KHẤT SĨ Khất sĩ hạnh ta bà, Tiêu diêu đường tự tại. Không danh lợi cửa nhà, Không của tiền con cái. Đỡ lòng một bát cơm, Che thân ba tấm vải. Đầu đội nón càn khôn, Chơn mang giày thế giới. Cam gió nhiễm mưa chan, Mặc mưa dầy nắng dãi, Thân xông đục phong trần, Trí kiên cường hăng hái. Chẳng tranh thấp hay cao, Sợ chi thành và bại. Chẳng chấp dở cùng hay, Sợ chi quấy và phải. Chẳng phân sang với hèn, Biết ai khôn và dại, Ai mắng nhiếc mặc tình, Thôi chẳng hề phiền ngại. Ai hiếp đáp mặc lòng, Thôi chẳng hề chống cãi. Ai vu khống mặc dầu, Thôi chẳng hề đối nại. Bịnh hoạn có chập chồng, Tâm chẳng hề cầu vái. Tai nạn có dập dồn, Tâm chẳng hề sợ hãi. Nghiệp quả có chuyển vần, Tâm chẳng hề thối thoái. Gặp kẻ dữ trên đường, Xót thương ta khuyên giải. Gặp người thiện trong đời, Cảm thông ta kết nghĩai. Gặp nhà Đạo thoát trần, Tôn thờ ta kính bái. Đem một tấm tình thân, Sống chung trong muôn loại. Rải rắc giống từ bi, Kết đơm hoa bác ái. Vườn đời tươi thắm lên, Bớt lần cây hoang dại. Người đời yêu mến nhau, Bớt lần dây oan trái. Cảnh đời êm đẹp hơn, Chẳng còn vương khốc hại. Nguyện dựng cảnh lạc bang, Mong lấp bằng khổ hải. Còn một kẻ mê lầm, Còn tấm lòng thương hại. Còn chen lộn phong trần, Còn tới lui qua lại. Còn tinh tấn luôn luôn, Độ nhơn sanh mãi mãi. * NỤ CƯỜI KHẤT THỰC Thầy dạy con đi, Du phương khuyến giáo Con còn khờ khạo Bạch hỏi đôi lời - Con ơi đến nơi Lạ cảnh lạ người Làm sao lập hạnh Khất thưc trì bình? Thầy mới thuyết minh Giải bày rốt ráo - Nếu đi hành đạo Khất thực phương xa Phải đứng từng nhà Lặng thinh trước ngõ Người nghe tiếng chó At bước ra chào Hỏi trước dò sau Tò mò tìm biết Con bày sự thiệt Rằng pháp tu hành Dứt bỏ lợi danh Trì bình khất thực Lập công bồi đức Chịu cực hóa trai Chỉ độ mỗi ngày Ngọ trưa một bữa Tiền không chấp chứa Gạo chẳng lãnh thâu Ai tưởng đạo mầu Hộ cơm hộ muối Hoặc là cơm nguội Trái chuối ngọn rau Của mọn lòng giàu Để vào bình Bát Món dùng chay lạt Đạm bạc thô sơ Bố thí hiện giờ Trồng cây duyên phước Vun phân tưới nước Sau được quả lành Trong mỗi kiếp sanh Có duyên gặp Đạo. - Lời Thầy dạy bảo Con nguyện gắng ghi Lạy đức Từ bi Con đi xa xứ. Vầy đoàn bạn lữ Quảy túi du phương Chân bước lên đường Lời ghi trong trí Lớp lang nhớ kỹ Của quý hộ thân Dọn tập lần lần Hầu đem ứng dụng Một hôm Ni chúng Đi đến xứ kia Xa rốt tỉnh bìa Người chưa biết Đạo Đến giờ khuyến giáo Lững thững vào làng Y mặc nghiêm trang Bát ôm cẩn thận Tinh thần phấn chấn Quyết đến mỗi nhà Ngõ hẻm trông xa Con đi lọ mọ Lè kè túi đỏ Lụng thụng áo vàng Thấy bộ xênh xang Trẻ thơ kinh hãi Ùa nhau hoảng chạy Vừa khóc vừa la: - Ông Bị kia cà Ối cha! Ối mẹ! Tiếp theo đàn trẻ Tiếng chó sủa rân Gà vịt chạy rần Ngỗng ngan kêu rộ Người nhà nhao nhố Bàn tán lăng xăng Có kẻ nói xằng Dối tu bỏ ngải Có người nói dại Tà đạo quến ma Tiếng lại tiếng qua Nêu ra đủ lý Những người dạn dĩ Bảo đến hỏi càn Mấy kẻ nhát gan Bảo đi trốn lánh Có người sợ quýnh Đóng cửa vội vàng Tình thế rộn toang Ngẩn ngơ ngơ ngẩn Bấy giờ xuất trận Một gã đàn ông Chân bước tay vung Coi tuồng hăm hở Chẳng lành thì chớ Nạt lớn một câu - Bà Vãi đi đâu? Làm gì đứng đó? Bồi hồi dạ thỏ Luống cuống chân cheo Thầy dạy bao nhiêu Con quên hết ráo Tựa hồ lảo đảo Như thể bồn chồn Đâu mất cái khôn Chỉ tồn cái dại Lưỡi sao líu lại Chẳng tiếng u ơ Con đứng sững sờ Trơ trơ phồng đá Bạn con vội vã Tiếp đỡ một lời: - "Mô Phật chúng tôi Xin cơm xin muối" Chú chàng nghe nói Thấu nỗi thiệt hư Động tấm lòng từ Trở vô lủi thủi Người nhà lụi hụi Đem hộ thức ăn Bát lãnh đủ phần Cúi chào xin kiếu Bước đi líu ríu Mừng được thoát thân Hơi thở dịu dần Trái tim bớt nhảy Ban chiều hội lại Nhắc chuyện sớm mai Không thể nín cười Nhát thôi quá nhát Đầu tiên đi Bát Gặp chuyện lạ lùng Kinh nghiệm học chung Viết ra thành bổn Để làm của vốn Cho kẻ hậu lai Khất thực đường dài Tập thêm can đảm. * LỐI ĐI Thầy đã quyết khép mình bền khổ hạnh, Con sao còn lung ý sánh xa hoa? Thầy trưởng thành trong nếp áo vị tha, Con tù hãm giữa ngôi nhà ích kỷ. Kể từ buổi theo Thầy tầm chơn lý, Tỏ ra người hữu chí lắm công phu. Thầy quý con như quý ngọc minh châu, Trau giồi kỹ được làu làu toàn bích. Đâu ngờ mới một thời gian phân tách, Con chẳng còn phong cách bậc tu chơn. Nhớ nghe con, rồi trở lại nghe con, Thầy thao thức mõi mòn trông đợi trẻ. Con có