BuddhaSasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya

Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt


 

Chương IV

-ooOoo-

Phẩm Bốn Kệ


(CLXXXVI) Nà gasamà la (Thera. 33)

Sanh trong thời đức Phật hiện tại, trong gia đình hoà ng tộc Thích-ca, ngà i quán sát tánh vô thường của sự vật và triển khai thiền quán, ngà i chứng quả A-la-hán. Ngà i chứng minh chánh trí của ngà i dựa trên kinh nghiệm riêng của ngà i trong những bà i kệ nà y:

267. Trang điểm, mặc áo đẹp,
Ðeo vòng hoa, thơm nức,
Mùi thơm gỗ chiên đà n,
Giữa đám đông, đường lớn,
Một vũ nữ đang múa,
Múa lượn theo nhạc khí.

268. Ta và o thà nh, khất thực,
Ði ngang, ta thấy nà ng
Trang điểm, mặc áo đẹp,
Gieo bẫy mồi thần chết.

269. Rồi ta tự tác ý,
Như lý khởi tư duy,
Các hiểm nguy hiển lộ,
Nhà m chán, ta an trú.

270. Và tâm ta giải thoát,
Thấy pháp nhĩ là vậy,
Ba minh chứng đạt được,
Lời Phật dạy là m xong
.

 

(CLXXXVII) Bhagu (Thera. 33)

Sanh trong thời đức Phật hiện tại, trong một gia đình dòng họ Sakya (Thích Ca), ngà i xuất gia với AnuruddhaKimbila, và sống gần là ng Bà lakalona. Một ngà y kia, khi ngà i từ tinh xá ra ngoà i để đối trị bịnh buồn ngủ, ngà i té khi ngà i bước lên đường kinh hà nh. Xem đấy để tự khích lệ, ngà i tự chế ngự và phát triển thiền quán, ngà i chứng quả A-la-hán. Từ đấy, sống thọ hưởng an lạc giải thoát Niết-bà n. Thế Tôn đến, tán thán cô độc của ngà i và hỏi: 'Nà y Tỷ-kheo, sao cho đến nay, Thầy vẫn còn tinh tấn?'. Ngà i trả lời, với những bà i kệ như sau:

271. Bị buồn ngủ chi phối,
Ta ra khỏi tinh xá,
Lại lên đường kinh hà nh,
Tại đấy té xuống đất.

272. Xoa bóp cả chân tay,
Lại lên đường kinh hà nh,
Qua lại đường kinh hà nh,
Nội tâm ta định tỉnh.
Rồi ta tự tác ý,
Như lý khởi tư duy,
Các hiểm nguy hiển lộ,
Nhà m chán ta an trú.

273. Và tâm ta giải thoát
Thấy pháp nhĩ là vậy,
Ba minh chứng đạt được,
Lời Phật dạy là m xong.

 

(CLXXXVIII) Sabhiya (Thera. 33)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong gia đình con gái một hoà ng tộc, người con gái nà y được cha mẹ giao cho một vị du sĩ hướng dẫn để nà ng có thể học giáo lý và nếp sống tu hà nh. Sabhiya khi lớn lên cũng trở thà nh một du sĩ, học hỏi nhiều kinh kệ tụng, trở thà nh một nhà lý luận sắc bén, không ai sánh nổi. Dựng am bên cửa thà nh, ngà i dạy học cho con cháu các hoà ng tộc, ngà i nghĩ ra hai mươi câu hỏi để ngà i hỏi các vị tu sĩ và Bà -la-môn. Trong khi Sabhiyasutta, có ghi là một Bà -la-môn, từ cõi Tịnh cư thiên, đã nghĩ ra các câu hỏi ấy. Thế Tôn khi đi đến Vương Xá, tinh xá Trúc Lâm, đã trả lời các câu hỏi và Sabhiya khởi lòng tin, xuất gia và chứng quả A-la-hán.

Khi ngà i khuyên dạy các Tỷ-kheo đã theo phe Devadatta, ngà i nói lên những bà i kệ như sau:

274. Người khác không rõ biết,
Ta ở đây một thời,
Tại đây, bậc có trí,
Biết vậy sống tịnh chỉ.

275. Khi họ không rõ biết,
Họ là m như bất tử;
Khi họ rõ biết pháp,
Giữa bệnh, họ không bệnh.

276. Ai sở hà nh phóng đãng,
Cấm giới bị uế nhiỠm,
Phạm hạnh đáng nghi ngờ,
Vị ấy chứng quả lớn,

277. Sống giữa đồng Phạm hạnh,
Không được trọng, tôn kính,
Vị ấy xa Diệu pháp,
Như trời xa đất liền.

 

(CLXXXIX) Nandaka (Thera. 33)

Trong thời Ðức Phật hiện tại, ngà i sanh ở Sà vatthi, trong một gia đình có gia tộc, và được gọi là Nandaka. Ngà i xuất gia, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, và phát triển thiền quán, ngà i chứng quả A-la-hán. Sau đó khi đang sống trong an lạc giải thoát, ngà i được bậc Ðạo Sư dạy thuyết pháp cho các Tỷ-kheo-ni và khiến cho năm trăm vị chứng quả A-la-hán. Ðức Phật ấn chứng cho ngà i là vị khuyến giáo Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni đệ nhất.

Rồi một ngà y kia, khi đi khất thực ở Sà vatthi, một nữ nhân trước kia lập gia đình với ngà i, thấy ngà i và cười lớn tiếng với một tâm bất chánh. Vị Trưởng lão thấy hà nh động của nà ng liền dạy cho nà ng về thân thể bất tịnh, với những bà i kệ sau:

278. Gớm thay, vật hôi thối!
Ðầy sắc mùi hôi tanh,
Vật sở hữu của ma,
­ chảy nhiều dòng nước,
Thân nà y có chín dòng,
Luôn luôn được tuôn chảy.

