PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY
SUTTAPIṬAKA - KHUDDAKANIKĀYA
Đạo Vô
Ngại Giải
Paṭisambhidāmagga
Bhikkhu Ñāṇamoli dịch
từ tiếng Pāḷi sang tiếng Anh:
THE PATH OF DISCRIMINATION
Nguyễn Văn Ngân dịch
từ tiếng Anh sang tiếng Việt
2006
|
Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode) |
|
[CHƯƠNG XX-XXIV. - TRÍ TRỰC CHỨNG] 413. Thế nào là: (XX) tuệ vốn là trí trực chứng là trí về điều được biết tới? (XXI) tuệ vốn là hiểu biết trọn vẹn là trí theo nghĩa thẩm định (tìm hiểu kỹ)? (XXII) từ bỏ là trí theo nghĩa dứt bỏ? (XXIII) tuệ vốn là tu tập là trí theo nghĩa tác dụng duy nhất? (XXIV) Tuệ vốn là thực chứng là trí theo nghĩa thể nghiệm ? 414. Bất cứ trạng thái nào được chứng biết trực tiếp đều được biết tới. Bất cứ trạng thái nào được hiểu biết trọn vẹn đều được thẩm định (tìm hiểu kỹ). Bất cứ trạng thái nào bị từ bỏ đều bị dứt bỏ. Bất cứ trạng thái nào được tu tập đều có tác dụng (hương vị) duy nhất. Bất cứ trạng thái nào được thực chứng đều được thể nghiệm. 415. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ vốn là trí trực chứng là trí về điều được biết tới, tuệ vốn là hiểu biết trọn vẹn là trí theo nghĩa thẩm định (tìm hiểu kỹ); từ bỏ là trí theo nghĩa dứt bỏ; tuệ vốn là tu tập là trí theo nghĩa tác dụng duy nhất; tuệ vốn là thực chứng là trí theo nghĩa thể nghiệm. [88] (so với Vism 606, SA về S i 11) [CHƯƠNG XXV-XXVIII. - BỐN VÔ NGẠI GIẢI] 416. Thế nào là: (XXV) tuệ biết khác biệt về nghĩa là trí vô ngại giải về nghĩa? (XXVI) Tuệ biết khác biệt về ý niệm là trí vô ngại giải về ý niệm? (XXVII) Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là trí vô ngại giải về ngữ pháp? (XXVIII) Tuệ biết khác biệt về biện tài là trí vô ngại giải về biện tài? 417. Năng lực gây ảnh hưởng của tín là một ý niệm, năng lực gây ảnh hưởng của tấn là một ý niệm, năng lực gây ảnh hưởng của niệm là một ý niệm, năng lực gây ảnh hưởng của định là một ý niệm, năng lực gây ảnh hưởng của tuệ là một ý niệm. Năng lực gây ảnh hưởng của tín là một ý niệm, năng lực gây ảnh hưởng của tấn là một ý niệm khác, năng lực gây ảnh hưởng của niệm là một ý niệm khác, năng lực gây ảnh hưởng của định là một ý niệm khác, năng lực gây ảnh hưởng của tuệ là một ý niệm khác. Các năng lực gây ảnh hưởng khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về ý niệm là trí vô ngại giải về ý niệm’. 418. Nghĩa hiểu theo cả quyết là một nghĩa, nghĩa hiểu theo nỗ lực là một nghĩa, nghĩa hiểu theo thiết lập là một nghĩa, nghĩa hiểu theo không phân tâm là một nghĩa, nghĩa hiểu theo thấy là một nghĩa. Nghĩa hiểu theo cả quyết là một nghĩa, nghĩa hiểu theo nỗ lực là một nghĩa khác, nghĩa hiểu theo thiết lập là một nghĩa khác, nghĩa hiểu theo không phân tâm là một nghĩa khác, nghĩa hiểu theo thấy là một nghĩa khác. Các nghĩa khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về nghĩa là trí vô ngại giải về nghĩa’. 419. Có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ năm ý niệm này và có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ năm nghĩa này. Ngôn ngữ cho các ý niệm này là một loại, ngôn ngữ cho những nghĩa này là một loại khác. Các ngôn ngữ khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là trí vô ngại giải về ngữ pháp’. 420. Có trường hợp trí về năm loại ý niệm này và có trường hợp trí về năm loại nghĩa này, và có trường hợp trí về mười loại ngôn ngữ này. Những trường hợp ấy của trí về các loại ý niệm này là một, những trường hợp ấy của trí về các loại nghĩa này là một cái khác. Các trí khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về biện tài là trí vô ngại giải về biện tài’. 421. Tín lực là một ý niệm, tấn lực là một ý niệm, niệm lực là một ý niệm, định lực là một ý niệm, tuệ lực là một ý niệm. Tín lực là một ý niệm, tấn lực là một ý niệm khác, niệm lực là một ý niệm khác, định lực là một ý niệm khác, tuệ lực là một ý niệm khác. [89] Các ý niệm khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về ý niệm là trí vô ngại giải về ý niệm’. 422. Nghĩa của không lay chuyển vì bất tin là một nghĩa, nghĩa của không lay chuyển vì lười biếng là một nghĩa, nghĩa của không lay chuyển vì vô ý là một nghĩa, nghĩa của không lay chuyển vì dao động là một nghĩa, nghĩa của không lay chuyển vì vô minh là một nghĩa. Nghĩa của không lay chuyển vì bất tin là một nghĩa, nghĩa của không lay chuyển vì ăn không ngồi rồi là một nghĩa khác, nghĩa của không lay chuyển vì xao lãng là một nghĩa khác, nghĩa của không lay chuyển vì dao động là một nghĩa khác, nghĩa của không lay chuyển vì vô minh là một nghĩa khác. Các nghĩa khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về nghĩa là trí vô ngại giải về nghĩa’. 423. Có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ năm trạng thái này và [cứ thế như ở đ. 419] ... Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là trí vô ngại giải về ngữ pháp’. 424. Có những trường hợp về trí của năm loại ý niệm... [cứ thế như ở đ. 419] ... Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về biện tài là trí vô ngại giải về biện tài’. 425. Yếu tố giác ngộ của niệm là một ý niệm, yếu tố giác ngộ của tìm hiểu sự thực là một ý niệm, yếu tố giác ngộ của tinh tấn là một ý niệm, yếu tố giác ngộ của hỉ là một ý niệm, yếu tố giác ngộ của tĩnh lặng là một ý niệm, yếu tố giác ngộ của định là một ý niệm, yếu tố giác ngộ của bình thản là một ý niệm. Yếu tố giác ngộ của niệm là một ý niệm,... yếu tố giác ngộ của bình thản là một ý niệm khác. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về ý niệm là trí vô ngại giải về ý niệm’. [90] 426. Nghĩa hiểu theo thiết lập là một nghĩa, nghĩa hiểu theo tìm hiểu sự thực là một nghĩa, nghĩa hiểu theo tinh tấn là một nghĩa, nghĩa hiểu theo thấm nhập là một nghĩa, nghĩa hiểu theo an lạc là một nghĩa. Nghĩa hiểu theo không phân tâm là một nghĩa, nghĩa hiểu theo tư duy là một nghĩa khác. Nghĩa hiểu theo thiết lập là một nghĩa khác,... Nghĩa hiểu theo tư duy là một nghĩa khác. Các nghĩa khác nhau này được thấu rõ do cùng một trí từ đó chúng được biết đến. Do vậy nói rằng: ‘Tuệ biết khác biệt về nghĩa là trí vô ngại giải về nghĩa’. 