biết hồng trần nơi xú uế, Danh mà chi và lợi để mà chi. Tấm huyễn thân rồi nữa có ra gì, Một vật giả chứa đầy chứa muôn thứ giả. Con xây cất một lâu đài huyễn ngã, Nền lung lay mà từng đã nhiều từng. Phước càng dồn nhưng thiếu đức đỡ nâng, Hoạ càng nặng trăm thân khôn chống chỏi. Con có nhớ những ngày còn học hỏi, Nương chân Thầy khất thực dõi đường xa. Trời làm màn, đất chiếu hạnh Ta Bà, Thân khoẻ nhẹ cảnh thơ lòng giải thoát. Con có nhớ những ngày đương hoằng Pháp, Giảng Đạo mầu giải đáp lý uyên thâm. Khêu đèn duyên, dẫn lối kẻ đương lầm, Đánh trống huệ thức tâm người cõi mộng. Con có nhớ, lý "động” cùng "bất động,” Biển chơn như nước và sóng khác đâu. Vẫn vào đời nhưng chẳng bị đời câu, Đâu cũng Pháp và đâu đâu cũng Pháp. Thầy vạch sẵn con mau sang lối thoát, Trương đại tâm Bồ Tát phát lời nguyền. Dân Việt Nam còn đau khổ triền miên, Trong cảnh khổ con xin nguyền cứu khổ. Trong đêm tối con khêu đèn giác ngộ, Trong hãi hùng con giải khổ âu lo. Trong đói nghèo con tạo cuộc ấm no, Tuỳ phương tiện chuyển vai trò theo cảnh. * SỨC CHỊU ĐỰNG Sức chịu đựng ai bằng quả đất Để trần gian chứa chất nặng nề Hỡi rừng, hỡi núi, hỡi khe Hỡi cây, hỡi đá, hỡi xe, hỡi thoàn Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng Vì đời âu phải gia công Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao Người dẫn chúng khác nào quả đất Để chúng sanh chất chứa nặng nề Hỡi ganh, hỡi ghét, hỡi bì Hỡi phiền, hỡi hận, hỡi si, hỡi lầm Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng Vì đời âu phải gia công Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao Người dẫn chúng thiên lao vạn khổ Nợ trăm dâu thảy đổ đầu tằm Đời vô minh nghiệp oái ăm, Oằn vai một gánh xa xăm đường dài * VI NHÂN NAN (Kiếp sau xin chớ làm người Làm dân đất Phật sống đời hoàng kim.) Nay mới biết làm người thiệt khó Bốn mươi năm mới rõ tình đời Làm người khó lắm ai ơi! Thấp cao khó liệu, đầy vơi khó lường Ơ cho được người thương đã khổ Khi ghét rồi, ôi! khó biết bao! Cửa thiền mượn muối vay rau Làm dâu trăm họ sao sao cũng chiều Ví tự túc ít nhiều tự sắm Dẫu áo thô cơm hẩm mà vui Tàng cây hốc đá thảnh thơi Núi rừng thanh vắng chiều mơi tịnh nhàn Nhưng đã trót lên đàng cứu khổ Dẫu gian truân dễ bỏ nguyện lành Mặc cho nghiệp chướng hoành hành Chẳng qua tiền kiếp phận mình vụng tu Duyên đã ngộ tìm câu giải thoát Nghiệp còn mê chấp pháp hữu vi Pháp môn bành trướng duy trì Cỡi thuyền lướt sóng phải vì sanh linh Lâm cảnh khốn lên gành xuống thác Vững tay chèo hỡi các đệ huynh Giòng mê kíp hoá giòng thanh Thuyền khơi quyết đổ bến lành Tây Phương. * BẠC HẠNH Trái còn non, đắng the chua chát Trò còn non, phụ bạc công Thầy Những còn trứng nước thơ ngây Đút cơm mớm sữa ai tày khó khăn Cảnh eo hẹp thức ăn nghèo túng Món tinh thần chưa xứng cho con Con đi lạ nước xa non, Cảnh xưa Thầy ở thon von tháng ngày Cây trăm thước vì ai toả bóng Hoa bốn mùa nuôi mộng chờ ai Người đi ánh sáng đi rồi Người còn ở lại bầu trời tối tăm Ngày trở lại viếng thăm chùa cũ Mảnh hình hài ủ rũ thê lương Thầy ơi con đã lầm đường Đắng cay buốt lưỡi gió sương nhuộm hình Ngọc chéo áo vô tình chẳng biết Cam chịu nghèo rên xiết khổ đau Mặt trời ở tại đỉnh đầu Mặt trời nào phải xa đâu kiếm tầm Tâm vốn sẵn chơn tâm thanh tịnh Tánh cội nguồn pháp tánh viên minh Cam tâm làm phận chúng sanh Trở về ngôi cũ biết mình thuở xưa Thầy lặng lẽ thờ ơ khôn tỏ Trò giựt mình xem rõ căn nguyên Thì ra Thầy đã nằm yên! Thiên thu vào cõi định thiền tiêu dao! * HÀNH ĐẠO (1) Đưa tay trí tuệ tháo dây thương Cất bước vân du trổi dặm trường Khất thực vai mang bình bát đất Hoá duyên độ chúng khoát y vàng Rưới mưa bác ái thuần ba cõi Soi đuốc từ bi rạng bốn phương Nguyện lực đem thân hành chánh Đạo Cho đời sớm tỉnh giấc hoàng lương. * HÀNH ĐẠO (2) Xả phú cầu bần quen cảnh khó, Lập thân hành đạo ngược dòng đời. Kỉnh trời đầu đội tấm màn trời, Mến đất thân kề manh chiếu đất. Nhẹ gót lìa xa đường vật chất, Mau chơn bước đến nẻo tinh thần. Bộ y ba lá tạm che thân, Quả bát mỗi ngày vừa đủ dạ. Chỗ ở sơ sài am lợp lá, Bịnh đau lây lất thuốc người cho. Lợi danh giải thoát khỏi phiền lo, Tâm trí rảnh rang nào trói buộc. Chẳng tưởng một ai riêng quyến thuộc, Nhìn vào thiên hạ chúng sanh chung. Mối mang, cương toả thoát ngoài vòng, Dây vấn luân hồi đà cắt đứt. Khất sĩ Pháp tu noi hạnh Phật, Xuất gia lý đạo diệt tâm phàm. Một phen về đến chốn Già Lam, Bao thuở vãng hồi nơi thế cuộc. Mượn lại tấm thân làm ngọn đuốc, Soi ra ánh sáng tỏ đường về. Thanh bần kém thể chẳng bao nề, Khất thực nêu gương không uế nhiễm. Phẩm hạnh siêu luân đời khó hiếm, Dung nghi thanh tịnh thế khôn tìm. Ngồi, nằm, đi, đứng thể trang nghiêm, An, mặc, nói, làm hằng thận trọng. Thuyết Pháp gọi đời mau tỉnh mộng, Viết vài khuyên chúng ráng cần tu. Tham thiền nhập định chí công phu, Pháp huệ đắc chơn hầu hoá độ. Tiếp dẫn chúng sanh qua biển khổ, Dắt dìu muôn loại đến bờ xưa. Đạo tràng Giáo hội chiếc thuyền đưa, Trì giới cần tu chư Phật rước. Rẽ sóng tình thương tinh tấn lướt, Cắt dây luyến ái nhẹ nhàng bay. Lòng trần khoảnh khắc tỉnh mơ say, Đèn huệ tuyên dương bừng rạng tỏ. * LỚP HỌC TÌNH THƯƠNG Tuổi ngọc ngày xanh hứa hẹn nhiều Ai làm, em chịu cảnh đìu hiu Cháo rau hẩm hút buồn năm tháng Bô vải te tua thảm sớm chiều? Chiều sớm lang thang giữa bụi đường Nón cời đầu đội, túi vai mang Giấy dơ, tay góp, bao dơ lượm Đống rác em coi tợ đống vàng Hoàn cảnh xui em tánh thấp hèn Chưởi thề trộm cắp tập thành quen Thiếu nhi phạm pháp đầy nguồn gốc Xã hội tương lai đó nhiễu phiền? Lớp học tình thương phép diệu huyền Luyện rèn đức trí, chuyển tâm em Trường nghèo hân hạnh trò ngoan giỏi Nhà khó mừng vui trẻ thảo hiền! * BỒ TÁT CHÚNG SANH Bồ Tát từ bi nguyền độ chúng Chúng sanh mê muội chẳng trau lòng Phật Đà diệu giác từng soi thấu Bồ Tát nhơn sanh một tánh đồng Bồ Tát chúng sanh danh tạm có Chơn như liễu ngộ gốc hoàn không Giác cùng bất giác nào riêng ngỏ Mê với không mê chỉ một dòng Niệm ngộ còn tâm, tâm chưa tỏ Hườn chơn chẳng biết, biết toàn thông Duyên đưa cửa Phật căn lành có Trí hội cơ mầu Pháp thiệt không. * THẢM ĐẤT VÀNG Xưa trưởng giả trải vàng mua đất Vì Thế Tôn xây cất Đạo Tràng Kỳ Viên Tịnh Xá mở mang Kinh thành Xá Vệ huy hoàng Pháp đăng Nay thiện tín trải vàng mua đất Vì tăng ni xây cất Đạo tràng Ngọc Châu Tịnh Xá mở mang Quảng Nam tỉnh lỵ huy hoàng Pháp đăng Đất một thảm, lòng vàng muôn thảm Của một cân, công trạng ngàn cân Vật thô sức kém góp phần Nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn lần tiêu pha Xây Tịnh Xá một toà rộng rãi Dựng cốc am mấy dãy an bày Thênh thang sân rộng lối ngay Rào trong đất Phật, ngõ ngoài đường quan Phật thị hiện Đạo Tràng cứu khổ Tăng thừa hành thập độ ban vui Chư Thiên vì Pháp đắp bồi phước duyên Phước bồi đắp nên miền ngọc cảnh Phước trồng gieo thành khoảnh kim điền Dòng đời biển tội vô biên Bước lên non phước vững yên tinh thần Hỡi Phật tử đồng tâm hội hiệp Dưới Phật đài hoà nhịp từ bi Điển lành ban rải đâu đây Y lành hấp thụ vui vầy gần xa Tay quét đất, tay hoà cõi phước Chân giẫm nền, chân bước đường duyên Miệng cười nở đoá hoa sen Lời lành ý đẹp, hương duyên thơm nồng Tâm cởi mở, nhơn trong nghiệp trắng Đạo trau giồi, phước gắng ân ghi Chướng duyên dẫu chẳng tây vì Đem ân đáp oán, đổi Bi ra Từ Tâm từ ái thể như tâm Phật Trải tâm từ tế vật độ nhân Tâm là chỗ ở tinh thần Tâm là miếng đất nương thân muôn loài Tâm ví chẳng dung người tội lỗi Đất kia còn sạn sỏi gai chông Đất chưa phải thật vàng ròng Lòng chưa phải thật tấm lòng từ bi Tâm tạo nghiệp, nghiệp trì thọ khổ Tâm phát nguyền, nguyền độ thoát mê Oai hùng nghiệp lực chỉnh ghê Oai thần nguyện lực Bồ Đề cứu an. * ĐÈN CHƠN LÝ Đèn chơn lý trời Nam tỏ rạng Anh triêu dương chiếêu sáng phương Đông Nhơn sanh bừng tỉnh giấc nồng Mắt nhìn đẹp mắt, nguyền mong phỉ nguyền Nối đuốc tuệ ban truyền giáo lý Trổ Hoa Đàm Khất sĩ du phương Giới diều trong suốt nền gương Định châu lấp lánh, tuệ hương ngạt ngào Trường Giáo hội tiêu dao cực lạc Kẻ vãng sanh giải thoát hồng trần Thung dung cảnh giới tinh thần Trau tâm giồi trí, sắc thân chẳng màng Mượn thân tạm lên đàng cứu khổ Để khách trần làm chỗ dựa nương Bàn tay tứ sự cúng dường Gieo duyên giải thoát, dọn đường tương lai An thanh đạm mỗi ngày một bữa Xin vật thường của dở nuôi thân Không dành dụm, khỏi nhọc nhằn Một điều giải thoát, mấy phần cao thâm Mặc đơn giản mỗi năm một bộ Lượm vải thừa giẻ bỏ kết y Không xinh tốt, khỏi kiêu kỳ Hai điều giải thoát, ba Y thanh bần Ở luân chuyển sáu trăng một khoá Khi gốc cây, Tịnh Xá tuỳ duyên Không lưu luyến, khỏi ưu phiền Ba điều giải thoát, các miền vân du Bịnh thong thả