BuddhaSasana Home Page

Vietnamese, with Unicode VU Times font


Tâm Sở Vấn Đáp

Phần III - Tâm sở Tịnh hảo
(Sobhanacetasikā)

Tỳ khưu Chánh Minh
Chùa Bồ Đề, Vũng Tàu


Xin lưu ý: Cần có phông UnicodeViệt-Phạn VU Times cài vào máy để đọc các chữ Pàli.

[01]

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

Theo mẫu tự Pāli

Atts.

Atthasālinī (Chú giải bộ Pháp Tụ)

A.

Aṅguttara Nikāya (Tăng Chi bộ)

Ja.

Jākata – atthakathā (Chú giải kinh Bổn sanh)

Thera.

Theragathā (Trưởng lão tăng kệ)

Therī.

Therīgāthā (Trưởng lão ni kệ)

Dhp.

Dhammapāda (kinh Pháp cú)

Dhs.

Dhammasaṅginī (Pháp tụ)

DhpA.

Dhammapāda – atthakathā (chú giải kinh Pháp cú)

D.

Dīgha Nikāya (Kinh Trường bộ)

DA.

Dīgha Nikāya – atthakathā (chú giải Trường bộ kinh)

Ps.

Paṭisambhidāmagga (Vô ngại giải đạo)

PvA.

Petavatthu- atthakathā (chú giải ngạ quỷ sự)

Miln.

Milindapañhā (Mi-Tiên vấn đáp)

Vsm.

Visuddhimagga (Thanh Tịnh đạo)

Sn.

Sutta nipāta (kinh Tập)

SnA.

Chú giải kinh Tập

S.

Saṃyutta Nikāya (Kinh Tương ưng bộ)

M.

Majjhima Nikāya (Kinh Trung bộ)

MA.

Majjhima Nikāya – atthakathā (chú giải Trung bộ kinh)

-ooOoo- 

Phần III

TÂM SỞ TỊNH HẢO VẤN ĐÁP.
(Sobhanacetasikā pucchakā).

1. Hỏi: Vì sao gọi là tâm sở Tịnh hảo? Có bao nhiêu tâm sở thuộc nhóm Tịnh hảo?

Đáp: Chữ sobhana nghĩa là chói sáng, rực rỡ. Những tâm sở nào làm tâm trở nên chói sáng rực rỡ, đưa đến tiến hóa, tâm sở ấy gọi là tịnh hảo (sobhana).

Sở dĩ gọi là sobhana vì những tâm sở này liên kết với ba căn thiện (mūlakusala) là vô tham, vô sân, vô si.

"Tīṇimāni, bhikkhave, kusalamūlāni. Katamāni tīṇi? Alobho kusalamūlaṃ; adoso kusalamūlaṃ; amoho kusalamūlaṃ.

"Này các Tỳ khưu! Có ba căn bản của thiện. Thế nào là ba? Không tham (alobha) là căn bản của thiện; không sân (adosa) là căn bản của thiện; không si (amoha) là căn bản của thiện...". [1]

Thế nào là thiện?

Theo Atthasālinī (sớ giải Bộ Pháp tụ), Ngài Buddhaghosa (Giác Âm) có giải thích [2] :

"Kusalanti kucchitānaṃ salanādīhi atthehi kusalaṃ:

Gọi là thiện, khi xuất hiện nó diệt trừ những điều tội lỗi (ādīna), xấu xa (kucchitā), đó là ý nghĩa (của) thiện.

Apica ārogyaṭṭhena anavajjaṭṭhena kosallasambhūtaṭṭhena ca kusalaṃ:

"Và thiện còn có những ý nghĩa khác là: Không có bịnh (ārogya), không có tội lỗi (anavajja), khởi lên khôn khéo (kosallasambhūta)".

Phụ Sớ giải (Ṭīkā) giải thích: Thiện có 5 nghĩa là :

1- Không bịnh (ārogya).

2- Tốt đẹp (sundarattha).

3- Khôn khéo (chaka).

4- Không tội lỗi (anavajja).

5- Có quả an vui (sukhavipāka).

