thiết
Ðời sương phụ than ôi, đầy kinh khiếp,
Tâu Ðại vương, con sẽ quyết ra đi.
214. Quả thật vô tâm là những nữ nhi
Lòng sắt đá nên không sao nhận thức
Khi các vị lang quân đang khổ cực,
Lại ước mong vui hưởng cảnh giàu sang.
215. Khi chúa tể Si-vi bỏ quê hương,
Để cất bước lưu đày ra khỏi nước,
Con quyết sẽ cùng theo chàng cất bước,
Vì chàng ban mọi hỷ lạc, hân hoan.
216-217. Lúc bấy giờ cất tiếng vị Ðại vương
Nói với Mad-dì huy hoàng diễm lệ:
- Nhưng hãy để lại đây hai con trẻ
Vì chúng làm gì được ở nơi kia,
Hỡi công nương đầy phước đức, Mad-dì?
Chúng ta sẽ chăm nom đầy kỹ lưỡng.
218-219. Rồi Mad-dì trả lời ngay Chúa thượng,
Vị công nương thật rực rỡ yêu kiều:
- Bé Jà-li, Kan-hà ấy thân yêu
Với lòng con thật vô cùng quý giá,
Chúng sẽ cùng con vào rừng cư trú,
Và làm con vơi nhẹ nỗi sầu bi.
220-221. Vị Ðại vương nuôi-quốc-độ Si-vi,
Vị chúa tể đáp lời ngay lập tức:
- Trước giờ ăn thịt hầm, cơm thơm phức,
Nếu phải dùng quả dại ở rừng hoang,
Bọn trẻ thơ làm gì được hay chăng?
222. Trước giờ ăn bằng chén vàng, dĩa bạc,
Nay chỉ lá cây chúng làm gì được?
223. Trước áo quần Ba-la-nại lụa tơ,
Nay phải mặc vỏ cây với cỏ khô,
Bọn trẻ ấy biết làm gì cho được?
224. Xưa xe, kiệu, chúng được người đưa rước,
Nay chạy đi quanh quẩn với đôi chân,
Bọn trẻ thơ làm gì được hay không?
225. Trước giờ ngủ trong vương cung nóc nhọn,
Cửa khóa then cài thật là an ổn,
Nay phải nằm ngay dưới gốc cây rừng,
Bọn trẻ thơ làm gì được hay chăng?
226. Trước gối nệm với giường thêu nằm ngủ,
Nay phải ngã lưng nằm trên giường cỏ,
Bọn trẻ thơ làm gì được hay chăng?
227. Trước được tẩm đầy các thứ dầu hương,
Nay bị phủ bùn nhơ và bụi bặm,
Bọn trẻ thơ sẽ làm gì cho đặng?
228. Xưa được người phe phẩy quạt lông công,
Hay quạt đuôi trâu rừng phủ rậm lông,
Nay bị muỗi ruồi bọ sâu đốt cắn,
Bọn trẻ thơ sẽ làm gì cho đặng?
Trong khi các vị bàn luận như vậy thì bình minh
đến và sau
đó mặt trời lên. Quân hầu mang một cỗ xe lộng lẫy cùng một
đoàn bốn ngựa Sindh thuần chủng
đến cho bậc Ðại Sĩ và
đặt ở cửa.
Mad-dì kính lễ song thân của ngài và chào từ biệt các bà phu nhân kia,
rồi ra đi cùng với hai con
đến trước Vessantara và lên ngồi trong
xe ấy.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề này:
229-230. Rồi Mad-dì diễm lệ ấy, công nương,
Liền nói lên vầy đáp lại phụ vương:
Ðừng than khóc vì chúng con, cha hỡi,
Xin phụ vương cũng đừng nên bối rối,
Hai trẻ này cùng cha mẹ lên đường
Bất cứ nơi nào rảo bước tha phương.
231. Với những lời này Mad-dì từ giã,
Vị công nương thật yêu kiều rực rỡ,
Hai trẻ thơ cùng chia xẻ đường trường.
232. Rồi Ves-san-ta-ra chính quốc vương,
Lời ước nguyện đã hoàn thành như ý,
Ðến trước song thân ngài đồng kính lễ
Và đi quanh về phía hữu một vòng.
233. Rồi ngài ngự lên xa giá lẹ làng
Ðược kéo đi nhờ một đoàn tuấn mã,
Cùng vợ con, ngài lên đường vội vã
Ðến nơi kia đồi Vạn-cổ cao vời.
234. Vua Ves-san-ta thúc ngựa đến nơi
Mà hầu hết đám thần dân tụ tập:
Và kêu lớn: - Chúng ta đi! Cầu phúc
Cho bà con thân tộc, vậy giã từ!