279. Chớ khinh miệt cổ nhân!
Chớ xúc phạm Như Lai,
Họ không tham thiên giới,
Còn nói gì cõi người.

280. Kẻ ngu, thiếu trí tuệ,
Tà ý, si bao phủ,
Kẻ ấy đầy tham đắm,
Bị ma quăng dây trói.

281. Những ai đã thoát ly,
Tham, sân và vô minh,
Ðây họ không tham đắm,
Dây cắt, không trói buộc
.

 

(CXC) Jambuka (Thera. 34)

Trong thời Ðức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình rất nghèo. Như trong đời trước, ngà i dùng phân là m đồ ăn, và rời bỏ gia đình, là m vị tu khổ hạnh. Thực hà nh nhiều khổ hạnh, ăn từng hạt đậu một, được chấm trên đầu ngọn rơm. Ngà i đã năm lăm tuổi khi đức Phật thấy ngà i căn cơ thuần thục, như ngọn đèn đặt trong cà i ghè, đi đến ngà i, thuyết pháp và hóa độ cho ngà i. Rồi Thế Tôn gọi: 'Hãy đến, nà y Tỷ-kheo' và cho ngà i xuất gia. Rồi Jambuka phát triển thiền quán và Thế Tôn ấn chứng ngà i chứng quả A-la-hán. Ðây chỉ là sơ lược, trong đoạn sớ giải các câu kệ của Dhammapà da, câu chuyện được giải thích rộng rãi từ nơi câu; 'Ăn từng hạt đậu một, với ngọn rơm chấm đậu. Khi đến giờ mệnh chung, ngà i nói lên rằng: dầu một lần sống theo tà hạnh, nhưng nếu dựa và o đức Phật tối thượng, ngà i cũng có thể chứng quả như các đệ tử khác. Ngà i nói lên những bà i kệ:

282. Trải năm mươi lăm năm,
Thân đầy những bụi bặm,
Ăn cơm tháng một lần,
Tóc râu ta nhổ sạch.

283. Ta đứng chỉ một chân,
Ta không dùng giường nằm,
Ta ăn phân phơi khô,
Ta không nhận lời mời.

284. Sở hà nh ta nhiều vậy,
Dẫn ta đến ác thú,
Bị nước lớn cuốn trôi,
Cho đến khi quy Phật.

285. Hãy nhìn Phật ta quy
Hãy nhìn Pháp, pháp nhĩ
Ba minh ta đạt được
Lời Phật dạy là m xong

 

(CXCI) Senaka (Thera. 34)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình, con trai người chị của Trưởng lão Kassapa ở Uruvela, và được đặt tên là Senaka. Khi học về văn hóa Vệ-đà Bà -la-môn, ngà i ở với gia đình. Trong thời ấy dân chúng tổ chức hà ng năm và o tháng Thaggumà (tháng ba) một lỠquán đảnh một bến nước, lỠấy được gọi là Gayà melà (hay ngà y trai giới Gayà ).

Thế Tôn vì lòng thương tưởng đến những người có thể giáo hóa, ở lại gần bờ sông. Và khi quần chúng tụ họp lại, Senaka cũng đến, nghe bậc Ðạo Sư thuyết giảng được cảm hóa xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Sau đó, suy tuởng đến sự thắng trận của mình, ngà i cảm thấy hân hoan, và ứng khẩu nói lên những bà i kệ nà y

286. Thật tốt là nh cho ta,
Khi ở thà nh Gayà ,
Trong tháng lỠmùa xuân,
Tháng tên Phagguna,
Ta thấy bậc Chánh Giác,
Thuyết Chánh pháp tối thượng.

287. Bậc có hà o quang lớn,
Là Ðạo Sư hội chúng,
Ðạt được vị tối thắng,
Bậc lãnh đạo nhiếp chúng,
Chiến thắng giới Trời, Người,
Bậc thấy khó cân lường.

288. Ðại long tượng, đại hùng,
Ðại quang minh, vô lậu,
Mọi lậu hoặc đoạn tận,
Ðạo Sư, không sợ hãi.

289. Lâu nay ta uế nhiỠm,
Bị tà kiến trói buộc,
Nay chính Thế Tôn ấy,
Giải thoát Senaka,
Thoát khỏi mọi buộc rà ng,
Ðược tự tại , giải thoát
.

 

(CXCII) Sambhùta (Thera. 34)

Trong thời Ðức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình có giai cấp, và sau khi bậc Ðạo Sư tịch diệt, ngà i được Ananda giáo hóa, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Ngà i sống trong an lạc giải thoát, cho đến khi một trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, các Tỷ-kheo Vajjì đề xướng mười tà pháp bị Trưởng lão Niyasa và các Tỷ-kheo Kà lanndaka chống lại và một kỳ kiết tập được tổ chức với bảy trăm vị A-la-hán. Ngà i Sambhùta, bị xúc động bởi hà nh động xuyên tạc Pháp và Luật, nói lên những bà i kệ nà y và tuyên bố chánh trí của ngà i:

290. Ai khi phải từ từ
Lại lội qua gấp gấp,
Ai khi phải lội gấp,
Lại từ từ lội qua,
Kẻ ngu thiếu chánh lý,
Ði đến cảnh khổ đau.

291. Lợi ích bị tổn giảm,
Như trăng và o thời đen,
Gặp phải sự ô nhục,
Chống đối các bạn bè.

292. Ai khi phải từ từ,
Lội qua rất từ từ,
Ai khi phải lội gấp,
Lội qua thật gấp gáp,
Kẻ trí có chánh lý,
Ði đến cảnh an lạc.

293. Lợi ích được viên mãn,
Như trăng và o thời sáng,
Ðược danh tiếng vinh dự,
Không chống đối bạn bè.

 

(CXCIII) RÃ hula (Thera. 35)

Ngà i là con của đức Phật và công chúa Yasodhà ra, và được nuôi dưỡng với các hoà ng tử khác. Trường hợp ngà i xuất gia đã được ghi trong tập Khandhaka. Nhờ những lời dạy trong nhiều bà i kinh, trí tuệ ngà i thuần thục và phát triển thiền quán, ngà i chứng quả A-la-hán. Suy tư đến sự thắng trận của mình, ngà i nói lên chánh trí:

294. Nhờ ta được đầy đủ,
Hai đức tánh tốt đẹp,
Ðược bạn có trí gọi,
'Ra-hu-la may mắn'
Ta là con đức Phật,
Ta lại được Pháp nhãn.