Giải:

a- "Không bịnh". Ở đây chỉ cho "tâm lành mạnh", là tâm không bị tha hóa bởi những ô nhiễm từ bên ngoài vào. Ý nghĩa "không bịnh" hàm ý "hoàn hảo".

Ý nghĩa khác của "không bịnh" là những tâm sở này có thể dẫn đến Nípbàn (aroga là tên gọi khác của Nípbàn). Như Phật ngôn:

"Ārogya paramā lābhā

Không bịnh là lợi tối thượng" [3] .

b- "Tốt đẹp". Vì phá hủy những điều ác xấu, thực hiện tích cực những việc lành như: bố thí, trì giới, tu thiền ...

c- "Khôn khéo": Tâm sở Tịnh hảo biết lách tránh những cạm bẩy dẫn đến thối đọa, như vị tỳkhưu thấy nguy hại của các trần cảnh (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) đáng hài lòng nên có tâm nhàm chán dục lạc, nhờ đó vị ấy tinh cần tu tập có thể chứng đạt thiền định hay Nípbàn.

Hoặc khi nhận cảnh không tốt đẹp, biết giữ tâm không cho rơi vào "khó chịu", đồng thời nương vào đối tượng (ārammaṇa - cảnh) không tốt đẹp ấy để đạt được những thành tựu tốt đẹp, như vị Tỳ khưu quán tử thi, quán thể trược ... chứng đạt Sơ thiền, phát triển tuệ quán thành tựu Đạo - Quả siêu thế, do đó gọi là khôn khéo.

Chữ Kosalla được Ngài Buddhaghosa giải thích: "Kosallaṃ vuccati paññā: Trí tuệ gọi là khôn khéo".

Ý nghĩa "khôn khéo " ở đây chỉ cho những tâm thiện hòa hợp với trí. Những tâm thiện ly trí không có được ý nghĩa này.

d- "Không tội lỗi". Khi có ba căn bản thiện phối hợp, tuy hành động về thân hay ngữ, tuy bề ngoài có vẽ không tốt đẹp nhưng không mang tội lỗi.

Như Trưởng lão Piliṇḍavaccha, vị trưởng lão được Đức thế Tôn ban cho địa vị "đệ nhất được chư thiên ái kính" [4] , thế mà Ngài thường gọi các bậc đồng phạm hạnh là "đồ bần tiện".

Chư tỳ-khưu than phiền đến Đức Thế Tôn, Đức Phật giải thích "đó là thói quen của ngôn ngữ do tập khí quá khứ, vì Ngài trải qua 500 kiếp là Bàlamôn, quen gọi những nô lệ là "đồ bần tiện", hiện tại Ngài đã chứng quả A-la-hán không còn kiêu mạn trong tâm, nhưng chưa trừ bỏ được tập khí trong quá khứ, tâm Ngài không có ý khinh miệt các bậc đồng phạm hạnh".

Hay bà tín nữ Dự lưu sắp xếp cung tên cho chồng đi săn bắn, chư tỳ khưu thắc mắc: "Vị Thánh nữ Dự lưu sao còn có ý sát sanh?". Đức Phật giải thích "bà chỉ làm phận sự người vợ, chứ không có ý sát hại chúng sanh khác. Ví như cầm thuốc độc nhưng tay không vết trầy thì vô sự". Rồi Ngài dạy kệ ngôn:

"Pāṇimhi ce vaṇo n’ āssa. Hareyya pāṇinā visaṃ.

Nābbaṇaṃ visaṃ anveti. Natthi pāpaṃ akubbato.

"Bàn tay không thương tích. Có thể cầm thuốc độc.

Không thương tích, tránh độc. Không làm, không có ác." [5]

Hay như Ngài Cakkhupāla (vị Alahán bị mù), đi kinh hành dẫm đạp chết các côn trùng [6] ...

e- "Cho quả an lạc". Điều này dễ hiểu và quả an lạc cao nhất là Nípbàn. Như Phật ngôn: Nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ: Nípbàn là cực lạc" [7] .

Đối với pháp hữu vi, lạc cao nhất là lạc tứ thiền (hay ngũ thiền theo thiền năm bậc).

Có thắc mắc rằng: Những tâm sở này vì sao không gọi là những tâm sở thiện (kusalacetasikā) lại gọi là tâm sở tịnh hảo (sobhana cetasika)?.