mựa cầu phương chước Tự lòng người miếng thuốc gieo nhân Không kiều dưỡng, khỏi băn khoăn, Bốn điều giải thoát, mười phần thanh cao Thân giải thoát, thân trau giới luật Tâm tịnh thanh, tâm đạt định thiền Trí minh, trí chiếu tuệ viên Tánh an, tánh hiện diệu huyền chơn như Rừng mê chướng thâm u ngàn lối Đạo Bồ Đề một cõi minh quang Đưa đường giải thoát trần gian Ngọn đèn chơn lý trời Nam sáng bừng. * KHÊU ĐÈN CHƠN LÝ Hội Khất Sĩ bền gan khổ hạnh Bữa đói no ấm lạnh bao nài Du phương rày đó mai đây Đỡ lòng cơm hẩm gốc cây hành thiền Buổi sơ khởi não phiền không ít Lời phẩm bình chỉ trích lăng xăng Đuổi xô chia rẽ đón ngăn Lâng lâng tâm cảnh khăng khăng chí nguyền Tự ví thể con thuyền chèo chống Từ rạch cùng thông thống ra khơi Lạch ngòi sông cái xa xuôi Mênh mông biển cả, vơi vơi nước triều Tu cho mở giáo điều vẹn vẻ Tu cho người thực tế nương thân Quên mình hộ quốc an dân Hoà mình đại thể tinh thần bao la Chừng độc lập quốc gia thống nhứt Thảnh thơi rèn kiến thức văn minh Góp phần phiên dịch kệ kinh Góp phần tranh đấu hoà bình vĩnh miên Xin khêu rạng ngọn đèn công lý Sáng soi ai hữu chí cánh thành Lợi quyền nghĩa vụ phân minh Công lao có thuỷ, nghĩa tình có chung. * TRĂNG ĐẠO Trăng bủa đức vì đâu chiếu sáng? Phải chăng vì sứ mạng thiêng liêng Thường đời mù mịt tối đen Hoá thân làm một ngọn đèn sáng trưng? Rải minh tuệ bao trùm sông núi Phóng hào quang chói lọi nước mây An nhuần nội cỏ ngàn cây Đức nhuần sanh loại tỉnh say giấc hoè Ai chẳng muốn gần kề ánh sáng Ai chẳng mong nương áng tuệ lành Trăng từ siêu thoát cao minh Lòng từ quan cố chúng sanh ân cần Không phân biệt kẻ bần người phú Không nại hà biển khổ rừng mê Thị thành, thôn ấp, sơn khê Lui lui, tới tới, về về, đi đi Vắng ánh tuệ sầu bi muôn kẻ Lộ bóng vàng vui vẻ cùng nơi An hồng chăm chút săm soi Ban vui dẹp khổ, ban tươi dẹp sầu Đuốc ánh tuệ làu làu rạng tỏ Hoa Đàm gương rỡ rỡ tươi xinh Trí thần phổ chiếu viên minh Sáng soi bến tục, tịnh thanh cõi phàm Vì muôn chúng đành cam nhọc khổ Chẳng riêng mình tìm chỗ nghỉ ngơi Đông, Tây lặn lội đòi nơi Tấm thân dầu dãi khi vơi khi đầy Trăng rộng bủa đức dày tiết rạng Mây bỗng dưng kết thảm giăng sầu Huy hoàng đã hoá thâm u Thân đành mai một, nghiệp dầu phủ vây Nào chấp kẻ trí ngây phận nhỏ Những thương ai lấp ngõ ngăn đàng U minh dễ lấn hào quang Lành bền ngôi vị, dữ tan lũ bè Lâm cảnh khó không hề nản chí Giữ mực thường nhứt trí lợi sanh Lòng vàng bủa đức hy sinh Tuệ vàng rải ánh quang minh cho đời Dầu lấy nước biển khơi làm mực Lấy cây rừng làm bút viết văn Luận đề như cát sông hằng Cũng chưa giải hết ý trăng nhiệm mầu Lòng kính cẩn khấu đầu đảnh lễ Đức từ bi trí tuệ rải ban Nguyện xin nương ánh từ quang Nguyện xin thành bóng trăng vàng chiếu soi. * CHUYẾN ĐI THỦ THỪA Thủ Thừa quận tôi lâu về đó quá! Sáu năm trường không để bước viếng sang Cuộc viễn du lo ban rải ánh vàng Mà quên sót chỗ đầu tiên mở Đạo Nay Giáo Hội tựu về đông đảo Dịp trai tăng một thí chủ xuất gia Ngắm cảnh xưa mà lòng những thiết tha Nầy di tích buổi ban sơ đơn giản Nầy nền tháp kém uy nghiêm huê dạng Nhưng chứa đầy ý nhị biết là bao Ghế hoa sen nét vẽ đã phai màu Nầy buổi trước đức Tôn Sư ngự toạ Vật "tồn cổ" ôi muôn vàn quý hoá Gợi lòng tôi sống dậy mấy năm xưa Buổi Tôn Sư khai Đạo tại Thủ Thừa Rồi lê gót đi khắp nơi nhiều chỗ Nhìn vật cổ chạnh nhớ sang người cổ Vật cổ đây mà người cổ đi đâu Tôn Sư ơi! Công khó nhọc dãi dầu Rồi chung cuộc, ôi tấm thân thọ khổ. * CHUYẾN ĐI DẦU TIẾNG Đất Dầu Tiếng vùng cao nguyên rừng núi Vườn cao su kế tiếp rộng thinh thinh Lạ lùng thay rừng nhân tạo đẹp xinh Muôn ngàn dãy cây ngay hàng thẳng lối Tàn che phủ kẽ thưa xen nắng dọi Sáng chập chờn như ảo ảnh lung linh Không bóng người rừng vắng ngắt lạnh tanh Liên tưởng đến đường mơ nơi cõi lạ Sáng khất thực trưa vào rừng thong thả Độ ngọ rồi nằm nghỉ dưới tàn cây Lòng lâng lâng thanh nhẹ tựa chòm mây Không dính dáng cuộc trần ai hệ lụy Nhìn núi Điện ở phương xa hùng vĩ Lòng nao nao nguồn rung cảm kính tôn Đấng uy linh thiên hạ vẫn vang đồn Một đức sáng hiển dương cho phái nữ Và núi cậu cũng chiếm phần vinh dự Cũng trang nghiêm một dãy trập trùng sơn Lòng dám đâu tính kém cõi so hơn Thảy quý chuộng đức rộng to cả thể Ôi rừng núi cảnh thiên nhiên đẹp đẽ Sống nơi đâu khoẻ nhẹ cả thân tâm Vừa độ sanh, vừa