427. Có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ bẩy ý niệm này và có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ bẩy nghĩa này. Nghĩa cho các ý niệm này [cứ thế như ở đ. 419] 428. Có những trường hợp về trí của bẩy loại ý niệm này. Có những trường hợp về trí của bẩy loại nghĩa này. Có những trường hợp về trí của mười bốn loại ý niệm này. Có những trường hợp về trí của mười bốn loại ngôn ngữ này. Có những trường hợp về trí của các ý niệm này... [cứ thế như ở đ. 420] 429. Chánh kiến là một ý niệm, chánh tư duy là một ý niệm, chánh ngữ là một ý niệm, chánh hành là một ý niệm, chánh mạng là một ý niệm, chánh tinh tấn là một ý niệm, chánh niệm là một ý niệm, chánh định là một ý niệm. Chánh kiến là một ý niệm,... chánh định là một ý niệm khác. Những ý niệm khác biệt này... 430. Nghĩa hiểu theo thấy là một nghĩa, nghĩa hiểu theo hướng tâm trụ vào là một nghĩa, nghĩa hiểu theo duy trì * là một nghĩa, nghĩa hiểu theo nguồn sanh khởi là một nghĩa, nghĩa hiểu theo làm cho sạch là một nghĩa, nghĩa hiểu theo nỗ lực là một nghĩa, nghĩa hiểu theo thiết lập là một nghĩa khác, nghĩa hiểu theo không phân tâm là một nghĩa khác. Nghĩa hiểu theo thấy là một nghĩa,... [91] nghĩa hiểu theo không phân tâm là một nghĩa khác. Các nghĩa khác nhau này... * nđ: giữ vững 431. Có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ tám ý niệm này và có sự truyền đạt rõ ràng từ-ngữ để chỉ tám nghĩa này. Nghĩa cho các ý niệm này [cứ thế như ở đ. 419] 432. Có những trường hợp về trí của tám loại ý niệm này. Có những trường hợp về trí của tám loại nghĩa này. Có những trường hợp về trí của mười sáu loại ý niệm này. Có những trường hợp về trí của các ý niệm này... [cứ thế như ở đ. 420] 433. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ biết khác biệt về nghĩa là trí vô ngại giải về nghĩa. Tuệ biết khác biệt về ý niệm là trí vô ngại giải về ý niệm. Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là trí vô ngại giải về ngữ pháp. Tuệ biết khác biệt về biện tài là trí vô ngại giải về biện tài’. [CHƯƠNG XXIX-XXXI. - TRÚ VÀ CHỨNG ĐẠT] 434. Thế nào là (XXIX) tuệ biết khác biệt về trú là trí về nghĩa của trú. Là (XXX) tuệ biết khác biệt về chứng đạt là trí về chứng đạt. Là (XXXI) tuệ biết khác biệt về trú và chứng đạt là trí về nghĩa của trú và chứng đạt? 435. Khi hành giả thấy rõ ràng dấu hiệu [của hành vi tạo quả] là hãi hùng và thấy sự diệt đi [của chúng] mỗi lần áp dụng [trí của mình đến các dấu hiệu ấy] vì đã quyết chí về không dấu hiệu [một khía cạnh của nibbana], đây là trú không dấu hiệu [của quán thực tánh]. Khi hành giả thấy rõ ước nguyện [của hành vi tạo quả] là hãi hùng và thấy sự diệt mất [của chúng] mỗi lần áp dụng [trí của mình đến các dấu hiệu ấy] vì đã quyết chí về không ước nguyện [khía cạnh của nibbana], đây là trú trong không ước nguyện [của quán thực tánh]. Khi hành giả thấy rõ sự diễn giải sai lạc [về hành vi tạo quả] là hãi hùng và thấy sự diệt mất [của chúng] mỗi khi vị ấy áp dụng [trí của mình đến các hành vi tạo quả ấy] vì đã quyết chí về tánh không [khía cạnh của nibbana], đây là trú vào tánh không [của quán thực tánh]. 436. Khi thấy rõ dấu hiệu ấy là hãi hùng và, nhờ bình thản coi sự xảy ra của các dấu hiệu ấy và chú tâm đến đoạn diệt, nibbana, là không dấu hiệu, hành giả chứng [quả] vì chí đã quyết về không dấu hiệu, đây là chứng không dấu hiệu. Khi thấy rõ ước nguyện là hãi hùng và, [92] nhờ bình thản coi sự xảy ra của các dấu hiệu ấy và chú tâm đến đoạn diệt, nibbana, là không ước nguyện, hành giả chứng đắc [quả] vì chí đã quyết về không ước nguyện, đây là chứng không ước nguyện. Khi thấy rõ sự diễn giải sai lạc ấy là hãi hùng và, nhờ bình thản coi sự xảy ra và chú tâm đến đoạn diệt, nibbana, là tánh không, hành giả chứng [quả] vì chí đã quyết về tánh không, đây là chứng chân không. 437. Khi hành giả thấy rõ dấu hiệu [của hành vi tạo quả] là hãi hùng và thấy sự diệt đi [của chúng] mỗi khi áp dụng [trí của mình đến các dấu hiệu ấy] và nhờ bình thản coi sự xảy ra của các dấu hiệu ấy và chú tâm đến đoạn diệt, nibbana, là không dấu hiệu, hành giả chứng [quả] vì chí đã quyết về không dấu hiệu, đây là trú và chứng không dấu hiệu. Khi... [thay ước nguyện và không ước nguyện bằng dấu hiệu và không dấu hiệu]... Khi... [thay diễn giải sai lạc và tánh không bằng dấu hiệu và không dấu hiệu]... đây là trú và chứng chân không. 438. Khi hành giả thấy rõ dấu hiệu của vật thể là hãi hùng và thấy nó diệt đi mỗi khi áp dụng [trí của mình đến nó] vì chí đã quyết về không dấu hiệu, đây là trú trong không dấu hiệu. Khi... [thay ước nguyện và không ước nguyện]... Khi... [thay diễn giải sai lạc và tánh không]... đây là trú chân không. Khi hành giả thấy rõ dấu hiệu của vật thể là hãi hùng và, nhờ bình thản coi sự xảy ra và chú tâm đến đoạn diệt, nibbana, là không dấu hiệu, hành giả chứng [quả] vì chí đã quyết về không dấu hiệu, đây là chứng không dấu hiệu. Khi... [thay ước nguyện và không ước nguyện]... Khi... [thay diễn giải sai lạc và tánh không]... đây là chứng chân không. Khi hành giả thấy rõ dấu hiệu của vật thể là hãi hùng và thấy nó diệt đi mỗi khi vị ấy áp dụng [trí của mình đến nó] và, nhờ bình thản coi sự xảy ra và chú tâm đến đoạn diệt, nibbana, là không dấu hiệu, hành giả chứng [quả] vì chí đã quyết về không dấu hiệu [đặc tính của nibbana], đây là trú và chứng không dấu hiệu. Khi... [thay ước nguyện và không ước nguyện]... Khi... [93] [thay diễn giải sai lạc và tánh không]... đây là chứng và trú chân không. Khi hành giả thấy rõ dấu hiệu của cảm nghiệm... [và cứ thế lập lại ba đoạn trên với các tập hợp còn lại và cho các ý niệm còn lại của 201 ý niệm được liệt kê ở đ. 5 cho đến]... Khi hành giả thấy rõ dấu hiệu của già và chết... đây là chứng và trú chân không. [94] 439. Trú không dấu hiệu là một; trú không ước nguyện là một cái khác; trú chân không là một cái khác; chứng không dấu hiệu là một; chứng không ước nguyện là một cái khác; chứng chân không là một cái khác; trú và chứng không dấu hiệu là một; trú và chứng không ước nguyện là một cái khác; trú và chứng chân không là một cái khác. 440. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ biết khác biệt về trú là trí về nghĩa của trú, tuệ biết khác biệt về chứng đạt là trí về chứng đạt, tuệ biết khác biệt về trú và chứng đạt là trí về nghĩa của trú và chứng đạt’. [CHƯƠNG XXXII. ĐỊNH CÓ KẾT QUẢ TỨC THỜI] 441. Thế nào là tuệ cắt đứt phiền não nhờ sự tinh khiết của không phân tâm là trí về định [có kết quả] tức thời? 442. Nhờ xuất ly, định là không phân tâm tức là nhất tâm; nhờ có định ấy nên trí khởi lên; nhờ có trí ấy, nên phiền não bị đoạn diệt. Kể như thế thì định có trước và trí có sau; nhờ trí đó nên nhiễm lậu bị diệt trừ. Như vậy nên nói: ‘tuệ cắt đứt phiền não nhờ sự tinh khiết của không phân tâm là trí về định có kết quả tức thời’. Phiền não: Các phiền não này là gì? Đây là phiền não về ái dục, phiền não trở thành, phiền não về quan điểm và phiền não về vô minh. Các phiền não này bị đoạn diệt ở đâu? Ở đạo lộ nhập giòng, phiền não về quan điểm hoàn toàn bị đoạn diệt, và các phiền não về ái dục, trở thành và vô minh còn mạnh đủ để sanh vào cảnh khổ* bị đoạn diệt. Các phiền não này bị đoạn diệt ở đây. * apāyagamanīyo: sanh vào cảnh khổ. Ở đạo lộ trở lại một lần, phiền não thô về ái dục bị đoạn diệt và các phiền não về trở thành và vô minh đi cùng với nó bị đoạn diệt. Các phiền não này bị đoạn diệt ở đây. Ở đạo lộ không trở lại, phiền não về ái dục bị tuyệt diệt và các phiền não về trở thành và vô minh đi cùng với nó bị đoạn diệt. Các phiền não này bị đoạn diệt ở đây. Ở đạo lộ arahant, các phiền não về trở thành và vô minh bị tuyệt diệt. Các phiền não này bị đoạn diệt ở đây. [95] Không phân tâm là nhất tâm nhờ không sân hận... do nghĩ đến ánh sáng... nhờ không phân tâm... nhờ tìm hiểu rõ các hiện tượng... nhờ trí... nhờ hân hoan... Không phân tâm là nhất tâm nhờ chứng cõi không gian vô biên... nhờ chứng cõi thức vô biên... nhờ chứng cõi không có gì... nhờ chứng cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức... Không phân tâm là nhất tâm nhờ đề mục đất... đề mục nước... đề mục lửa... đề mục gió... đề mục mầu xanh... đề mục mầu vàng... đề mục mầu đỏ... đề mục trắng... đề mục hư không*... đề mục tâm2*...
*
ākāsakasiṇavasena Không phân tâm là nhất tâm quán tưởng đến đức Phật... Không phân tâm là nhất tâm quán tưởng đến Giáo Pháp Chân Chính... Không phân tâm là nhất tâm quán tưởng đến Tăng Đoàn... Không phân tâm là nhất tâm quán tưởng đến Giới... Không phân tâm là nhất tâm quán tưởng đến bố thí... Không phân tâm là nhất tâm quán tưởng đến chư thiên... quán niệm đến hơi thở... quán niệm đến cái chết... quán niệm đến thân... quán niệm đến an lạc... Không phân tâm là nhất tâm đến [tử thi] phình trương... đến xanh đen, ... đến máu mủ,... đến nứt nẻ (đứt lìa),... đến thú xé ăn,... đến phân lìa, đến rã rục, <đến chảy máu...> đến [tử thi] bị sâu khoét... đến bộ xương... Không phân tâm là nhất tâm nhờ thở vào hơi dài... nhờ thở ra hơi dài... nhờ thở vào hơi ngắn... nhờ thở ra hơi ngắn... nhờ thở vào kinh nghiệm toàn thân [hơi thở]... nhờ thở ra kinh nghiệm toàn thân [hơi thở]... nhờ thở vào làm lắng dịu hành vi của thân.. nhờ thở ra làm lắng dịu hành vi của thân... nhờ thở ra kinh nghiệm hoan hỉ... nhờ thở vào kinh nghiệm hoan hỉ... nhờ thở ra kinh nghiệm an lạc... nhờ thở vào kinh nghiệm an lạc... nhờ thở ra kinh nghiệm hành vi của tâm... nhờ thở vào kinh nghiệm hành vi của tâm... nhờ thở ra làm lắng dịu hành vi của tâm... nhờ thở vào làm lắng dịu hành vi của tâm... nhờ thở ra kinh nghiệm tâm... nhờ thở vào kinh nghiệm tâm... nhờ thở ra kinh nghiệm tâm hân hoan... nhờ thở vào kinh nghiệm tâm hân hoan... nhờ thở ra kinh nghiệm tâm định... nhờ thở vào kinh nghiệm tâm định... nhờ thở ra kinh nghiệm tâm giải thoát... nhờ thở vào kinh nghiệm tâm giải thoát... nhờ thở ra quán vô thường... nhờ thở vào quán vô thường... nhờ thở ra quán hết ham muốn... nhờ thở vào quán hết ham muốn... nhờ thở ra quán diệt tận... nhờ thở vào quán diệt tận... nhờ thở vào quán xuất ly... Không phân tâm là nhất tâm nhờ thở vào quán xuất ly là định; vì thế... [96] [hoàn tất như từ đầu của đoạn này cho đến]... trí về định có kết quả tức thời’. Nhiễm lậu: Các nhiễm lậu... Ở đạo lộ arahant, các nhiễm lậu về trở thành và vô minh bị tuyệt diệt. Các nhiễm lậu này bị đoạn diệt ở đây. 443. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ cắt đứt phiền não nhờ sự tinh khiết của không phân tâm là trí về định có kết quả tức thời’. [CHƯƠNG XXXIII. - TRÚ KHÔNG XUNG ĐỘT] 444. Thế nào là tuệ tức là thấy có phần ưu thắng, tức là thành tựu trong an trú và tức là quyết tâm về mục tiêu cao thượng là trí về trú không xung đột? 445. Thấy có phần ưu thắng: Quán vô thường là thấy có phần ưu thắng, quán khổ đau là thấy có phần ưu thắng, quán không phải là ngã là thấy có phần ưu thắng. Quán vô thường trong vật thể là thấy có phần ưu thắng, quán khổ đau trong vật thể là thấy có phần ưu thắng, quán không phải là ngã trong vật thể là thấy có phần ưu thắng. Quán vô thường trong cảm nghiệm ... trong nhận thức... trong tạo lập tâm trạng... trong thức... Quán vô thường trong mắt... [và cứ thế cho các ý niệm còn lại của 201 ý niệm được liệt kê ở đ. 5 cho đến]... quán không phải là ngã trong già và chết là thấy có phần ưu thắng. [97] 446. Và là thành tựu trong an trú: Trú chân không là thành tựu trong an trú, trú không dấu hiệu là thành tựu trong an trú, trú không ước nguyện là thành tựu trong an trú. 447. Quyết tâm về mục tiêu tối thượng: Chí hướng về chân không là quyết tâm về mục tiêu tối thượng, chí hướng về trú không dấu hiệu là quyết tâm về mục tiêu tối thượng, chí hướng về không ước nguyện là quyết tâm về mục tiêu tối thượng. 