295. Các lậu hoặc ta đoạn,
Không còn có tái sanh,
Ta là bậc La-hán,
Ðáng được sự cúng dường.
Ba minh ta đạt được,
Thấy đuợc giới bất tử.

296. Bị dục là m mù quáng,
Bị lưới tà bao trùm,
Khát ái là m mà n che,
Bao trùm che phủ kín.
Do phóng dật trói buộc,
Như cá mắc mắt lưới.

297. Ta vượt qua dục ấy,
Cắt đứt ma trói buộc,
Nhổ lên gốc khát ái,
Ta mát lạnh tịch tịnh.

 

(CXCIV) Candana (Thera. 35)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i tái sanh trong một gia đình già u có và đặt tên là Candana, ngà i sống một đời sống gia đình cho đến khi ngà i được nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp. Và chứng quả Dự Lưu. Khi ngà i sanh được một người con, ngà i xuất gia, chọn lựa một đề tà i thiền quán và sống ở trong rừng. Ði đến Sà vatthi để yết kiến bậc Ðạo Sư, ngà i ở trong một bãi tha ma, vợ ngà i nghe tin ngà i đến, liền trang điểm, đem con theo, nghĩ rằng: 'Với nhan sắc nà ng có thể khiến ngà i từ bỏ xuất gia'. Ngà i thấy nà ng từ xa đi đến nghĩ cách để thoát khỏi bị nà ng cám dỗ, phát triển thiền quán và chứng được sáu thắng trí. Ngà i thuyết giảng cho nà ng, khiến nà ng qui y và thọ các giới. Rồi ngà i trở lui ở chỗ cũ của ngà i. Khi các Tỷ-kheo bạn hỏi ngà i: 'Các căn của bạn chói sáng, bạn đã chứng sự thực gì?'. Ngà i nói lên quả chứng của mình, và với những bà i kệ nà y, chứng minh chánh trí của mình.

298. Với và ng che phủ kín,
Chúng nữ tỳ vây quanh,
Mang theo đứa con thơ,
Người vợ đến với ta.

299. Thấy mẹ của con ta,
Từ xa đang đi đến,
Khéo trang điểm đẹp đẽ,
Như ma gieo bẫy mồi.

300. Rồi ta tự tác ý,
Như lý khởi tư duy,
Các hiểm nguy hiển lộ,
Nhà m chán, ta an trú.

301. Và tâm ta giải thoát,
Thấy pháp nhĩ là vậy,
Ba minh chứng đạt được,
Lời Phật dạy là m xong
.

 

(CXCV) Dhammika (Thera. 35)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình Bà -la-môn ở Kosala, tên là Dhammika. Khi Jetavana (Kỳ Viên) được dâng cúng, ngà i khởi lòng tin, và xuất gia. Sống tại một tinh xá ở là ng, ngà i cảm thấy bất mãn và khó chịu đối với các công việc các Tỷ-kheo đến tinh xá. Do vậy các Tỷ-kheo đều bỏ đi và ngà i là m chủ một mình một ngôi tinh xá. Một cư sĩ báo cáo sự việc lên bậc Ðạo Su, bậc Ðạo Sư cho gọi ngà i lên để giải thích. Theo lời các Tỷ-kheo yêu cầu, ngà i nói lên những bà i kệ như sau:

302. Pháp che chở hộ trì,
Người hà nh trì Chánh pháp,
Pháp đem lại an lạc,
Cho người khéo hà nh pháp,
Ðây là những lợi ích,
Khi pháp khéo hà nh trì,
Người hà nh trì Chánh pháp,
Không đi xuống ác thú.

303. Cả hai pháp, phi pháp,
Kết quả không giống nhau;
Phi pháp, dẫn địa ngục,
Pháp đưa đến cõi là nh.

304. Do vậy, đối Chánh pháp,
Khởi ý muốn hà nh trì,
Tâm tư sanh hoan hỷ,
Khéo thiện lai như vậy.
Vững trú trên Chánh pháp,
Ðệ tử bậc Thiện Thệ,
Sáng suốt tiến bước lên,
Quy y bậc tối thượng.

305. Phá vỡ cội ung nhọt,
Nhổ lên lưới ái triền,
Luân hồi được đoạn tận,
Không còn có sanh y,
Như trăng và o ngà y rằm,
Trong đêm thanh trong sáng.

Khi Thế Tôn dạy ba bà i kệ trên, Dhammika trên chỗ ngồi phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Ðể nói lên quả chứng của mình cho bậc Ðạo Sư rõ, ngà i nói lên bà i kệ cuối cùng để nói lên chánh trí của ngà i.

 

(CXCVI) Sabbaka (Thera. 35)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh ở Sà vatthi trong một gia đình Bà -la-môn, ngà i nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lựa chọn một đề tà i để thiền quán, ngà i đi đến tinh xá Lonagiri, trên bờ sông Ajakaranì và tại đấy, sau một thời gian chứng quả A-la-hán. Ði đến Sà vatthi để yết kiến bậc Ðạo Sư, ngà i ở lại một thời gian và được bà con đón tiếp. Sau khi khuyên các bà con quy y và giữ giới, ngà i muốn trở về chỗ cũ. Các bà con yêu cầu ngà i ở lại để được bà con cúng dường, nhưng ngà i nói cho họ rõ vì sao ngà i đến đây, và sự ưa thích đời sống độc cư. Ngà i nói lên bà i kệ tán thán trú xứ của ngà i:

306. Khi ta thấy con cò,
Trương đôi cánh trắng tinh,
Sợ hãi đám mây đen,
Tìm chỗ kín ẩn nấp;
Khi ấy chính con sông,
Ajakaranì,
Ðem hoan hỷ cho ta.

307. Khi ta thấy con cò,
Trương đôi cánh trắng sạch,
Sợ hãi đám mây đen,
Tìm hang để ẩn nấp,
Nhưng tìm không có thấy.
Khi ấy chính con sông,
Ajakaranì,
Ðem hoan hỷ cho ta.