gần gũi sơn lâm Để tu tập tánh tình chơn thiện mỹ. * CHUYẾN ĐI VĨNH CÔNG Bà Ánh Ngọc thỉnh Sư về xóm Vĩnh Nhận lời xin Giáo Hội nhóm đi đông Xuống xe rồi tẻ bộ quảng đường đồng Giữa thảm lúa xanh vàng xem đẹp mắt Bà quýnh quáng không đi ngay đường tắt Dắt cả đoàn vô xóm vắng quanh co Lộn đi rồi lộn lại cứ vòng vo Đi đi mãi mỗi người đều mệt lả Còn hú hí làm cười vang tất cả Nghĩ thương Bà lo quá hóa lăng xăng Về đến nhà lòng nôn quýnh càng tăng Vì thỉnh bát mà cơm chưa có nấu Cũng nhờ sẵn có đông người bạn đạo Đồng ra tay chia sớt việc cùng nhau Nấu cơm rồi sớt Bát thật là mau Đọc kinh kệ vẹn tuyền xong tất cả Chuyên đi ấy thật là vui vui quá Bận trở về lộ thẳng cứ đi ngay Hai bên đường công gặt thảy dừng tay Đưa mắt ngó đoàn lữ hành mãi miết Một cảm tưởng của người cầm bút viết Thương nhà nông cặm cụi nhọc thân hình Gặt lúa vàng rồi lại cấy lúa xanh Đâu rỗi rảnh mong lên đường giải thoát Nhưng xét nghĩ về bên lề sinh hoạt Không nhà nông ai nuôi sống dân tình Cả tấm thân tu sĩ của chúng mình Thảy nhờ cậy bàn tay người nông nghiệp Rồi rộng xét trăm nghê đều tươi đẹp Đeù lại qua trao đổi với nhau thôi Cõi sống đời một nhịp sống hòa vui Ta chung sống trong cõi này Cực Lạc. * HỘI NGỘ MỪNG ĐOÀN ÁO TRẮNG Nghe thiện tín đã bao phen trông đợi Khiến lòng tôi như bức rứt không an Ngày về đây nguồn thương cảm chứa chan Nhìn ai nấy nét mừng hoà giọng tủi Đường giải thoát tôi cần cù giong ruổi Có ngờ đâu còn vương vấn dư hương Để muôn người tha thiết một lòng thương Phương trời ấy biết bao người tưởng vọng Nay đã bỏ lúc ngày đêm trông ngóng Ta cùng nhau sum hiệp chốn đạo tràng Đọc kinh đi cho tâm trí nhẹ nhàng Nghe Pháp để nhuận tinh thần tươi tỉnh Cùng trao đổi câu ngâm nga khúc vịnh Trổi nhạc lòng hoà muôn điệu du dương Vườn hoa thơ đầy diệu sắc kỳ hương Hòn núi ngọ đủ thiên trân vạn bửu Thiện tri thức hỡi ai người pháp hữu Phải chăng đây cõi thế giới diệu huyền Phải chăng đây người cốt Phật căn tiên Nay tái diễn một cuộc đời muôn thuở. * ĐÊM TRĂNG Ở SÀI CA NẢ Sài Ca Nả xóm người Miên tỉnh Sóc Chúng tôi đi một cuộc lữ hành gần Trời về chiều Ni chúng tạm dừng chân Ghé xóm rẫy mượn màn trời chiếu đất Chim về tổ vần hồng đà chen khuất Chúng tôi vào rẫy trống rộng thinh thinh Đất phẳng bằng cỏ mịn tựa nhung xanh Vuông bốn phía vòng thành tre bao bọc Sương chiều xuống cỏ nhung sanh ngậm ngọc Trăng vàng lên lấp ló ngọn tre cao Ngọc kim cương phản chiếu ánh vàng sao Ôi! Mặt đất trải đầy châu báu lạ Đêm trăng ấy sao lòng tôi vui qúa Chúng tôi ngồi yên tĩnh ngắm trăng lên Trăng đêm Rằm, gương tròn trĩnh dáng duyên Trăng lữ thứ vì chúng tôi soi bước Trăng niềm nở đón đưa và tiếp rước Tôi vẫn còn bạn quý của trăng xưa Trăng ôi trăng chung thuỷ tự bao giờ Trăng chẳng nệ thời gian tròn với khuyết. * BUỔI SÁNG Ở SÀI CA NẢ Sáng tinh sương cỏ còn đeo nhẫn ngọc Tôi ngồi trên phiến gỗ dựa tàng cây Trời trong xanh không gợn một làn mây Màu xanh đẹp như đúc bằng ngọc thạch Bầu không khí của đồng quê trong sạch Tôi hít vào hai lá phổi nở nang Thân tâm tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng Tôi hăng hái yêu đời và thích sống Nhìn vạn vật dưới trời mai hoạt động Vầng thái dương tròn trĩnh hiện phương đông Bãi cỏ xanh sương lóng lánh ánh hồng Nhạc tạo hoá trên cành chim rúi rít Gió phưởng phát ngàn cây xanh nhúc nhích Như cựa mình sau giấc ngủ mê say Thức tỉnh đi này buổi sáng ban mai Mọi người thảy bắt tay vào phận sự Tôi cũng vậy, tôi ngồi đây tư lự Trí suy tầm pháp lý mở mang thêm Ráng sức mình cuốn vẹt bức màn đêm Cho được thấy ánh nhựt hồng tỏ rạng. * NƯƠNG BÓNG TRĂNG Đặt bút viết giữa hồi trăng chiếu rạng Dòng cảm này mong tỏ sáng như trăng Kẻ được xem như gặp được cô Hằng Tâm hồn đẹp như ánh trăng huyền diệu Để ai được nương theo hoà nhịp điệu Cất cánh hồng phiêu diễu tận không gian Lững lơ buông muôn trượng guộng tơ vàng Lặng lẽ ngắm nhơn gian chen ánh sáng Đêm báo hiệu cuộc đời đầy hỗn loạn Mong vừng trăng bát nhã toả hào quang Đưa muôn loại qua bước đàng nguy khốn Trăng xuất hiện ở cùng nơi khắp chốn Không vì ai cũng chẳng phụ lòng ai Mặc dầu ai có khước từ chê bai Trăng cũng vẫn là trăng bao thế hệ Hồi tưởng lại những người anh chị trẻ Bốn phương trời đang cảm nghĩ gì đây Có sẵn sàng đón rước chuỗi ngày mai Hay áo não thở dài trong đêm tối Có nhận thức nẻo đời