448. Trú không xung đột: Cõi sơ thiền là trú không xung đột, nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... chứng cõi không gian vô biên... chứng cõi thức vô biên... chứng cõi không có gì... chứng cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức là trú không xung đột. 449. Trú không xung đột: trú không xung đột theo nghĩa nào? Cõi sơ thiền dẹp bỏ chướng ngại, vì vậy gọi là trú không xung đột. Cõi nhị thiền từ bỏ hướng tâm và suy xét đối tượng... Cõi tam thiền dẹp bỏ hỉ... Cõi tứ thiền dẹp bỏ lạc và khổ... Chứng cõi không gian vô biên từ bỏ nhận thức về sắc thể... nhận thức về đối ngại, nhận thức về sai biệt, chứng cõi thức vô biên từ bỏ nhận thức về cõi không gian vô biên... chứng cõi không có gì từ bỏ nhận thức về cõi thức vô biên... chứng cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức từ bỏ nhận thức về cõi không có gì, vì vậy gọi là trú không xung đột. 450. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ tức là thấy rõ có phần ưu thắng, tức là thành tựu trong an trú và tức là quyết tâm về mục tiêu tối thượng là trí về trú không xung đột’. [CHƯƠNG XXXIV. - CHỨNG ĐOẠN DIỆT] 451. Thế nào là tuệ làm chủ do có hai lực, do lắng dịu ba hành vi tạo tác, do mười sáu loại tu tập* của trí, và do chín loại tu tập* của định, là trí về chứng đoạn diệt? * cariyā = exercise. nv. behaviour. 452. Về hai lực: hai lực ấy là lực tĩnh lặng và lực quán thực tánh. Lực tĩnh lặng * là gì? Không phân tâm là nhất tâm nhờ xuất ly là lực tĩnh lặng. Không phân tâm là nhất tâm nhờ không sân hận là lực tĩnh lặng. Không phân tâm là nhất tâm nhờ nghĩ đến ánh sáng [98] [và cứ thế như ở đ. 442 cho đến]... Không phân tâm là nhất tâm nhờ thở ra quán từ bỏ là lực tĩnh lặng. * tĩnh lặng ở đây chính là định. Đọc lại chú thích số 7 ở đ. 23. 453. Lực tĩnh lặng: Tĩnh lặng là lực theo nghĩa nào? Không lay chuyển vì chướng ngại qua sơ thiền, như vậy là lực tĩnh lặng. Qua nhị thiền... [và cứ thế như ở đ. 449 cho đến]... không lay chuyển vì nhận thức cõi không có gì nhờ chứng cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức, như vậy là lực tĩnh lặng. Nó không thể lay chuyển được, không thể dời chuyển được và không thể bị sự dao động, nhiễm lậu và tập hợp đi kèm với dao động đổi hướng nên tĩnh lặng là lực. Đây là lực tĩnh lặng. 454. Quán thực tánh kể như là lực là gì? Quán vô thường là quán thực tánh kể như là lực, quán khổ đau... quán không phải là ngã... quán nhàm chán... quán hết ham muốn... quán đoạn diệt... quán buông bỏ là quán thực tánh kể như là lực. (đ. 16) Quán vô thường trong vật thể là quán thực tánh kể như là lực, quán khổ đau trong vật thể... quán không phải là ngã trong vật thể... quán nhàm chán trong vật thể... quán hết ham muốn trong vật thể... quán đoạn diệt trong vật thể... quán buông bỏ trong vật thể là quán thực tánh kể như là lực... Quán vô thường trong cảm nghiệm... trong nhận thức... trong tạo lập tâm trạng... trong thức... Quán vô thường trong mắt... [và cứ thế với 7 cách quán còn lại cho các ý niệm của 201 ý niệm còn lại được liệt kê ở đ. 5 cho đến]... quán buông bỏ trong già và chết là quán thực tánh kể như là lực. 455. Lực quán thực tánh: quán thực tánh là lực theo nghĩa nào? Không lay chuyển vì nhận thức về trường tồn nhờ quán vô thường, như vậy là lực quán thực tánh. Không lay chuyển vì nhận thức về vui sướng nhờ quán về khổ, như vậy là lực quán thực tánh. Không lay chuyển vì nhận thức về ngã nhờ quán không phải là ngã... không lay chuyển vì thích thú nhờ quán nhàm chán... không lay chuyển vì tham nhờ quán hết ham muốn... không lay chuyển vì sanh khởi nhờ quán [99] diệt... Không lay chuyển vì bám níu nhờ quán buông bỏ, như vậy quán thực tánh là lực. Nó không thể lay chuyển được, không thể dời chuyển được và không thể bị đổi hướng vì dao động, vì nhiễm lậu và các tập hợp đi kèm với vô minh nên quán thực tánh là lực. Đây là quán thực tánh kể như là lực. 456. Do lắng dịu ba hành vi tạo quả: do lắng dịu ba hành vi tạo quả nào? Trong người chứng nhị thiền, hành vi tạo quả bằng lời dưới hình thức hướng tâm và suy xét đối tượng đã được hoàn toàn lắng dịu. Trong người chứng tứ thiền, hành vi tạo quả bằng việc làm dưới hình thức hơi thở vào và hơi thở ra đã được hoàn toàn lắng dịu. Trong người chứng diệt thọ tưởng, hành vi tạo quả bằng ý dưới hình thức nhận thức và cảm nghiệm đã được hoàn toàn lắng dịu. Do lắng dịu ba hành vi tạo quả này. 457. Do mười sáu loại tu tập của trí: Do mười sáu loại tu tập nào của trí ? (cf. đ. 393) Quán vô thường là tu tập của trí. Quán khổ đau... Quán không phải là ngã... Quán nhàm chán... Quán hết ham muốn... Quán đoạn diệt... Quán buông bỏ là tu tập của trí. Quán quay đi là tu tập của trí. Đạo lộ nhập giòng là tu tập của trí.... Quả nhập giòng... Đạo lộ trở lại một lần... Quả vị trở lại một lần... Đạo lộ không trở lại... Quả vị không trở lại... Đạo lộ arahant... Quả vị arahant là tu tập của trí. Do mười sáu loại tu tập này của trí. 458. Do chín loại tu tập của định: Do chín loại tu tập nào của định? Cõi sơ thiền là tu tập của định. Cõi nhị thiền... Cõi tam thiền... Cõi tứ thiền... Chứng cõi không gian vô biên... chứng cõi thức vô biên... chứng cõi không có gì... chứng cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức là tu tập của định. Cũng thế với hướng tâm về đối tượng, suy xét về đối tượng, hỉ, lạc và nhất tâm có mục đích chứng sơ thiền... có mục đích chứng cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức. Do chín loại tu tập này của định. 459. Làm chủ: có năm loại. Có sự làm chủ trong việc hướng sự chú ý, trong sự chứng đắc, trong quyết định (về thời hạn), trong trồi lên, [100] trong quán sát. Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến sơ thiền ở bất cứ chỗ nào, khi nào, trong thời gian bao lâu theo ý muốn, không gặp khó khăn gì trong việc hướng sự chú ý, như vậy là làm chủ trong việc hướng sự chú ý. Vị tỳ kheo chứng sơ thiền ở bất cứ chỗ nào, khi nào, trong thời gian bao lâu theo ý muốn, không gặp khó khăn gì trong việc chứng đắc, như vậy là làm chủ trong việc chứng đắc. Vị tỳ kheo quyết định (về thời hạn) nhập sơ thiền ở bất cứ chỗ nào, khi nào, trong thời gian bao lâu theo ý muốn, không gặp khó khăn gì trong việc quyết định (về thời hạn), như vậy là làm chủ trong việc quyết định (về thời hạn). Vị tỳ kheo trồi lên từ sơ thiền «xuất thiền» ở bất cứ chỗ nào, khi nào, trong thời gian bao lâu theo ý muốn, không gặp khó khăn gì trong việc trồi lên «xuất thiền», như vậy là làm chủ trong việc trồi lên «xuất thiền». Vị tỳ kheo quán sát sơ thiền ở bất cứ chỗ nào, khi nào, trong thời gian bao lâu theo ý muốn, không gặp khó khăn gì trong việc quán sát, như vậy là làm chủ trong việc quán sát. Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến nhị thiền... Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến tam thiền... Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến tứ thiền... Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến chứng đắc cõi không gian vô biên... Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến chứng đắc cõi thức vô biên... Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến chứng đắc cõi không có gì... Vị tỳ kheo hướng sự chú ý đến chứng đắc cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức ở bất cứ chỗ nào... Vị tỳ kheo quán sát sự chứng đắc cõi không có nhận thức cũng không phải không có nhận thức ở bất cứ chỗ nào... vị ấy không gặp khó khăn gì trong việc quán sát, như vậy là làm chủ trong việc quán sát. 460. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘tuệ làm chủ do làm chủ hai lực, do lắng dịu ba hành vi tạo tác, do mười sáu loại tu tập của trí, và do chín loại tu tập của định, là trí về chứng đoạn diệt’. [CHƯƠNG XXXV. HOÀN TOÀN DẬP TẮT] 461. Thế nào là tuệ chấm dứt sự tiếp tục tái diễn của người hiểu biết rõ ràng tường tận là trí về hoàn toàn dập tắt ? 462. Ở đây, người hiểu biết rõ ràng tường tận, nhờ xuất ly, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn ham muốn ái dục; nhờ không sân hận, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn sân hận; nhờ nghĩ về ánh sáng, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn dã dượi buồn ngủ; nhờ không phân tâm, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn dao động; nhờ tìm hiểu kỹ các hiện tượng, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn hoài nghi; nhờ trí, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn vô minh; nhờ hoan hỉ, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn buồn chán. Vị ấy nhờ sơ thiền, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn chướng ngại... [và cứ thế với các jhanas, chứng đắc vô sắc giới và các đạo lộ cho đến]... Vị ấy nhờ đạo lộ arahant, chấm dứt sự tiếp tục tái diễn mọi nhiễm lậu [101]. Hay cũng có thể, khi hiểu biết rõ ràng tường tận, vị ấy chứng hoàn toàn dập tắt nhờ niết bàn không có bám níu nào còn xót lại thì vị ấy chấm dứt sự tiếp tục tái diễn của mắt và tiếp tục tái diễn mới của mắt khởi lên, vị ấy chấm dứt sự tiếp tục tái diễn của tai... tiếp tục tái diễn của mũi... tiếp tục tái diễn của lưỡi... tiếp tục tái diễn của thân... vị ấy chấm dứt sự tiếp tục tái diễn của ý và sự tiếp tục tái diễn mới của ý khởi lên. Tuệ hiểu biết về chấm dứt sự tiếp tục tái diễn này của người hiểu biết rõ ràng tường tận là trí về hoàn toàn dập tắt. 463. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ chấm dứt sự tiếp tục tái diễn của người hiểu biết rõ ràng tường tận là trí hoàn toàn dập tắt’. [CHƯƠNG XXXVI. - CÙNG TỘT ĐỈNH*] * samasīsī: vốn có nghĩa là ‘người chứng quả Arahant ngay lúc chết’: muốn nói đến sự chứng quả và cái chết xảy ra đồng thời. Đọc Ñāṇamoli, The Guide, PTS [Oxford, 1977], chú thích 946/5 trang 246, 305. Đọc thêm B. C. Law, Human Types, PTS [Oxford, 1997], đoạn 19, trang 20. Chương này nói hễ đã đoạn tận được tột đỉnh của nhiễm lậu thì đồng thời cũng đạt được tột đỉnh của giải thoát nghĩa là chứng quả Arahant, không thấy đề cập gì đến khía cạnh xảy ra đồng thời của sự đoạn tận tất cả nhiễm lậu và đoạn tận mạng sống. 464. Thế nào là tuệ hoàn toàn cắt đứt tất cả các trạng thái, sự đoạn diệt của chúng, và sự không tái xuất hiện của chúng, là trí về nghĩa của cùng tột đỉnh? 465. Tất cả các trạng thái: Năm tập hợp, mười hai căn cứ, mười tám yếu tố, trạng thái thiện, trạng thái bất thiện, trạng thái bất định tính; các trạng thái cõi dục giới, cõi sắc giới, vô sắc giới, cõi không được tính kể đến. 466. Hoàn toàn cắt đứt: vị ấy hoàn toàn cắt đứt ham muốn ái dục nhờ xuất ly, hoàn toàn cắt đứt sân hận nhờ không sân hận... dã dượi buồn ngủ nhờ nghĩ về ánh sáng... dao động nhờ không phân tâm... hoài nghi nhờ tìm hiểu các hiện tượng... vô minh nhờ trí... buồn chán nhờ hoan hỉ... Vị ấy hoàn toàn cắt đứt chướng ngại nhờ sơ thiền ... [và cứ thế với các jhanas, chứng đắc vô sắc giới và các đạo lộ cho đến]... Vị ấy hoàn toàn cắt đứt tất cả các nhiễm lậu nhờ đạo lộ arahant. 467. Sự đoạn diệt của chúng: Vị ấy làm cho ham muốn ái dục đoạn diệt nhờ xuất ly, vị ấy làm cho sân hận đoạn diệt nhờ không sân hận, ... dã dượi buồn ngủ nhờ nghĩ về ánh sáng... dao động nhờ không phân tâm... hoài nghi nhờ tìm hiểu các hiện tượng... vô minh nhờ trí... buồn chán nhờ hoan hỉ... Vị ấy làm cho chướng ngại đoạn diệt nhờ sơ thiền... [và cứ thế với các jhanas, chứng đắc vô sắc giới và các đạo lộ cho đến]... Vị ấy làm cho tất cả các nhiễm lậu đoạn diệt nhờ đạo lộ arahant. 468. Không tái xuất hiện: Ham muốn ái dục không tái xuất hiện ở người đã chứng xuất ly. Sân hận không tái xuất hiện ở người đã chứng [102] không sân hận, ... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại]. Các chướng ngại không tái xuất hiện ở người đã chứng đắc sơ thiền ... [và cứ thế cho đến]... không nhiễm lậu nào tái xuất hiện ở người đã chứng đạo lộ arahant. 469. Cùng: Xuất ly cũng giống [như giải thoát] vì ham muốn ái dục đã bị từ bỏ. Không sân hận cũng giống thế vì sân hận đã bị từ bỏ... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại]. Sơ thiền cũng như thế vì các chướng ngại ấy đã bị từ bỏ... [và cứ thế cho đến]... Đạo lộ arahant cũng như thế vì tất cả các nhiễm lậu đã bị từ bỏ. 470. Tột đỉnh: * Có mười ba: Tột đỉnh của [tất cả] chướng ngại là tham ái, tột đỉnh của [tất cả] ràng buộc là ngã mạn (kiêu hãnh), tột đỉnh của [tất cả] diễn giải nhầm lẫn là quan điểm [sai lạc], tột đỉnh của [tất cả] tán loạn là dao động, tột đỉnh của [tất cả] nhiễm lậu là vô minh. Tột đỉnh của cả quyết là tín, tột đỉnh của nỗ lực là tinh tấn, tột đỉnh của thiết lập là quán niệm, tột đỉnh của không tán loạn là định. Tột đỉnh của thấy rõ là tuệ. Tột đỉnh của tiếp tục tái diễn 2* là năng lực gây ảnh hưởng của sinh khí. Tột đỉnh của [tất cả] lãnh xứ là giải thoát.3* Tột đỉnh của [tất cả] hành vi tạo quả là đoạn diệt. * sīsa: nđ đầu. 2* pavattaṁ. 3* gocarasīsañca vimokkho: Tột đỉnh của [tất cả] lãnh xứ là giải thoát. Lãnh xứ (quê hương) của các tỳ kheo là bốn nền tảng của quán niệm (S v 148) nói riêng; hay nói chung là 37 yếu tố đưa đến giác ngộ, 9 trạng thái siêu thế là quê hương của chư Phật, Phật Pacceka và các đệ tử của Ngài (Dh. 22). 471. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ hoàn toàn cắt đứt tất cả các trạng thái, sự đoạn diệt của chúng, và sự không tái xuất hiện của chúng, là trí về nghĩa của cùng tột đỉnh’. [CHƯƠNG XXXVII. - TẨY TRỪ *] * sallekha: nghĩa là tẩy trừ uế nhiễm. Tu khổ hạnh là để tẩy trừ. Đây không phải là lối sống cực kỳ khắc khổ như bớt ăn để đầy đọa cơ thể đưa đến sallekhana (cái chết tự nguyện vì đói) như của đạo Jain. Đọc luận án Thạc Sĩ của Bhikkhu Saranapala, Dhutāṅga: Buddhist Severe Ascetism [McMaster University, 2002], trang 21. Đọc thêm Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, chú thích 106-7 trang 1182-3. Kinh Tẩy Trừ Uế Nhiễm (Sallekhasutta) trong Majjhimanikāya nói đến 44 hình thái tẩy trừ uế nhiễm. 472. Thế nào là tuệ về cách biệt, về khác biệt và đồng nhất, về dập tăt lửa, là trí về tẩy trừ? 473. Tách biệt: Tham cách biệt [khỏi giải thoát], sân cách biệt, si cách biệt, giận dữ... thù hận... khinh bỉ... thống trị... đố kỵ... tham vô độ... lừa dối... gian lận... cứng đầu... tự phụ... ngã mạn (tự hào)... cao ngạo... hợm hĩnh... xao lãng... tất cả các nhiễm lậu... tất cả các nết hạnh xấu xa... tất cả các hành vi tạo nghiệp bị cách biệt. Tất cả các hành vi dẫn đến trở thành bị cách biệt. [103] 474. Khác biệt và đồng nhất: Ham muốn ái dục có khác biệt [với giải thoát] và xuất ly đồng nhất [với giải thoát], sân hận có khác biệt và không sân hận có đồng nhất... xảy ra... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại]. Các chướng ngại có sự khác biệt và cõi sơ thiền có sự đồng nhất... [và cứ thế cho đến]... tất cả các nhiễm lậu sự khác biệt và đạo lộ arahant có sự đồng nhất. 475. Lửa: Có năm loại: lửa [đức] hạnh, lửa từ phẩm chất đặc biệt của [định], lửa tuệ, lửa phước đức, lửa Chánh Pháp. Lửa phi đức hạnh bị dập tắt vì nó bị lửa của [đức] hạnh tiêu diệt. Lửa của cái gì đối nghịch với phẩm chất đặc biệt bị dập tắt vì nó bị lửa của phẩm chất đặc biệt tiêu diệt. Lửa của thiếu trí tuệ bị dập tắt vì nó bị lửa tuệ tiêu diệt. Lửa của phi phước đức bị dập tắt vì nó bị lửa phước đức tiêu diệt. Lửa của phi chánh pháp bị dập tắt vì nó bị lửa Chánh Pháp tiêu diệt. 476. Tẩy trừ: Ham muốn ái dục là không tẩy trừ, xuất ly là tẩy trừ. Sân hận là không tẩy trừ, không sân hận là tẩy trừ... [và cứ thế với chướng ngại còn lại]. Các chướng ngại là không tẩy trừ, sơ thiền là tẩy trừ... [và cứ thế cho đến]... Tất cả các nhiễm lậu là không tẩy trừ, đạo lộ arahant là tẩy trừ. 477. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘tuệ về cách biệt, về khác biệt và đồng nhất, về dập tắt lửa, là trí về tẩy trừ’. [CHƯƠNG XXXVIII. - ỨNG DỤNG TINH TẤN] 478. Thế nào là tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn * và cố gắng là trí ứng dụng tinh tấn? * asallīna: cần mẫn. 479. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho trạng thái bất thiện chưa sanh không khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng từ bỏ trạng thái bất thiện đã khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho trạng thái thiện chưa sanh khởi lên [104] là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng duy trì, không để suy đồi, củng cố, làm cho phong phú, phát huy và toàn thiện các trạng thái thiện đã khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. 480. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho ham muốn ái dục chưa sanh không khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng từ bỏ ham muốn ái dục đã khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho xuất ly chưa sanh được khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng duy trì, không để suy đồi, củng cố, làm cho phong phú, phát huy và toàn thiện xuất ly đã khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu... [và cứ thế với bẩy chướng ngại còn lại]. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho các chướng ngại chưa sanh... cho sơ thiền khởi lên... [và cứ thế cho đến]... Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho tất cả nhiễm lậu chưa sanh không khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng từ bỏ tất cả nhiễm lậu đã khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng làm cho đạo lộ arahant chưa sanh khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng duy trì, không để suy đồi, củng cố, làm cho phong phú, phát huy và toàn thiện đạo lộ arahant đã khởi lên là trí ứng dụng tinh tấn. 481. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ hiểu nghĩa của nỗ lực ở người cần mẫn và cố gắng là trí ứng dụng tinh tấn’. [CHƯƠNG XXXIX. - BIỂU LỘ Ý NGHĨA] 482. Thế nào là tuệ giải thích các ý niệm khác nhau là trí biểu lộ ý nghĩa? 483. Các ý niệm khác nhau: Năm tập hợp, mười hai xuất xứ, mười tám yếu tố, phẩm tính thiện, phẩm tính bất thiện, phẩm tính bất định; các ý niệm cõi dục giới, các ý niệm cõi sắc giới, các ý niệm vô sắc giới, các ý niệm cõi không được tính kể đến. 484. Giải thích: Vị ấy giải thích vật thể là vô thường, nó là khổ đau, nó không phải là ngã. Vị ấy giải thích cảm nghiệm... nhận thức... tạo lập tâm trạng... thức... Vị ấy giải thích mắt [105]... [và cứ thế cho các ý niệm của 201 ý niệm còn lại được liệt kê ở đ. 5 cho đến]... vị ấy giải thích già và chết là vô thường, là khổ đau, không phải là ngã. 485. Biểu lộ ý nghĩa: Người từ bỏ ham muốn ái dục biểu lộ ý nghĩa của xuất ly. Người từ bỏ sân hận... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại]... Người từ bỏ chướng ngại biểu lộ ý nghĩa của sơ thiền... [và cứ thế cho tới]... Người từ bỏ tất cả nhiễm lậu biểu lộ ý nghĩa của đạo lộ arahant. 486. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘tuệ giải thích các ý niệm khác nhau là trí biểu lộ ý nghĩa’. [CHƯƠNG XL. - CÁI THẤY TRONG SẠCH] 487. Thế nào là tuệ hiểu rõ ràng sự bao hàm tất cả các ý niệm khác nhau thành một, sự khác biệt và đồng nhất, là trí về cái thấy trong sạch? 488. Tất cả các ý niệm: Năm tập hợp, ... [và cứ thế như ở đ. 465]. 489. Bao hàm thành một: Có mười hai cách bao hàm tất cả các ý niệm thành một: theo nghĩa chân như (như thực), theo nghĩa không phải là ngã, theo nghĩa sự thực, theo nghĩa hiểu rõ, theo nghĩa chứng biết trực tiếp, theo nghĩa hiểu biết trọn vẹn, theo nghĩa ý niệm, theo nghĩa yếu tố, theo nghĩa điều đã biết tới, theo nghĩa thực chứng, theo nghĩa thể nghiệm, theo nghĩa chứng ngộ đồng thời. Có sự bao hàm tất cả các ý niệm thành một theo mười hai cách này. (đọc đ. 35) 490. Khác biệt và đồng nhất: Ham muốn ái dục có sự khác biệt, xuất ly có sự đồng nhất... [và cứ thế như ở đ. 474]... tất cả các nhiễm lậu sự khác biệt và đạo lộ arahant có sự đồng nhất. 491. Hiểu rõ: Vị ấy thấu rõ sự thực về khổ với sự hiểu rõ dưới hình thức hiểu biết trọn vẹn. Vị ấy thấu rõ sự thực về nguồn gốc khổ đau với sự hiểu rõ ràng dưới hình thức từ bỏ. Vị ấy thấu rõ sự thực về diệt khổ với sự hiểu rõ ràng dưới hình thức thực chứng. Vị ấy thấu rõ sự thực về đạo lộ dẫn đến diệt khổ với sự hiểu rõ dưới hình thức tu tập. 492. Cái thấy trong sạch: Ở khoảnh khắc đạo lộ nhập giòng, cái thấy được lọc sạch. Ở khoảnh khắc quả vị nhập giòng, cái thấy được lọc sạch. Ở khoảnh khắc [106] đạo lộ trở lại một lần... Ở khoảnh khắc quả vị trở lại một lần... Ở khoảnh khắc đạo lộ không trở lại... Ở khoảnh khắc quả vị không trở lại... Ở khoảnh khắc đạo lộ arahant... Ở khoảnh khắc quả vị arahant, cái thấy được lọc sạch. 493. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ hiểu rõ ràng sự bao hàm tất cả các ý niệm khác nhau thành một, sự khác biệt và nhất điểm, là trí về cái thấy trong sạch’. [CHƯƠNG XLI. - CHỌN*] *khanti. chọn, chấp nhận. Hai nghĩa này không có trong tự điển của PTS và của Childers. Tìm thấy trong A Pali-English Glossary of Buddhist Technical Terms do Ñāṇamoli sưu tập, trang 40. Tôi xin trích lục từ Visuddhimagga như sau:‘Ayamettha amhākaṁ khanti ’: đây là điều chúng tôi chọn [Vism XIII đ. 123] và từ Majjhimanikāya như sau: ‘Saddhā, ruci, anussava, ākāraparivittakka, diṭṭhinijjhāna-kkhanti ’: tín, chinh phục lòng tin,** truyền thống, suy nghĩ kỹ, chấp nhận quan điểm có tư duy [M ii 171ff...]; hai yếu tố đầu đầy cảm tính, yếu tố thứ ba là mù quáng chấp nhận, yếu tố thứ tư dựa trên lý tính, yếu tố cuối cùng là tiến trình nhận thức dựa trên suy tưởng, kinh nghiệm và giác quan. Ba yếu tố đầu tuy được tin tưởng, được thừa nhận nhưng chưa hẳn là đúng. Hai yếu tố sau có thể không được tin tưởng nhưng chưa hẳn là sai. Đọc Ñāṇamoli và Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, Phẩm Cankī số 95, Bộ Kinh Trung và chú thích 884 trang 1297. ** chinh phục ‘lòng tin’ (anunaya) như: cha mẹ ghẻ cần chinh phục con riêng của người phối ngẫu, làm cho chúng tin rằng tuy không phải là cha mẹ đẻ, nhưng họ là những người tốt và chấp nhận được. 494. Thế nào là tuệ nhờ điều được nhìn nhận là trí kể như là chọn? 495. Vật thể được nhìn nhận là vô thường, được nhìn nhận là khổ, được nhìn nhận không phải là ngã; bất cứ cái gì được nhìn nhận mà vị ấy chọn, tuệ vì điều được nhìn nhận như vậy là trí kể như là chọn. Cảm nghiệm được nhìn nhận là vô thường... Nhận thức... Tạo lập tâm trạng... Thức... Mắt được nhìn nhận là vô thường... [và cứ thế cho các ý niệm của 201 ý niệm còn lại được liệt kê ở đ. 5 cho đến]... Già được nhìn nhận là vô thường, được nhìn nhận là khổ, được nhìn nhận không phải là ngã; bất cứ cái gì được nhìn nhận mà vị ấy chọn, tuệ vì điều được nhìn nhận như vậy là trí kể như là chọn. 496. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ vì điều được nhìn nhận là trí kể như là chọn’. [CHƯƠNG XLII. - THÂM HIỂU] 497. Thế nào là tuệ nhờ điều được nhận chân* là trí thâm hiểu? * phuṭṭa: nđ xúc. 498. Vị ấy nhận chân vật thể là vô thường, nhận chân nó là khổ, nhận chân nó không phải là ngã; nhận chân đến bất cứ cái gì, vị ấy thâm hiểu, như vậy tuệ nhờ điều gì nhận chân là trí thâm hiểu. Vị ấy nhận chân cảm nghiệm... nhận thức... tạo lập tâm trạng... thức... Vị ấy nhận chân mắt là vô thường, ... [và cứ thế cho các ý niệm của 201 ý niệm còn lại được liệt kê ở đ. 5 cho đến]... Vị ấy nhận chân già và chết, nhận chân nó là khổ, nhận chân nó không phải là ngã; nhận chân đến bất cứ cái gì, vị ấy thâm hiểu, như vậy tuệ nhờ điều gì được nhận chân là trí thâm hiểu.
499. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ nhờ điều được nhận chân là trí thâm hiểu’. [107]
[CHƯƠNG XLIII. - TRÚ THEO PHẦN*] * Đây là sống quán theo phần [padesena] các tập hợp, căn xứ, yếu tố, bốn đế trong tương quan với cảm nghiệm. Quyển Aṭṭhasālinī (trang 30-31) nói đây là bằng chứng đức Phật giảng Abhidhamma. Đọc Bhikkhu Bodhi, The Connected Discourses of the Buddha Vol. II, Phẩm Trú (S v 12) và chú thích 19 trang 1894.
500. Thế nào là tuệ về tổng hợp là trí về trú [duyệt xét các trạng thái theo] phần?
501. Có cái-cảm-nghiệm-được do quan điểm sai lạc qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của quan điểm sai lạc qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do quan điểm chân chánh qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của quan điểm chân chánh qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do tư duy sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do lời nói sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do việc làm sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do nghề nghiệp bất chánh qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do nỗ lực sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do quán niệm sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do định sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do trí sai lạc qui định... Có cái-cảm-nghiệm-được do giải thoát sai lạc qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của giải thoát sai lạc. Có cái-cảm-nghiệm-được do giải thoát chân chánh qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của giải thoát chân chánh qui định. 502. Có cái-cảm-nghiệm-được do ước muốn qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của ước muốn qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do hướng tâm về đối tượng qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của hướng tâm về đối tượng qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do nhận thức qui định, có cái-cảm-nghiệm-được do sự lắng dịu của nhận thức qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do ước muốn không lắng dịu, hướng tâm về đối tượng không lắng dịu, nhận thức không lắng dịu qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do ước muốn đã lắng dịu và hướng tâm về đối tượng không lắng dịu, nhận thức không lắng dịu qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do ước muốn đã lắng dịu, hướng tâm về đối tượng đã lắng dịu, nhận thức không lắng dịu qui định. Có cái-cảm-nghiệm-được do ước muốn đã lắng dịu, hướng tâm về đối tượng đã lắng dịu, nhận thức đã lắng dịu qui định. 503. Có nỗ lực[1] [cần đến] để chứng [quả vị arahant] chưa chứng, và khi cảnh giới đó đã chứng, có cái-cảm-nghiệm-được do thực trạng ấy qui định.
504. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ về tổng hợp là trí về trú [duyệt xét các trạng thái theo] phần’.
[CHƯƠNG XLIV. QUAY ĐI BẰNG NHẬN THỨC]
505. Thế nào là tuệ do trạng thái được ưu thắng là trí quay đi bằng nhận thức? 506. Do xuất ly được ưu thắng, tuệ quay đi khỏi ham muốn ái dục bằng nhận thức, như vậy là tuệ nhờ trạng thái được ưu thắng là trí quay đi bằng nhận thức. Do không sân hận được ưu thắng, tuệ... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại của 7 chướng ngại]. [108] Do sơ thiền được ưu thắng, tuệ quay đi khỏi các chướng ngại bằng nhận thức, như vậy tuệ do trạng thái được ưu thắng là trí quay đi... [và cứ thế cho đến]... Do đạo lộ arahant được ưu thắng, tuệ quay đi khỏi tất cả các chướng ngại bằng nhận thức, như vậy tuệ do trạng thái được ưu thắng là trí quay đi bằng nhận thức. 507. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ do trạng thái được ưu thắng là trí quay đi bằng nhận thức’.
[CHƯƠNG XLV. QUAY ĐI BẰNG Ý] 508. Thế nào là tuệ về khác biệt là trí quay đi bằng ý (tâm)? 509. Ham muốn ái dục là sự khác biệt, xuất ly là sự đồng nhất: khi hành giả cố ý đồng nhất với xuất ly, tâm của vị ấy quay đi khỏi ham muốn ái dục, như thế là tuệ về khác biệt là trí quay đi bằng ý (tâm). Sân hận... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại của 7 chương ngại]. Các chướng ngại là sự khác biệt và cứ thế cho đến]... Tất cả các nhiễm lậu là sự khác biệt, đạo lộ arahant là sự đồng nhất: khi hành giả cố ý đồng nhất với đạo lộ arahant, tâm của vị ấy quay đi khỏi tất cả các nhiễm lậu, như thế là tuệ về khác biệt là trí quay đi bằng ý. 510. Trí theo nghĩa điều được biết tới và tuệ theo nghĩa hành vi hiểu biết đó. Như vậy nên nói: ‘Tuệ về khác biệt là trí quay đi bằng ý (tâm)’. [CHƯƠNG XLVI. QUAY ĐI CỦA TÂM] 511. Thế nào là tuệ về củng cố là trí quay đi của tâm? 512. Người từ bỏ ham muốn ái dục củng cố tâm bằng xuất ly, như vậy là tuệ về củng cố là trí quay đi của tâm. Người từ bỏ sân hận... [và cứ thế với các chướng ngại còn lại của 7 chướng ngại]. [109] Người từ bỏ các chướng ngại ấy củng cố tâm bằng sơ thiền, như vậy là tuệ về củng cố là trí quay đi của tâm... [và cứ thế cho đến]... Người từ bỏ tất cả các chướng ngại củng cố tâm bằng đạo lộ arahant, như vậy là tuệ về củng cố là trí quay đi của tâm.
|