*
V. CUỘC HÀNH TRÌNH LÊN NÚI VAMKA
Khi nói các lời này với quần chúng, bậc Ðại Sĩ khuyên nhủ họ tinh cần bố
thí, và làm các thiện sự.
Khi ngài đi xa, mẹ Bồ-tát nói:
- Nếu vương tử muốn bố thí, hãy để chàng
bố thí.
Rồi bà gửi cho ngài hai xe nhỏ đi kèm
mỗi bên xe ngựa, chứa đầy nữ trang gồm bảy báu
vật. Trong mười tám lần ban phát, ngài phân chia cho
đám hành khất mà ngài gặp trên
đường đi tất cả những gì ngài có, gồm cả
số đồ vật trang sức trên chính thân
ngài.
Khi ngài đã rời kinh thành, ngài quay
lại và muốn nhìn lui, vì thế thuận theo ý ngài, mặt
đất nứt ra theo chiều chiếc xe và quay
lại khiến cho xe đối diện kinh thành,
ngài liền chiêm ngưỡng nơi song thân ngài cư ngụ. Tiếp theo
đó là đất
chấn động và nhiều việc kỳ diệu khác.
Vì vậy có chuyện kể:
235. Khi ngài đi ra khỏi kinh thành
ấy,
Ngài đã quay
đầu nhìn xem trở lại,
Vì thế núi Tu-di lớn chuyển rung
Chẳng khác một cây đa giữa cõi không.
Trong lúc ngắm cảnh, ngài ngâm kệ thúc giục Maddì cũng nhìn lui:
236. Này Mad-dì, nhìn nơi thân yêu đó,
Nơi chúng ta vừa cất bước ra đi,
Ấy vương cung của chúa tể Si-vi,
Và cũng chính nơi quê cha đất tổ.
Sau đó, ngài nhìn về phía sáu mươi
ngàn triều thần, những người sinh ra cùng thời với ngài, nhìn
đám quần chúng còn
đó, và ra hiệu cho họ lui về, rồi trong
khi tiếp tục lái xe đi, ngài bảo Maddì:
- Này công nương, nàng hãy nhìn xem thử có kẻ cầu xin nào
đang đi phía sau chăng.
Nàng liền nhìn ra. Bấy giờ bốn Bà-la-môn không thể có mặt kịp trong Lễ bố
thí bảy trăm báu vật đã
đến kinh thành, và thấy lễ phân phát
đã xong, biết chắc là vương tử
đã ra đi.
-Thế ngài có đem theo vật gì không?
- Vâng, có cỗ xe.
Vì thế họ quyết định đi xin bầy ngựa. Maddì
thấy những người này đang tiến lại gần.
- Tâu Chúa công, có các vị hành khất- Nàng nói.
Bậc Ðại Sĩ dừng xe lại. Họ tiến đến xin bầy
ngựa và bậc Ðại Sĩ cho ngựa.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích vấn đề này:
237. Khi bốn Bà-la-môn bắt kịp ngài,
Và muốn xin bầy ngựa, họ kêu nài,
Ngài ban bầy ngựa kia ngay tại chỗ,
Mỗi hành khất được một con tuấn mã.
Bầy ngựa được lấy đi rồi, dây cương của cỗ
xe vẫn còn treo lơ lửng trên không. Nhưng chẳng bao lâu sau khi các
Bà-la-môn vừa đi, thì bốn vị thần giả
dạng bầy hươu đỏ tía đến kéo xe đi.
Bậc Ðại Sĩ biết chúng là thần linh liền ngâm kệ này:
238. Này Mad-dì, hãy ngắm việc diệu kỳ,
Này nhìn xem việc hy hữu, Mad-dì:
Những con ngựa này đây thông minh quá,
Ðội lốt hồng dương kéo xe ta đó!
Nhưng khi ngài tiến lên thì một Bà-la-môn khác
đến xin cỗ xe. Bậc Ðại Sĩ
đưa vợ con xuống và cho ông cỗ xe. Khi
ngài cho xe xong, các vị thần cũng biến mất.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc tặng cỗ xe này:
239. Một kẻ thứ năm tiến đến tức thì
Và cầu xin xe nọ của vương nhi.
240. Việc này khiến Ves-san-ta Chúa thượng
Phải đưa đám vợ con ngài
đi xuống,
Và ban xe cho kẻ đến xin quà.
*
Sau đó cả đoàn
đều đi bộ. Bậc Ðại Sĩ bảo Maddì:
241. Này Mad-dì, nàng hãy bế Kan-hà
Vì nó nhẹ và hãy còn thơ dại,
Còn Jà-li là bé trai nặng đấy,
Ta sẽ mang con trẻ ấy theo cùng.
Sau đó hai vị bế con lên và mang
chúng bên hông.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
242. Ngài, con trai, nàng, con gái lên đường
Cùng trò chuyện thật hân hoan mãn nguyện.