308. Ai lại không thích thú,
Khi thấy ở tại đây,
Trên cả hai dãy bờ,
Có hà ng cây Jambu,
Là m chói sáng bờ sông,
Sau lưng cái hang lớn.

309. Hãy nghe những con nhái,
Khéo thoát những đà n rắn,
Kêu lên niềm hoan hỷ,
Với tiếng kêu nhẹ nhà ng:
Nay không phải là thời,
Buông thả với suối rừng,
Thật an ổn con sông
Ajakaranì,
Thoải mái và yên là nh,
Thật an vui thích thú
!

Rồi các bà con thuận để ngà i đi. Vì ngà i thích sống nhà n tịnh, đây trở thà nh lời tuyên bố chánh trí của ngà i.

 

(CXVII) Mudita (Thera 36)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình thường dân và được đặt tên là Mudita. Khi ngà i đến tuổi trưởng thà nh , dòng họ ngà i vì một và i nguyên nhân, bị vua chống đối Mudita, quá sợ vua nên bỏ chạy, đi và o rừng và sống gần trú xứ của một Trưởng lão đã chứng quả A-la-hán. Vị nà y thấy ngà i quá sợ hãi, bảo ngà i chớ có sợ. Ngà i hỏi cần phải bao nhiêu thời gian mới khỏi tai nạn, vị A-la-hán nói cần phải bảy hay tám tháng, ngà i nói ngà i không thể đợi lâu như thế nên xin xuất gia. Vị Trưởng lão cho phép ngà i được xuất gia. Ngà i xuất gia, học đạo, khởi lòng tin, không còn sợ hãi nữa, và tu tập thiền quán. Chưa chứng được quả A-la-hán, ngà i nguyện không rời khỏi tinh xá cho đến khi chứng quả và cuối cùng ngà i đã thà nh công. Sau đó, ngà i sống trong an lạc giải thoát, các Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh hỏi ngà i là m sao ngà i thà nh đạt được chí nguyện, ngà i nói lên kinh nghiệm của ngà i trong những bà i kệ như sau:

310. Ðể cứu mạng sống ta,
Ta xuất gia tu hà nh,
Ta được thọ đại giới,
Nhờ vậy được lòng tin,
Ta kiên trì tinh tấn,
Hăng hái ta tiến bước.

311. Dầu thân nà y hủy hoại,
Từng miếng thịt tiêu mòn,
Ðầu khớp xương hai gối,
Ống chân là m ta ngã.

312. Ta sẽ không ăn uống,
Không ra ngoà i tinh xá,
Ta sẽ không nằm xuống,
Không nằm một bên hông,
Nếu mũi tên tham ái,
Chưa được rút nhổ lên.

313. Hạnh ta sống như vậy,;
Hãy nhìn ta tinh cần,
Ba minh ta đạt được,
Lời Phật dạy là m xong.

[ ^ ]


Chương V

-ooOoo-

Phẩm Năm Kệ


(CXCVIII) RÃ jadatta (Thera. 37)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình của những người lữ hà nh, cha mẹ gọi ngà i là Rà jadatta (Vua ban cho), vì rằng sinh được ngà i là nhờ cha mẹ cầu nguyện Vesavana, một vị thiên thần hư không. Khi đến tuổi trưởng thà nh, ngà i một lần dẫn năm trăm cỗ xe hà ng hóa đến Rà jagaha (Vương Xá); tại đấy ngà i tiêu tất cả tiền, tiêu một ngà n đồng cho một kỹ nữ đẹp, đến nỗi ngà i hết cả tiền, không có đủ ăn, phải đi lang thang trong đói khổ. Rồi ngà i đến tinh xá Trúc Lâm (Veluvana) với các cư sĩ khác, tại đấy bậc Ðạo Sư đang thuyết pháp với một thính chúng rất lớn. Rồi Rajadatta, ngồi ở phía ngoà i thính chúng nghe, khởi lòng tin và xuất gia. Thực hà nh hạnh đầu đà , ngà i sống trong một nghĩa địa.

Rồi một nhà lữ hà nh khác cũng tiêu hết một ngà n đồng cho người kỳ nữ, nhưng trên tay người nà y có một chiếc nhẫn rất có giá trị và người kỹ nữ thèm muốn lấy chiếc nhẫn. Nà ng cho người đánh cắp. Nhưng người hầu hạ của người lữ hà nh tin cho cảnh sát biết, đến lục soát nhà nà ng giết nà ng và quăng thân nà ng trong nghĩa địa.

Trưỏng lão Rajadatta, đang đi tìm một đối tượng để quán tưởng, thấy được thi hà i của người kỹ nữ. Ngà i tập trung tư tưởng, nhưng các phần thi hà i nà ng chưa bị chó hay chó rừng ăn, là m ngà i dao động và chi phối ngà i. Ngà i lấy là m ảo não buồn phiền, lánh xa đi một lúc rồi lại bắt đầu tự mình khích lệ, tu thiền, phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán.

Rồi suy tư trên thà nh công của mình, cảm thấy hoan hỷ phấn khởi, ngà i nói:

314. Một Tỷ-kheo đi đến
Tại một bãi tha ma,
Thấy thân một đà n bà ,
Bị quăng tại chỗ ấy,
Vất bỏ trong nghĩa địa,
Là m mồi cho sâu ăn.

315. Có kẻ sinh nhà m chán,
Thấy thân chết khốn nạn,
Trong ta, dục tham hiện,
Như mù, ta bị trói.

316. Mau hơn cơm sôi trà o,
Chỗ ấy, ta đi thoát,
Chánh niệm, ta tỉnh giác,
Ta đến, ngồi một bên.

317. Rồi ta tự ý tác,
Như lý khởi tư duy,
Các hiểm nguy hiển lộ,
Nhà m chán ta an trú.

318. Và tâm ta giải thoát,
Thấy Pháp nhĩ là vậy,
Ba minh chứng đạt được,
Lời Phật dạy là m xong.

 

(CXCIX) Subhùta (Thera. 37)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình thường dân ở Magadha, tên là Subhùta, ngà i không thể sống trong gia đình, nên bỏ nhà là m nguời du sĩ. Không thấy trong bộ phái của mình cái gì là chân lý và thấy Upatissa, Kolita, Sela sống hạnh phúc hoan hỷ sau khi tu hà nh, ngà i khởi lòng tin giáo lý đức Phật và xin xuất gia. Sau khi lấy được cảm tình các vị giáo thọ sư và truyền pháp sự, ngà i và o nhập thất với một đề tà i thiền quán. Nhờ phát triển thiền quán, ngà i chứng quả A-la-hán.