Vì rằng: Những tâm sở này cũng có mặt trong tâm quả (vipākacitta) hay tâm vô ký (kriyācitta).

Khi tâm quả có tâm sở tịnh hảo phối hợp, loại tâm quả này "chói sáng", như tâm quả tịnh hảo Dục giới cho tái sanh làm người hay chư thiên Dục giới, tâm quả Sắc giới hay tâm quả Vô sắc giới cho sanh về các cõi thiền tương ứng, tâm quả Siêu thế thành tựu "chấm dứt luân hồi" theo từng bậc.

Khi tâm Hạnh (kriyācitta) có tâm sở Tịnh hảo hợp, đó là loại tâm của vị thánh Ala hán, sự chói sáng của tâm này là hiển nhiên, không có gì phải bàn cãi.

Lại có câu hỏi rằng: Những tâm sở Tợ tha khi đi chung với tâm sở Tịnh hảo có "chói sáng" không?

- Có, tuy bản chất thật của tâm sở Tợ tha không thể chói sáng, nhưng nương vào năng lực của tâm sở Tịnh hảo chúng chói sáng. Ví như đi chung với Đức vua, người hầu cũng sang trọng, hay đi chung với người thiện tuy không thiện cũng được mang tiếng "lành".

Rõ ràng hơn là: Tầm (vitakka), tứ (vicāra), hỷ (pīti) lạc (sukhavedanā), và nhất hành (ekaggatā); thông thường chúng chỉ là những tâm sở Tợ tha, nhưng khi có niệm (sati), tín, vô tham, vô sân... (chủ yếu là niệm), chúng trở nên "chói sáng" và trở thành chi thiền.

Nhóm tâm sở Tịnh hảo gồm 25 tâm sở, chia làm bốn nhóm như sau:

- Nhóm tâm sở Tịnh hảo biến hành (sobhanasādharaṇā): Gồm 19 tâm sở.

- Nhóm tâm sở Ngăn trừ (virati): Gồm 3 tâm sở.

- Nhóm tâm sở Vô lượng (appamaññaya): Gồm 2 tâm sở.

- Và trí tuệ.

2- Hỏi: Bốn đặc tính của kusala (thiện) ra sao?

Đáp: Sách Atthasālinī (Sớ giải bộ Pháp Tụ) có nêu lên bốn đặc tính của kusala (thiện) là:

- Trạng thái (lakkhaṇa): Không có tội lỗi, cho quả an lạc (anavajjasukhavipāka- lakkhaṇā).

Hoặc là :"Chống lại tội lỗi hay không có lỗi (avajjapaṭipakkhattā vā anavajjalakkhaṇā).

- Phận sự (rasa): Phá hủy bất thiện (akusalaviddhaṃsanarasaṃ).

- Thành tựu (paccupaṭṭhāna): Trong sạch hóa tâm (vodānapaccupaṭṭhānaṃ).

Hoặc là: "Iṭṭhavipākapaccupaṭṭhānaṃ: Có quả (đáng) vui thích."

- Nhân gần (padaṭṭhāna): Khởi sanh tác ý đúng (yoni so manasikāra paccupaṭṭhāṇaṃ) (sđd).

Giải:

1.-"Không có tội lỗi". Là khi tâm thiện sinh lên thực hiện những điều tốt đẹp do kết hợp với vô tham, vô sân hay vô si. Tâm thiện không tạo ra những ác - bất thiện nghiệp nơi thân - ngữ - ý.

"Cho quả an vui". Là những an lạc, hạnh phúc.

Quả an lạc này rất đa dạng như: "Cho tái sinh về cõi người, cõi chư thiên hay phạm thiên", hoặc những an lạc bên ngoải như "đầy đủ tài sản, danh vọng..", quả an lạc bên trong như "sát trừ phiền não, thành tựu những thắng trí như thiên nhãn thông..."

2- "Phá hủy bất thiện". Là đẩy lui những bất thiện pháp đang có, đồng thời những bất thiện pháp chưa sinh không sinh lên.