muôn vạn lối Mà con đường hướng thượng mới là xinh Sống cho ai đâu phải sống cho mình Vươn sức sống để đạt thành thuật sống Thuyền lướt giữa ba đào gầm chuyển động Vững tay chèo trong khí dũng hiên ngang Ba đào cần dũng lực để tranh đương Ba đào mạnh, hay hiên ngang sức mạnh? Ta phải sống lấy tình thương làm cứu cánh Tế độ làm phương tiện để trau tâm Đối tượng là đau khổ của thế nhân Ta phải sống trong tinh thần lý tưởng Trăng đã sống, để chan hoà ánh sáng Vì bóng đêm trăng biến tướng làm đèn Cõi thế trần đương dày đặc bóng đêm Ta phải sống như đèn trăng hiện tướng Lòng thương phải phân chia ra muôn hướng Người nương trăng, trăng sáng để cho người Trăng với người ai có thể tách rời Gom sức sống dựng xây nền Cực Lạc. * VỊNH HẠ LONG Ngàn vạn hòn như thiên binh vạn mã Dàn trận đồ sừng sững đá thiên nhiên Đảo như gà, cá, đảo tựa buồm thuyền Muôn ngàn hình trạng huyên thiên trác tuyệt Ôi tạo hoá cảm tình dân tộc Việt Tặng món quà diễm tuyệt đại kỳ quan Biển trong xanh dìu dặt nắng phơi vàng Tàu êm ái nhịp nhàng cơn sóng nhẹ Biển liền biển, hòn nối hòn, vô số kể Mỗi dạng hình mỗi nét vẻ thiên nhiên Ngàn cánh tay nghệ thuật của quần tiên Thi chạm trổ, thi do huyền biến hoá Đảo lại đảo đều đều như tất cả Không quá to quá nhỏ khác xa nhau Bàn tay ngà, rải ngọc luyện giồi châu Cõi điện ngự với loan chầu hạc múa Rồng xuống vịnh vẫy vùng cùng tắm rửa Hoá nước non muôn thuở cảnh thần tiên * VỊNH CHÙA NGỌC BỬU Chùa tranh một mái đỉnh non xa Giữa cảnh thiên nhiên đẹp đẹp là Mỗi phiến đá xinh riêng nét lịch Từng chòm mây gấm điểm thêm hoa Xanh om cổ thụ tàng duyên dáng Trắng xoá tràng giang nước lập loà Ngọn gió thanh lương vừa thổi nhẹ Bao nhiêu phiền não thảy tiêu ma * VỊNH THÍCH CA PHẬT ĐÀI Dốc thượng quanh co dưới Phật Đài Lâng lâng gió lộng sạch trần ai Đất thiêng huyền diệu vào bia sử Xá Lợi tôn nghiêm giữa biển trời Tháp bảo nguy nga non trạc trạc Dục tình biển thẳm nước vơi vơi Địa linh nhân kiệt tìm noi dấu Hoá kiếp từ bi giác ngộ đời * CẢNH TỊNH XÁ NGỌC QUANG Khu vườn bã đậu lá xanh xanh Đối cội giao tàng lợp mái tranh Cất bước khoan thai vừa ngắm nghía Tưởng đâu lưới Pháp Phật giăng thành Bước sang qua một nhịp cầu xinh Hai lớp rào ngăn cõi tịnh thanh Tịnh xá trang nghiêm đơn giản gọn Có chiều thanh lịch vẻ quang minh Cốc nhỏ vài ba nóc lợp tranh Tàng tre tha thướt lá tươi xanh Y vàng phơ phất Tăng lui tới Bức hoạ người thanh giữa cảnh thanh Đây hòn núi đất điểm phô duyên Sừng sững Bồ đề mọc chót trên Lá mướt xanh tươi khua tiếng gió Như cùng reo khúc nhạc thần tiên Hồ rộng vươn mình ngắm núi cao Lá xanh sen đỏ điểm tô màu Ban ngày thấp thoáng chòm mây bạc Đêm tối lung linh bóng nguyệt chào Ngắm cảnh ai người dạ thích ưa Ai người chạnh nhớ chủ nhân xưa Bàn tay xây dựng công trình ấy Rồi để cho ai hưởng phước thừa. * ĐỀ ẢNH ĐỨNG DƯỚI GỐC CÂY DẦU (Tại ao Bà Om – Vĩnh Bình) Một mình đứng giữa chốn rừng xanh Tự hỏi có nên lánh thị thành Đáp lại cảnh nhàn ta vẫn mến Nhưng còn phận sự với nhơn sanh Bởi còn phận sự với nhơn sanh Phải bước chân đi khắp thị thành Biết đến bao giờ trọn nhiệm vụ Trở về an hưởng cảnh rừng xanh Thôi đừng mơ tưởng cảnh rừng xanh Ích kỷ làm sao Đạo được thành Sanh chúng lâm vào cơn tử bệnh Đang chờ phương thuốc cứu hồi sanh. * CẢNH NHÀN Duyên khách thong dong hạnh khách nhàn Căn lành hội ngộ chốn nhân gian Châu tuyền thi pháp phô trương thắm Cao diệu tâm kinh rạng sắc vàng Tăng, tục phân chia đường tịnh cấu Hiệp ly lẫn lộn nét bi hoan Chút lòng nhắn gởi câu thân thiết Đèn huệ năng khêu chớ để tàn! II Cảnh nhàn hay bởi tại người nhàn? Tạo cõi siêu trần giữa thế gian Rợp bóng từ bi cây rậm lục Phơi màu bác ái áo tươi vàng Soi gương trí tuệ lòng thông suốt Nhuận nước cam lồ sắc hỷ hoan Chánh đạo Bồ đề xưa một cội Hai ngàn năm rưỡi gốc chưa tàn. * GIÁO PHÁP ĐẠI ĐỒNG Giáo lý tuyên dương rạng bóng đèn Pháp đăng khai huệ nở hoa sen Đại duyên thức tánh lên bờ giác Đồng hoá đạo tâm trước ánh đèn Phổ vọng từ bi vang tiếng nhạc Thông mùi bác ái ngát hương sen Thế gian thoát khổ đời an lạc Giới luật truyền lưu tỏ ngọn đèn * CẦU PHẬT RA ĐỜI Cầu nguyện kim quang rạng bóng đèn Phật vương giáng thế ngự toà sen Ra ơn giáo hoá khai nguồn đạo Đời loạn u minh gặp ánh đèn Thế thượng rộng đường soi đuốc tuệ Giới điều nhiều cánh kết bông sen Bình hoà thiên hạ gương hiền đức Yên ổn tịnh thanh dưới ngọn đèn * PHÁP ĐĂNG CHƠN LÝ Rừng đời bao phủ tấm màn đen Rực ánh quang minh chiếu bóng đèn Thức giấc mê ly hồi rộn rã Rọi đèn giác ngộ bước đua chen Tinh thần gió lạ rao rao ngọn Vật chất hương nồng tản tản men Mở mắt muôn loài mau tỉnh mỉnh Xa gần lan khắp tiếng đồn khen * LIÊN HOA GIÁO HỘI Nước trần cặn cáu gợn sình đen Vượt khỏi bùn lầy trổ đoá sen Lá pháp xanh đưa làn biếc trải Nhuỵ tâm vàng điểm cánh hồng chen Lên đường giải thoát nêu gương huệ Độ kẻ trầm luân tỉnh giấc men Kìa đoá Ưu Đàm ai gặp gỡ Không căn thành Phật cũng duyên tiên * LÀM ĐẤT Thi phú văn chương dẹp lại rồi Xúm nhau làm đất cực mà vui Kẻ đào, kể hốt người khiêng gánh Nơi cuốc, nơi bang chỗ đắp bồi Đảo hải vi sơn bài chửa thuộc Phá điền lập tự đất thành ngôi Bên đường quan khách dừng chơn ngợi Vóc yếu hình gầy giỏi quá thôi * CHUYỀN ĐẤT Bốn chục Ni Cô một sắc vàng Thành hình chữ nhất đứng giăng ngang Chuyền phước quả bồi bồi liên tiếp Bắt bắt cơ duyên hứng lẹ làng Vội vã nghiêng mình nâng diệu Pháp Xăn văn ngửa mặt chuyển thần quang Xa xa nhìn ngắm xem tương tựa Vẫy móng kim long uốn nhịp nhàng * LO LƯỜNG Mưa nắng bùn lầy thấy khổ công Rưng rưng ứa lệ ngẩn ngơ lòng E rồi lỡ cuộc trơ tay trắng Thức mãi thâu canh đổ luỵ hồng Thương bấy vai mềm gồng gánh cứng Xót vì chữ sắc buộc người không Thiên nhơn sao chẳng ra nâng đỡ Để tớ sầu than tiếng não nồng * GỌI BẠN Khí lành đất tốt đẹp tình người Danh đã hư mà lợi cũng hư Thị Vải hiền hoà chim ríu rít Đồng Nai duyên phước tạo vun bồi Lòng không gió thoảng trần ai lặng Mây lững trăng thanh trí tuệ ngời Muôn rạch trăm giòng xuôi bến giác Ngọc Thiền gọi bạn định thiền ơi! * KHAI BÚT Tiếng pháo mừng xuân khắp đó đây Xuân sang Mậu Tuất thảy vui vầy Thái hoà vũ trụ hoà mưa gió Thấm nhuận sơn hà nhuận cỏ cây Nghiệp dữ buông rời nhơn đổi sửa Đức lành gom kết phước vần xoay Đạo chơn phổ biến trời Nam Việt Tế độ quần sanh kịp hội nầy * KỶ DẬU CẢM TÁC Tiếng gà óng ỏi dậy non sông Rạng rỡ năm châu ánh Lạc Hồng Văn hiến ngàn năm tươi cội Việt Võ công muôn thuở chói vừng Đông Anh hùng dân tộc chung bồi đắp Liệt nữ giang sơn cũng gánh gồng Một cõi gấm hoa xương máu dệt Dễ ai tráo chác dễ đèo bồng * KHO TÀNG VÔ TẬN Dưới biển trên non giữa mái thiền Nửa phần cốt Phật nửa căn tiên Đất lành gieo giống tươi quỳnh uyển Nước diệu ngâm mình dứt bịnh duyên Trong sáng bao la trời trí huệ Thung dung giải thoát Đạo siêu huyền Kho tàng vô tận ngàn mây gió Đại thí vô vàn khó lượng biên * MỪNG XUÂN QUÝ HỢI Mừng xuân Quý Hợi chúc Ni sanh Đại nguyện hoằng dương Đạo đắc thành Học vấn trau giồi gương trí huệ Ghét ganh đào thải gốc vô minh Từ bi chất ngất nền công đức Nhân nghĩa bằng san hố bất bình Kết cánh liên hoa hoà hội chúng Đường về bến giác rộng thinh thinh * XUÂN VỚI ĐẠO Trăm hoa đua nở nét trinh thuần Muôn vạn lòng đua nở đoá xuân Rực rỡ y vàng tươi đạo Pháp Nhởn nhơ áo trắng đẹp tinh thần Vui xuân ước được xuân trường cửu Học Đạo cầu sao Đạo tối chân Đơm cánh hoa xuân rồi kết quả Quả xuân tròn chín Đạo tròn phần * TIẾNG GỌI THIÊNG LIÊNG Nhớ buổi đầu tiên lập đạo tràng Tinh thần dỏng mãnh mấy ai đang Thầy trò tương ngộ trời trong sáng Huynh đệ đồng song cảnh rộn ràng Nhu cầu Phật sự kíp lên đường Nhiệm vụ người người tự đảm đương Nhẹ bước du phương trường học hỏi Chở che Đạo Pháp hạnh hoằng dương Khó nhọc gian lao nguyện gánh gồng Y vàng phấp phới khắp miền Trung Mở lòng trong sáng lời kinh Pháp Khai đạo gần xa chí lực hùng Nguyện độ nhân sanh hết khổ nàn Mình vương ách khổ nạn miên man Thương đời chia xẻ nhiều cay đắng Dồn nghiệp cho mau đến Niết Bàn Tiếng gọi thiêng liêng nhớ hạnh từ Nỗi lòng Bồ Tát lắng ưu tư Bụng không con khóc tình cơm cháo Nắng lửa cây gào nghĩa móc mưa * ĐỨC THẦY LÂM NẠN MINH tinh rạng chói cõi trần gian ĐĂNG chiếu khắp nơi đạo rộng tràn QUANG nhựt hành trình vương khổ ách LÂM vào ngục thất chịu tai nàn NẠN Thầy vô tội đành mang nghiệp HỠI kẻ không thù nở kết oan TRỜI động lòng thương mưa gió lạ ÔI thôi đệ tử lệ sầu chan! * LÒNG NGƯỜI HIẾU TỬ TÔN Sư vô tội thọ tai ương HOẰNG nguyện cùng nhau đến ngục đường LẬP hạnh trò hiền tròn chữ hiếu NGUYÊN mong kẻ dữ động lòng thương AN tâm ví được lần tương hội THƯỜNG chấp dầu lâm cảnh đoạn trường DUYÊN nghiệp ngờ đâu thêm rắc rối GIỚI thâm u để lệ sầu vương. * GIỚI