Rồi ngà i tuyên bố chánh trí của ngà i bằng cách ôn lại sự đau khổ khi tu hà nh và sự hoan hỷ khi ngà i được tu thiền, ngà i nói lên bà i kệ:

319. Ðặt mình và o tại chỗ,
Không được cho thích đáng,
Một người muốn là m việc,
Nhưng không được thà nh tựu
Như vậy công việc ấy,
Ðược xem bị thất bại.

320. Nếu từ bỏ phần thắng,
Gốc khổ được rút lên,
Nó giống kẻ đánh bạc,
Vận rủi quăng con bà i,
Nếu nó quăng tất cả,
Nó chẳng khác người mù,
Không nhìn thấy con đường,
Bằng phẳng, không bằng phẳng.

321. Hãy nói điều có là m,
Không nói điều không là m,
Bậc Hiền trí rõ biết,
Người chỉ nói không là m.

322. Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc nhưng không hương,
Cũng vậy lời khéo nói,
Có là m, có kết quả.

323. Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc lại không hương,
Cũng vậy lời khéo nói
Không là m không kết quả.

 

(CC) Girimà nanda (Thera. 38)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i được sanh ở Rà jagaha (Vương Xá) con trai của vị cố vấn nghi lỠcho vua Bimbisà ra (Tần-bà -sa-la). Ngà i thấy uy lực và uy nghi của đức Phật khi đức Phật dự hội ở Rà jagaha, và xin xuất gia. Trong thời kỳ học tập, ngà i sống trong một thời gian tại một ngôi là ng rồi trở lui lại thà nh phố để đảnh lỠÐức Phật. Vua Bimbisà ra nghe tin ngà i tới, đến yết kiến ngà i và nói ngà i hãy ở lại đây, vua xin lo liệu tất cả. Vì vua nhiều việc nên quên đi lời hứa, và ngà i phải sống giữa trời. Và thần mưa không mưa sợ là m ngà i ướt. Rồi vua Bimbisà ra, thấy trời hạn hán nên xây dựng một am thất cho ngà i. Và ngà i sống trong am thất ấy cố gắng tu hà nh tinh tấn, quyết tâm nỗ lực, tu tập thiền định, thiền quán, chứng được quả A-la-hán. Rồi hoan hỷ với sự kiện nà y, ngà i nói lên lời chánh trí của ngà i trong khi trời bắt đầu đổ mưa.

324. Trời mưa như bà i ca,
Khéo hát với nhạc điệu,
Ta ngồi trong am thất,
An lạc, được che chở,
Tại đấy ta an trú,
Thoải mái và an tịnh,
Thần mưa, nếu ngươi muốn,
Hãy mưa, hãy mưa đi.

325. Trời mưa như bà i ca
Khéo hát với nhạc điệu,
Ta ngồi trong am thất,
An lạc, được che chở.
Tại đấy ta an trú,
Tâm tư thật tịnh chỉ,
Thần mưa, nếu ngươi muốn,
Hãy mưa, hãy mưa đi.

326. Trời mưa như bà i ca,
Khéo hát với nhạc điệu,
Ta ngồi trong am thất,
An lạc, đuợc che chở.
Tại đấy ta an trú,
Tâm tư, ly tham ái,
Thần mưa nếu ngươi muốn,
Hãy mưa, hãy mưa đi.

327. Trời mưa như bà i ca,
Khéo hát với nhạc điệu,
Ta ngồi trong am thất,
An lạc được che chở.
Tại đấy ta an trú,
Tâm tư ly sân hận,
Thần mưa nếu ngươi muốn,
Hãy mưa, hãy mưa đi.

328. Trời mưa như bà i ca,
Khéo hát với nhạc điệu,
Ta ngồi trong am thất,
An lạc, được che chở.
Tại đấy ta an trú,
Tâm tư ly si mê,
Thần mưa nếu ngươi muốn,
Hãy mưa, hãy mưa đi.

 

(CCI) Sumana (Thera. 38)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình thường dân, ở Kosala, tên là Sumana, ngà i lớn lên trong hoà n cảnh may mắn. Anh mẹ ngà i trở thà nh vị A-la-hán, sống ở trong rừng, và khi Sumana đến tuổi trưởng thà nh, cậu ngà i cho ngà i xuất gia và trao cho ngà i đề tà i để thiền quán về phía giới hạnh. Cuối cùng, khi Bốn thiền và Năm thắng trí đã chứng được, vị Trưởng lão chỉ cho ngà i phương pháp thiền quán, và nhờ vậy ngà i chứng quả A-la-hán. Khi đi đến người cậu của ngà i, ngà i được hỏi về sự thà nh công và ngà i nói lên chánh trí của ngà i như sau:

329. Ðiều giáo thọ sư muốn,
Tôi biết trong chánh pháp,
Với tôi mong bất tử,
Ðiều phải là m, là m xong.

330. Pháp tôi đạt, tự chứng,
Không phải chỉ nghe suông,
Trí tôi được thanh tịnh,
Không còn có nghi ngờ,
Mong tôi đứng gần ngà i,
Nói lên điều xác chứng.