Ðến đây chấm dứt Chuyện Bố thí (Dàna-khandam)
*
Khi gặp kẻ nào trên đường, hai vị hỏi đường
đi đến đồi Vamka (Vạn-cổ) và được biết còn
xa lắc. Vì thế, có chuyện kể:
243. Bất cứ khi nào gặp du khách đến,
Hai vị hỏi thăm phương hướng đi đường,
Và nơi đâu là Vạn-cổ Cao sơn.
244. Ðám du hành đều khóc than thương xót,
Nhìn các ngài trên con đường rảo bước,
Và bảo ngài nhiệm vụ quá nặng nề:
- Con đường còn xa lắc ở
đằng kia.
Ðôi trẻ reo lên khi thấy đủ loại trái cây
mọc hai bên đường. Nhờ thần lực của bậc
Ðại Sĩ, cây cối rạp mình xuống đưa trái
đến tầm tay họ hái được và hai vị hái những quả chín nhất
đưa cho các con.
Lúc ấy Maddì reo lên:
- Thật kỳ diệu quá!
Vì thế chuyện kể lại:
245. Khi trẻ thơ ngắm nhìn trên sườn núi
Nhiều cây cao mọc lên đầy hoa trái,
Hai trẻ kia liền kêu khóc đòi
ăn.
246. Khi cây rừng nhìn lũ trẻ khóc than,
Cây cao vút bỗng sinh lòng ái ngại
Cúi rạp mình đưa các cành
đi tới
Cho tay người hái được trái cây rừng.
247. Lúc ấy Mad-dì reo lớn vui mừng,
Nàng công chúa diễm kiều và rực rỡ,
Khi nhìn thấy phép thần kỳ diệu đó
Khiến cho người ta phải dựng tóc lông.
248. Tóc lông người dựng đứng lúc nhìn trông
Nhờ thần lực Ves-san-ta Chúa thượng
Các cây cao bỗng nghiêng mình cúi xuống.
Kể từ kinh thành Jetuttara, núi Suvannagiritàla cách
đó năm dặm, sông Kontimàrà lại cách
đó năm dặm, và núi Arañjaragiri lại cách
đó năm dặm nữa, ngôi làng Bà-la-môn
Dunnivittha lại cách đó năm dặm nữa, và
kinh thành của quốc cửu ngài cách đó mười dặm,
như vậy kể từ Jetuttara, hành trình dài ba mươi dặm. Các vị thần rút
ngắn khoảng đường ấy, vì vậy chỉ trong
một ngày, họ đã
đến thành của vị quốc cửu.
Do đó, chuyện kể:
249. Thần Dạ-xoa thâu ngắn dặm trường
Vì thương con trẻ gặp tai ương,
Ce-ta quốc độ nay vừa đến
Trước buổi hoàng hôn kịp bước đường.
Bấy giờ các vị rời thành Jetuttara lúc rạng
đông, và buổi chiều đã
đến vương quốc Ceta và vào thành của
quốc cửu.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
250. Cả đoàn
đi đến xứ Ce-ta
Gian khổ lộ trình quả thật xa,
Vương quốc tràn trề đồ ẩm thực,
Phú cường, thịnh vượng cõi sơn hà.
*
Bấy giờ trong kinh thành của vị quốc cửu ấy có sáu mươi ngàn võ tướng
(Sát-đế-ly) cư trú. Bậc Ðại Sĩ không vào
thành, mà chỉ ngồi ở sảnh đường ở cổng thành.
Maddì phủi bụi trên chân bậc Ðại Sĩ và xoa bóp chân ngài, rồi với ý
định thông báo việc ngài
đến, nàng
đi ra khỏi sảnh đường và đứng lại để
người ta nhìn thấy. Vì thế những phụ nữ vào ra kinh thành trông thấy
nàng và đến vây quanh.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
251. Nhìn thấy vương phi dáng tốt lành
Ðàn bà xúm lại đứng vây quanh:
- Bà phu nhân ấy trông hiền dịu
Sao phải đi chân suốt lộ trình?
252. Ngày xưa trên võng kiệu, vương xa,
Bà mệnh phụ kia được rước ra,
Nay lúc Mad-dì đành rảo bước,
Nơi nàng cư trú: chốn rừng già.
Quần chúng lúc ấy vừa thấy Maddì và Vessantara cùng các con
đến nơi không có lễ nghi đón chào gì cả,
liền trình vua. Rồi sáu mươi ngàn võ tướng quý tộc
đến gặp ngài và than khóc.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm kệ giải thích việc này:
253-254. Vương tộc Ce-ta đến yết kiến ngài
Tất cả đều khóc lóc, thở than hoài:
- Chúng thần kính chào ngài, tâu Chúa thượng,
Chúng thần tin ngài an khang, thịnh vượng.
Còn giang sơn cùng với đại phụ vương
Mong ngài đem mọi tin tức cát tường.