thâm u để lệ sầu vương DUYÊN số thà chung cảnh đoạn trường THƯỜNG nhớ Thầy lâm cơn bó gối AN vui con há chẳng tìm phương NGUYÊN do nào rõ phần đau hờn LẬP thế mong sao gặp tận tường HOẰNG thệ nạn Thầy con gánh chịu TÔN Sư ắt rõ tấm tình thương! * ĐƯỜNG GIẢI THOÁT Trống giục canh tàn Ngày sang đêm mãn Anh sáng tươi hồng Vầng đông tỏ rạng Cõi trần hoàn lố dạng huỳnh y Đường giải thoát hồi quy bỉ ngạn Cùng năm tháng, trải gót hoá duyên Hằng bữa liên miên, trì bình khất phạn Thân là tạm, cõi đời là tạm Cánh bèo trôi bể thảm lênh đênh Tâm hằng bền, lẽ đạo hằng bền Gót trí dạo rừng thiền thanh thản Lưới ái, dây tình vương vấn Vực sâu biển thẳm Cột người này nhủng nhẳng người kia Trí minh gươm tuệ đoạn lìa Bến giác bờ kia Bỏ nẻo tối quy về nẻo sáng Hiệp bạn đồng nguyền Đóng thuyền vượt bể Phát thệ hoằng sanh Du hành độ thế Lập nên hệ thống Tăng già Giữ đúng quy điều Phật chế Tứ y Pháp bốn chồi cội rễ Đơm hoa đẹp đẽ Ba ngàn, tám vạn đoá nghiêm trang Thập giới điều mười nhánh bổn căn Trổ trái sai oằn Hai trăm năm mươi chùm diễm lệ Diệt bản ngã, trăm thân hoà nhứt thể Sống một đời vạn thế kỉnh khâm Dứt cạnh tranh, dị khẩu hợp đồng âm Nói một tiếng muôn lần ghi để Ý thanh lịch cùng nhau vui vẻ Sớt dắng cay san sẻ ngọt bùi Giới trang nghiêm chung hiệp trau giồi Điểm lành lặn vá bồi sức mẻ Kiến thức cao sâu cùng chỉ vẽ Người si nhờ người tuệ đỡ nâng Lợi quyền đa thiểu trọn chia phân Lòng đạo diệt lòng trần ô uế Giăng tay dắt con thuyền hoằng thệ Thả trên mặt bể An trí kẻ trầm Trải lòng đan chiếc áo từ tâm Choàng khắp cõi trần Am thân người thế. Đuốc tuệ soi đàng Anh vàng tỏ lối Bóng tối lui dần Đạo chân phát khởi Trống pháp dậy âm rền Chuông thiền ngân tiếng dội Cờ bác ái tung bay phấp phới Đèn quang minh chiếu rọi tưng bừng Phan từ bi vờn lượn lưng chừng Loa giác ngộ tuyên dương inh ỏi Giấc hôn trầm tỉnh vội Gươm trí tuệ tay trao Đường giải thoát tiến mau Nón tâm nguyền đầu đội Nôn nao phấn khởi, bạn mới vầy đoàn Rộn rã hân hoan, lòng vàng tương hội Cõi tịnh lạc dẫu muôn trùng diệu vợi Thầy trò theo lối lướt phăng Bước xông pha tuy nhiều nỗi khó khăn Bầu bạn bền tâm chống chỏi Lửa lòng tắt nguội, kệ kinh nhuần gội chiều mơi Hoa trí nở tươi, pháp lý vun bồi sớm tối Thân, miệng, ý giới nghi ràng trói Vào thiện duyên Nói, tưởng, làm luật hạnh nhắc khuyên Xa miền tội lỗi. Trưa trưa, tối tối, Nước định chân mát dạ đôi biều Sáng sáng, chiều chiều Cơm thiền duyệt no lòng hai buổi Cành dương chi rưới gội Rửa lòng sạch bụi, Mặc áo nhu hoà Xe thượng thặng xông pha Rước khách không ta Vào nhà từ ái Không quyền, không lợi Hoà hiệp muôn duyên Chẳng bạc, chẳng tiền Tịnh thanh một cõi Nắm bát y nối dõi chơn truyền Phăng Định, Tuệ hườn nguyên gốc cội. * GIẢI THOÁT ĐẠO Đời mạt Pháp trên hai ngàn năm rưỡi, Vắng bóng Tăng, tu tịnh hạnh thanh bần. Nay bỗng đâu, Chánh giáo hiện trong trần, Khêu đuốc tuệ, tỏ đường đi lối bước. Đây những kẻ, băng mình kinh nghiệm trước, Hạnh tu cao, như dốc núi trèo lên. Định bao giờ đi đúng mức siêu nhiên, Sẽ quay lại kêu gọi đoàn hậu tiến. Nhưng thảm nỗi cõi đời đầy nguy biến, Người khổ tâm mong tìm chỗ thoát thân. Món nghiệp trần mang sức nặng ngàn cân, Tháp tùng kẻ chơn không đang nhẹ gót. Đường khấp khểnh ngàn trùng cao đảnh chót, Bước cheo leo muôn trượng thẳm hang sâu. Dắt làm sao, rồi đi đứng làm sao, Dây thúc phược, nặng nề vương nghiệp lực. Ôi khó nghĩ, cho tâm người rộng đức, Bỏ không đành, mà độ cũng không kham. Chốn Tây-phương, há đựng mãi tình phàm, Hư không giới, nào dính đâu hạt cát. Nguyện đắc quả, nguyện bao giờ thành đạt, Đủ sức linh, dẫn độ khắp muôn loài. Há phải đâu, riêng vị một hai người, Để trở ngại cuộc hành trình diệu viễn. Điều thiết yếu phải công phu tu luyện, Kẻ chưa siêu, nào độ được ai siêu. Người đang tu, là đang gắng tìm trèo, Tự giải thoát, trên bước đường siêu vượt. Rẽ lối hiểm, cất mình tinh tấn lướt, Dứt dây oan, rảnh trí nhẹ nhàng bay. Gót tiêu diêu, chẳng bợn chút trần ai, Gió lộng thổi, mảnh y vàng phất phới. Ao khất sĩ, bức hoạ đồ thế giới, Vẽ muôn ngàn, đường lối bước vân du. Vì chúng sanh, khai mở lắm công phu, Nẻo giải thoát, trở về quê cảnh cũ. Bát Khất sĩ, bầu càn khôn vũ trụ, Chứa muôn loài, vạn vật một lòng thương. Quyết tâm tu, chứng ngộ Đạo chơn thường, Bình nước tịnh, nhúng cành dương ban rưới. |