331. Tôi biết các đời trước,
Thiên nhãn tôi thanh tịnh,
Mục đích tôi đạt được,
Lời Phật dạy là m xong.

332. Học tập, không phóng dật,
Khéo nghe lời ngà i dạy,
Mọi lậu hoặc, tôi đoạn,
Nay không còn tái sanh.

333. Ngà i giảng tôi thánh giới,
Từ mẫn ngà i hộ trì.
Ngà i dạy, không vô ích,
Tôi đệ tử học ngà i
.

 

(CCII) Vaddha (Thera. 38)

Sanh trong đời đức Phật hiện tại, tại thà nh Dhamkaccha trong một dòng họ thường dân, ngà i được đặt tên là Vaddha. Khi lớn lên, mẹ ngà i cảm thấy âu lo vì vấn đề tái sanh và chết, giao con lại cho bà con, rồi bà xuất gia giữa các Tỷ-kheo-ni. Sau bà trở thà nh một vị A-ha-hán. Con bà , cũng xuất gia dưới sự hướng dẫn của Veludanta, học lời dạy đức Phật, trở thà nh một pháp sư giỏi có tiếng. Một hôm, suy nghĩ đến trách nhiệm của mình, ngà i nghĩ: 'Nay ta sẽ đến thăm mẹ ta một mình và không đắp y ngoà i'. Rồi ngà i đi đến trú xứ các Tỷ-kheo-ni. Mẹ ngà i thấy ngà i vậy, chỉ trích ngà i sao đi đến trú xứ Tỷ-kheo-ni một mình và không đắp y ngoà i. Ngà i nhận thấy mình có lỗi, trở về tinh xá, ngồi trong phòng thiền định và chứng quả A-la-hán. Ngà i nói lên chánh trí của ngà i, nhờ lời chỉ trích của mẹ ngà i:

334. Là nh thay, bà mẹ ta,
Kích thích, khích lệ ta,
Nghe lời dạy của bà ,
Ðược dạy bởi bà mẹ,
Ta tinh cần, tinh tấn,
Chứng Bồ-đề vô thượng.

335. Ta xứng được cúng dường,
Ba minh, thấy bất tử.
Ta chứng quả La-hán,
Xứng đáng được cúng dường,
Ba minh đã chứng đạt,
Thấy được quả bất tử,
Chiến thắng quân Ma vương,
Ta sống, không lậu hoặc.

336. Các lậu hoặc, nội, ngoại,
Trước đã có trong ta,
Tất cả bị nhổ sạch,
Không còn khởi tên nữa.

337. Bà chị tâm nhu thuận,
Nói lên ý nghĩa nà y,
Trong con và trong ta,
Cỏ rừng không còn nữa.

338. Khổ đã được chấm dứt,
Thân nà y thân cuối cùng,
Ðường sanh tử đứt đoạn,
Nay không còn tái sanh.

 

(CCIII) Nadikassapa (Thera. 39)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình Bà -la-môn ở Magadha (Ma-kiệt-đà ), là anh của Kassapa. Ngà i thiên hẳn đời sống xuất gia, không ưa thích đời sống gia đình, và ngà i trở thà nh một ẩn sĩ. Với ba trăm đồ chúng, ngà i sống một đời sống ẩn sĩ trên bờ sông Neranjarà (Ni-liên-thiền), và do vậy ngà i được biết và được gọi là Kassapa ở bên sông (Nadi-Kassapa). Ngà i được Thế Tôn giáo hóa cùng với hai anh em, như đã được ghi trong Luật tạng. Sau khi Thế Tôn thuyết kinh Lửa Bốc Cháy, ngà i chứng quả A-la-hán. Sau đó, suy tư trên thiền chứng, ngà i nói lên chánh trí của mình, bằng cách nhổ lên các sai lầm:

339. Thật lợi ích cho ta
Ðức Phật đến tại đây,
Ðến con sông tên gọi
Sông Nê-răn-ja-ra,
Ta nghe pháp ngà i giảng
Ðoạn tận các tà kiến

340. Ta hà nh lỠtế tự,
Ðọc cao lời tế lỠ,
Ta đốt lên lửa thiêng,
Ðổ cúng dường và o lửa,
Nghĩ rằng ta thanh tịnh,
Ta thật mù, phà m phu.

341. Lang thang rừng tà kiến,
Bị giới cấm, mờ mắt,
Không tịnh, nghĩ thanh tịnh,
Mù lòa, ta không thấy

342. Ta đoạn tận tà kiến,
Mọi sanh hữu phá tan,
Ta đốt lên ngọn lửa,
Xứng đáng được cúng dường,
Ta cúi mình đảnh lỠ,
Bậc Như Lai Ðiều Ngự.

343. Mọi si mê, ta đoạn,
Hữu ái được phá hủy,
Ðường sanh tử đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.

 

(CCIV) Gayà -Kassapa (Thera. 39)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình Bà -la-môn, câu chuyện ngà i giống như câu chuyện của Nadì-Kassapa, chỉ khác ngà i chỉ có hai trăm đệ tử và sống ở Gayà , ngà i nói lên chánh trí bằng cách tán thán tẩy sạch các điều ác như sau:

344. Buổi sáng, trưa, buổi chiều,
Ba lần trong một ngà y,
Ta xuống dòng Gà -yà ,
Sông Ga-ya-phay-gu.

345. Các điều ác, ta là m
Trong các đời sống trước,
Nay đây ta rửa sạch,
Xưa ta tin là vậy.

346. Nghe lời nói khéo giảng,
Con đường đủ pháp nghĩa,
Với ý nghĩa chân thật,
Ta như lý quán sát.

347. Ta tắm sạch mọi ác,
Ta không uế, trong sạch.
Ta trong sạch thuần tịnh,
Thừa tự bậc trong sạch,
Ta chính là con trai,
Con chính tông đức Phật.