Khi tâm thiện được tu tập làm cho sung mãn, thì diệt trừ mọi phiền não, chấm dứt mọi ô nhiễm. Như Phật ngôn:

"Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi yaṃ evaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ mahato anatthāya saṃvattati yathayidaṃ, bhikkhave, cittaṃ.

Cittaṃ, bhikkhave, bhāvitaṃ bahulīkataṃ mahato atthāya saṃvattatī'ti.

"Ta không thấy một pháp nào khác, này các tỳkhưu, khi tu tập đưa đến nhiều lợi ích lớn, này các tỳkhưu, như tâm.

Này các tỳkhưu, tâm được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhiều lợi ích lớn" [8] .

3- "Trong sạch hóa tâm". Là loại trừ những pháp làm tâm nhơ bẩn để tâm được trong sạch, tâm đã trong sạch thì càng trong sạch hơn. Như Phật ngôn:

"Pabhssaranamidaṃ, bhikkhave, cittaṃ. Tañca kho āgantukehi upakkilesehi vippamuttaṅti,

"Tâm này, này các tỳkhưu, là sáng chói. Và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào" [9] .

4- "Khởi sanh tác ý đúng". Là sự hướng tâm một cách đúng đắn, như khi nhận biết cảnh tốt đẹp thì hướng tâm ra khỏi tham ái, khi gặp cảnh xấu thì hướng tâm ra khỏi khó chịu...

3- HỎI: Hãy kể tên 19 tâm sở Tịnh hảo biến hành và nói ý nghĩa "biến hành" (sādhāraṇā) của chúng.

ĐÁP: Pāli có ghi nhận: Mười chín (19) tâm sở tịnh hảo biến hành như sau:

Saddhā, sati, hiri, ottappaṃ, alobho, adoso, tatramajjhettatā,

kāyapassadhi, cittapassadhi, kāyalahutā, cittalahutā, kāyamudutā, cittamudutā,

kāyakammaññatā, cittakamaññatā, kāyapāguññatā, cittapāguññatā, kāyujjukatā, cittujjukatā.

Ceti ekūnavisatime cetasikā sobhanasādhāraṇā nāma.

"Tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, trung tính [10] ,

 tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm, thích thân, thích tâm,

nhu thân, nhu tâm, thuần thân, thuần tâm, chánh thân, chánh tâm.

Như vậy, 19 tâm sở này gọi là biến hành Tịnh quang tâm sở". [11]

Gọi là tâm sở tịnh hảo Biến hành (sādhāraṇā) vì 19 tâm sở này đều có mặt trong 59 (hay 91) tâm tịnh hảo.

59 tâm là: 24 tâm Dục giới tịnh hảo+ 27 tâm đáo đại + 8 tâm siêu thế (tính hẹp).

91 tâm là: 24 tâm Dục giới tịnh hảo+ 27 tâm đáo đại (mahaggatācitta) + 40 tâm siêu thế (tính rộng).

  

*

A- TÂM SỞ TỊNH HẢO BIẾN HÀNH.
(Sobhanasāradhāṇā).

1- Tâm sở Tín (sadhācetasika).

4. HỎI: Thế nào là tâm sở Tín (saddhācetasika)?

ĐÁP: Saddhā từ = ngữ căn saṃ (tốt, khéo) + căn dah (thiết lập, đặt xuống, đè xuống).

Theo nghĩa ban sơ (nguyên ngữ) saddhā là "đặt xuống (nơi) tốt đẹp" hay "thiết lập sự tốt đẹp".

*- "Đặt xuống nơi tốt đẹp". Saddhā là niềm tin được đặt vào nhân vật hay điều (vatthu) nào đó mà nó cho là tốt đẹp. Nơi ấy, diều ấy có thật sự là "tốt đẹp" không lại là việc khác.

Như đứa bé tin tưởng vào cha mẹ, thầy cô của chúng, đối với chúng những người này là "tuyệt vời", hoặc chúng tin có "ông tiên, bà tiên hiền lành" trong những câu truyện thần tiên diễm ảo của tuổi thơ.

*- "Thiết lập sự tốt đẹp". Saddhā (tín) là nền tảng ban đầu của các thiện pháp, hay những điều tốt đẹp.

Chính do ý nghĩa "thiết lập sự tốt đẹp" này, nên Luận sư Anuruddha nêu saddhā (tín) trước tiên trong 25 tâm sở tịnh hảo.