255-256. Quân sĩ của ngài đâu, tâu Chúa
tể,
Và ở đâu chiếc vương xa oai vệ?
Không ngựa xe, ngài cất bước hành trình,
Có phải chăng ngài
đi đến một mình
Vì đã bị
đám quân thù đánh bại?
Lúc ấy bậc Ðại Sĩ nói cho các vương tử biết nguyên nhân ngài
đến đây:
257. Xin cám ơn các ngài đầy ưu ái,
Hãy bình tâm: ta thịnh vượng, khang an,
Về phụ vương và quốc độ giang sơn
Ta có đủ tin lành đem thông cáo.
258. Ta đã tặng con voi là quốc bảo
Có ngà dài, toàn trắng, thật tốt lành,
Ðã bao lần thắng trận lúc giao tranh.
259. Với quạt đuôi trâu rừng và ngọc
thạch,
Ðã dẫm tan bao đám quân thù
địch.
Thật hung hăng, dài thẳng tắp đôi ngà,
Trắng ngần như núi tuyết Ke-là-sa.
260. Lọng trắng, cân đai xứng ngôi chúa thượng,
Với đám quân hầu cùng người quản tượng,
Bảo vật này ta đã lấy phát phân.
261 -262. Vì thế toàn dân ta đã hận sân,
Và vương phụ xem đây là lầm lỗi.
Do việc kia, ta bị ngài xua đuổi,
Bây giờ ta đi đến Vạn-cổ Sơn,
Xin các ngài cho biết chỗ náu nương.
Các vương tử đáp:
263. Xin đừng nghi ngờ, cung nghênh
Chúa thượng,
Xin ngự trị đây, tùy nghi thọ hưởng,
264. Dùng mật ong, cỏ thuốc, thịt, gạo ngon
Chọn món nào trắng nhất, loại cao lương,
Tùy thánh ý, ngài sẽ là khách quý.
Vua Vessantara nói:
265-266. Ðây ta nhận quà trao từ các vị,
Xin cảm ơn về thiện chí tràn đầy,
Nhưng phụ vương đã tống xuất giờ đây
Ta đi đến vùng núi đồi Vạn-cổ,
Xin các ngài chỉ ta nơi cư trú.
Các vương tử đáp:
267. Xin Ðại vương ở lại xứ Ce-ta
Cho đến khi dâng sớ tấu đức vua
Si-vi quốc điều chúng thần biết được!
268. Lúc ấy dân đi theo ngài lũ lượt
Hộ tống ngài, đầy tin tưởng hân hoan,
Ðiều này thần xin thông báo Ðại vương.
Bậc Ðại Sĩ nói:
269. Ta không muốn nhờ các ngài dâng sớ
Trình phụ vương nơi đây ta cư trú,
Trong việc này, ngài không phải vua đâu,
Ta e rằng ngài không có quyền cao.
270. Triều thần và dân thị thành căm phẫn
Tụ họp nhau, mọi người đầy kích động
Bởi vì ta, chúng có thể hại vua.
Các vương tử đáp:
271. Nếu trong xứ kia có thể xảy ra
Một sự việc đầy kinh hoàng như thế,
Ngài được dân xứ Ce-ta hộ vệ,
Xin ở đây và làm bậc Ðại vương.
272. Ðất nước này đang thịnh vượng, phú cường
Với dân chúng thật hào hùng, vĩ đại,
Cầu xin ngài hãy quyết tâm ở lại
Với chúng thần và cai trị quốc gia.
273. - Hãy nghe ta! Các vương tử Ce-ta
Ta không có ý mong cầu ở lại,
Vì ta đi như một người bị đuổi,
Chẳng đến đây cầm quyền lực quân vương,
274. Dân Si-vi tất cả sẽ bất bằng
Biết các ngài tôn ta làm Thiên tử,
Trong khi ta bị đày ra khỏi xứ.
275. Nếu các ngài muốn thực hiện điều này,
Sẽ là điều thật bất hạnh từ đây:
Gây tranh chấp với Si-vi dân chúng,
Ta không thích đấu tranh và căm hận.
276-277. Ðây ta nhận quà do các vị trao
Xin cám ơn thiện chí biết dường nào,
Nhưng từ nay vua đuổi ta khỏi xứ,
Ta ra đi đến vùng đồi Vạn-cổ,
Xin các ngài hãy nói rõ cho ta,
Một nơi đâu có thể gọi là nhà.
Như vậy dù có nhiều lời thỉnh cầu, bậc Ðại Sĩ vẫn chối từ vương quốc. Sau
đó các vương tử ấy tiếp đón ngài trọng
thể. Nhưng ngài không muốn đi vào thành,
vì thế họ trang hoàng sảnh đường mà ngài
đang ở, giăng màn quanh
đó và so |