348. Lặn và o dòng Tám chánh,
Ta gột sạch mọi ác,
Ba minh ta đạt được,
Lời Phật dạy là m xong.

 

(CCV) Vakkali (Thera. 39)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh ở Sà vatthi, trong một dòng họ Bà -la-môn và được gọi tên Vakkali. Khi đến tuổi trưởng thà nh, và học xong ba tập Vệ-đà , trở thà nh thuần thục trong những thà nh tích Bà -la-môn, ngà i thấy bậc Ðạo Sư, ngà i nhìn không chán thân hình tuyệt vời cá»§a đức Phật, và ngà i đi theo bậc Ðạo Sư. Khi ngà i trở về nhà , ngà i nghÄ© nếu ở lại nhà , ngà i sẽ không có dịp luôn luôn thấy được đức Phật. Do vậy, ngà i xuất gia, và từ khi ăn uống và tắm rá»­a, ngà i để toà n thì giờ để chiêm ngưỡng đức Phật. Bậc Ðạo Sư, chờ đợi thiền quán cá»§a ngà i được chín muồi, nên trong một thời gian dà i, đức Phật không nói gì. Một hôm đức Phật hỏi: 'Nà y Vakkali, thân bất tịnh nà y mà Thầy thấy, đối với Thầy như thế nà o? Ai thấy Pháp người ấy tức thấy Ta. Vì rằng thấy Pháp tức là thấy Ta, và thấy ta tức là thấy Pháp'. Nghe lời nói đức Phật, ngà i không chiêm ngưỡng thân đức Phật nữa, nhưng ngà i chưa bỏ đi xa được. Bậc Ðạo Sư nghÄ© rằng: 'Tá»·-kheo nà y, nếu không được xúc động mạnh, sẽ không thức tỉnh’, nên và o cuối ngà y an cư mùa mưa, đức Phật nói: 'Nà y Vakkali, hãy đi đi'. Nghe bậc Ðạo Sư nói vậy, ngà i tá»± nghÄ© ngà i phải đi, nhưng nghÄ© rằng đời ngà i có ý nghÄ©a gì, nếu không được gặp bậc Ðạo Sư, nên ngà i có ý định leo lên núi Linh Thứu để gieo mình xuống vá»±c núi tá»± tá»­. Ðức Phật biết được Vakkali có ý định như vậy, nên sợ ngà i phá hoại những điều kiện chứng được thánh quả, nên hiện ra trước mặt ngà i và đọc lên bà i kệ:

Tỷ-kheo nhiều hân hoan,
Tịnh tín giáo pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh,
Các hạnh an tịnh lạc
.

Ðức Phật đưa tay và nói: 'Hãy đến, nà y Tỷ-kheo!' Vakkali rất lấy là m sung sướng được nghe lời Phật dạy, thấy được điều gì mình đang là m, đứng trên hư không suy tư đến lời Phật dạy, chứng quả A-la-hán với sự hiểu biết về nghĩa và về pháp. (Ðây là những tà i liệu được tập sớ của bộ Anguttara Nikà ya và tập sớ của Dhammapaca ghi chép lại).

Theo những tà i liệu khác, Vakkali chưa chứng quả A-la-hán, sau khi nghe lời dạy của bậc Ðạo Sư, ngà i ở trên núi Linh Thứu, phát triển thiền quán. Thế Tôn cho ngà i một đề tà i tu tập, nhưng vì quá đói và bị tê liệt nên ngà i không chứng quả được. Biết vậy, Thế Tôn nói với ngà i như sau:

349. Bị bệnh gió chi phối,
Thầy sống trong rừng sâu,
Chỗ khất thực hạn chế,
Thân gầy mòn ốm yếu,
Tỷ-kheo sẽ là m gì?
Với thân thể như vậy?

Vị Trưởng lão nói lên sự hân hoan thường xuyên của mình, nhờ được sự an lạc siêu nhân:

350. Thân con được trà n ngập,
Với hỷ lạc tỏa rộng,
Dầu có bị gầy ốm,
Con sẽ sống trong rừng.

351. Tu tập Bốn niệm xứ,
Năm căn và Năm lực,
Tu tập các Giác chi,
Con sẽ sống trong rừng.

352. Con thấy bạn đồng tu,
Sống hòa hiệp, dõng mãnh,
Luôn kiên trì tinh tấn,
Con sẽ sống trong rừng.

353. Tùy niệm Phật thiền định,
Bậc Tối thượng Ðiều Ngự,
Ngà y đêm không biếng nhác,
Con sẽ sống trong rừng
.

Khi nói vậy, ngà i phát triển thiền quán và ngay khi ấy chứng quả A-la-hán.

 

(CCVI) Vigitasena (Thera. 39)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh ra trong một gia đình huấn luyện voi ở nước Kosala, và được đặt tên là Vigitasena. Những người cậu bên ngoại, SenaUpasena cả hai đã xuất gia và chứng quả A-la-hán. Vigitasena sau khi đã thuần thục nghề của mình, thấy thần thông song hà nh của bậc Ðạo Sư khởi lòng tin, và theo bản năng tự nhiên, xin xuất gia dưới sự hướng dẫn của các người cậu. Nhờ các người cậu giảng dạy, ngà i đạt đến thiền quán, nhưng tâm trí ngà i thiên về lý luận chạy theo những vật bên ngoà i, nên ngà i giảng dạy cho tâm trí ngà i như sau:

354. Ta sẽ chế ngự ngươi,
Như cửa khóa ngăn voi,
Ta sẽ không thúc ngươi,
Nà y tâm trong điều ác,
Ngươi chính là lưới dục,
Ngươi do thân sanh ra.

355. Chế ngự ngươi không đi,
Như voi, không cửa mở,
Nà y tâm, kẻ phù thủy,
Dầu ngươi cố gắng mãi,
Ngươi không còn lang thang,
Ưa thích là m điều ác.

356. Như người cầm câu móc,
Ngăn mãi voi chưa thuần,
Như người dùng sức mạnh,
Cải hóa kẻ không muốn,
Cũng vậy đối với ngươi,
Ta sẽ cải hóa ngươi.

357. Như bánh xe tuyệt hảo,
Khéo huấn luyện ngựa hay,
Cũng vậy ta điều ngươi,
Dựa lên trên Năm lực.

358. Ta sẽ cột chặt ngươi,
Với chánh niệm vững chắc,
Tự mình đã chế ngự,
Ta sẽ chế ngự ngươi,
Nhờ sức nặng tinh tấn,
Ngươi được ta áp lực,
Do vậy, hỡi nà y tâm,
Ngươi sẽ không xa ta.

 

(CCVII) Yasadatta (Thera. 40)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh trong dòng họ vua Malla, được đặt tên là Yasadatta, ngà i được học ở Takkasilà . Sau khi đi du hà nh vói du sĩ Sabhiya, cả hai đến Sà vatthi, tại đây hỏi Thế Tôn một số câu hỏi. Yasadatta ngồi nghe những câu trả lời, ý muốn ưa chỉ trích: 'Ta sẽ nêu lên những khuyết điểm trong những câu trả lời của Sa-môn Gotama'. Thế Tôn hiểu tâm tư của Yasadatta, nên sau khi nói kinh Sabhiya, Thế Tôn giáo huấn Yasadatta như sau:

359. Với tâm, muốn chỉ trích,
Kẻ ngu nghe lời dạy
Của bậc đã thắng trận,
Người ấy, thái độ vậy,
Rất xa vời Chánh pháp,
Như đất xa bầu trời.

360. Với tâm muốn chỉ trích,
Kẻ ngu nghe lời dạy
Của bậc đã chiến thắng,
Người ấy thái độ vậy,
Tổn giảm xa Chánh pháp,
Như trăng nửa tháng đen.

361. Với tâm muốn chỉ trích,
Kẻ ngu nghe lời dạy
Của bậc đã chiến thắng,
Người ấy thái độ vậy,
Khô cạn trong diệu pháp,
Như cá mắc nước cạn.

362. Với tâm muốn chỉ trích,
Kẻ ngu nghe lời dạy
Của bậc đã chiến thắng,
Người ấy thái độ vậy,
Không lớn trong diệu pháp,
Như giống thối trong ruộng.

363. Ai tâm tư thỏa mãn,
Nghe bậc Thánh giảng dạy,
Từ bỏ mọi lậu hoặc,
Chứng ngộ không dao động,
Ðạt tịch tịnh tối thượng,
Chứng Niết-bà n vô lậu
.

 

(CCVIII) Sonakutikanna (Thera. 40)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngà i sanh ở xứ Avanti, trong một gia đình rất già u có, và được đặt tên là Sona. Vì đeo một bông tai đắt giá, ngà i cũng được gọi là Koti hay Kutikanna (người có lỗ tai đắt giá). Lớn lên, ngà i trở thà nh một điền chủ, và khi Trưởng lão Mahà Kaccà na ở gần bên nhà , ngà i cung cấp các vật dụng nhu yếu, nghe Chánh pháp, cuối cùng cảm thấy dao động, xin xuất gia với Trưởng lão Kaccà na. Rủ thêm mười người một cách khó khăn, ngà i xin phép vị Trưởng lão đi đến Sà vatthi để yết kiến Thế Tôn. Ðược phép ngủ đêm trong chái phòng đức Phật, và buổi sáng được mời tụng đọc, ngà i được khen khi đọc mười sáu Athaka. Khi đọc đến câu: 'Thấy sự nguy hiểm của một đời thế tục', ngà i phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán.

Khi ngà i được đức Bổn Sư bằng lòng về ba vấn đề mà vị Trưởng lão Mahà Kaccà na giao cho ngà i hỏi, ngà i trở về chỗ cũ và thưa lại với bậc giáo thọ sư của mình (Sự kiện nà y được ghi chép đầy đủ trong tập Udà na và tập sớ Anguttara, nhưng ở đây lại nói ngà i chứng quả A-la-hán khi còn học tập với vị giáo thọ sư của mình).

Rồi, trong khi sống, thọ hưởng an lạc giải thoát, ngà i ôn lại sự thanh đạt của mình, và với tâm hoan hỷ, ngà i nói lên những bà i kệ như sau:

364. Ta thọ được đại giới,
Ta giải thoát vô lậu,
Thế Tôn, ta được thấy,
Ta sống chung tinh xá.

365. Thế Tôn, trải nhiều ngà y
Sống ngay ở ngoà i trời,
Ðạo Sư khéo an trú,
Rồi mới và o tịnh xá.

366. Trải y Tăng-già -lê
Gotama nằm xuống,
Như sư tử hang đá,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.

367. Khéo lựa lời tốt là nh,
Ðệ tử bậc Chánh Giác,
Trước đức Phật tuyệt hảo,
Sona thuyết diệu pháp.

368. LiỠu Tri Năm thủ uẩn,
Tu tập con đường Thánh
Ðạt an tịnh tối thượng,
Chứng Niết-bà n vô lậu.

 

(CCIX) Kosiya (Thera. 41)

Trong thời Ðức Phật hiện tại, ngà i sanh trong một gia đình Bà -la-môn ở Magadha và được đặt tên là Sona. Khi đến tuổi trưởng thà nh, ngà i hay đến nghe Trưởng lão Sà riputta thuyết pháp, tin tưởng ở nơi giáo lý, xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Rồi ôn lại quá trình giải thoát của mình, ngà i tán thán đức hạnh và sức mạnh quyết định hà nh thiện của các bậc Thánh với những bà i kệ sau đây:

369. Ai hiểu những lời dạy
Của các bậc Ðạo Sư,
Bậc trí sống an trú,
Phát sanh lòng ái niệm,
Bậc trí có lòng tin,
Biết thù thắng trong Pháp.

370. Vị khi nạn lớn khởi,
Suy tư không tê liệt,
Bậc trí có kiên trì,
Biết thù thắng trong Pháp.

371. Ai vững trú như biển,
Không dục, trí tuệ sâu,
Thấy rõ chân nghĩa lý,
Tế nhị và vi diệu,
Bậc trí trú bất động,
Biết thù thắng trong Pháp.

372. Bậc nghe nhiều, trì Pháp,
Hà nh pháp và Tùy pháp,
Bậc trí gọi như thị,
Biết thù thắng trong Pháp.

373. Ai hiểu nghĩa lời nói,
Biết nghĩa, hà nh như thật,
Bậc trí gọi nội nghĩa,
Biết thù thắng trong Pháp.


[Phẩm trước][Mục lục][Phẩm kế][ ^ ]


[Trở về trang Thư Mục]

Revised: 21-01-2026