Theo nghĩa bóng, saddhā (tín) thường được hiểu là "sự tín nhiệm, sự tin tưởng, sự tin cậy".

Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgani) trong tạng Thắng pháp (abhidhamma) có định nghĩa:

"Katamaṃ tasmiṃ samaye saddhindriyaṃ hoti?

Thế nào là tín quyền (saddhidriya) trong khi ấy?

"Yā tasmiṃ samaye saddhā saddahanā okappanā abhippasādo saddhā saddhindriyaṃ saddhābalaṃ. Idaṃ tasmiṃ samaye saddhindriyaṃ hoti.

Trong khi ấy, có pháp là sự tin tưởng, sự tin cậy, sự tín nhiệm, sự tịnh tín, tín là tín quyền, tín lực. Đây là tín quyền trong khi ấy [12] .

Ngài Buddhaghosa trong sáchAtthasālinī có giải thích [13] :

*-Buddhādiguṇānaṃ saddahanavasena saddhā: Tin tưởng vào những ân đức, đứng đầu (ādi) là ân đức Phật, đó là saddhā (đức tin)".

*- Buddhādīni vā ratanani saddahati pattiyāyatīti saddhā:

Tin tưởng và đạt được (pattiyā) từ Đức Phật hay các (ân đức) quý báu khác, gọi là đức tin (saddhā) [14] .

*- Saddahanāti saddahanākāro: Sự tin cậy là làm cho (được) tin tưởng.

*- Buddhādīnaṃ guṇe ogāhati, bhinditvā viya anupavissatīti okappanā:

Chìm vào những ân đức như ân đức Phật, ví như sự trầm tư để tìm cách phá vỡ (chướng ngại), gọi là okappanā (sự tín nhiệm) [15] .

*-Buddhādīnaṃ guṇesu etāya sattā ativiya pasīdanti, sayaṃ vā abhippasīdatīti abhippasādo:

Chúng sinh có được sự xác tín nơi các ân đức, đứng đầu là ân đức Phật, hay có được sự xác tín cao tột nơi các ân đức khác, gọi là "sự tịnh tín (abhippasādo)" [16] .

 Ngoài ý nghĩa "niềm tin" ra, saddhā còn mang ý nghĩa là "sự tự tin".

Trong Milindapañhā, Đức Nāgasena có trả lời vua Milinda rằng:

- Tâu Đại Vương, đức tin có hai tướng (lakkhaṇa) là:

*-Trong sạch hóa đối tượng (sampasādana).

*- Tư cách tiến tới (sampakkhaṃdāna) [17] .

a-Trong sạch hóa đối tượng (sampasādana).

Khi có niềm tin với đối tượng nào, saddhā sẽ làm đối tượng ấy trở nên trong sạch đối với tâm.

Như những tín đồ Phật giáo có tâm trong sạch với Tam Bảo, những tín đồ ngoại giáo có tâm trong sạch với những vị giáo chủ của mình hay tin tưởng vào giáo thuyết ấy...

Sách Atthasālinī có nêu ra ví dụ: Ví như viên bảo ngọc của vua Chuyển Luân Vương [18] có đặc tính làm trong sạch nước vẩn đục.

Khi vua Chuyển Luân cùng đoàn quân băng qua dòng suối làm bẩn đục nước, Đức vua lại cần dùng nước, Ngài bỏ viên bảo ngọc vào nước, nước trở nên trong sạch.

Cũng vậy, đức tin làm tâm không (hay chưa) trong sạch với đối tượng sẽ trở nên trong sạch với đối tượng.

Thực tế cho thấy rằng: "Khi có niềm tin với người nào rồi, tâm luôn có sự trong sạch với đối tượng ấy". Đối tượng ấy có thật sự trong sạch hay không lại là vấn đề khác.

Như người nông dân tình cờ nhặt viên sỏi óng ánh, anh "tin rằng" đó là vật báu, anh sẽ trân trọng viên sỏi ấy vô cùng (còn đó có phải là "vật báu" hay không, lại là việc khác).

b- Tư cách tiến tới.

Sách Milindapañhā (vua Milinda hỏi) có nêu ra ví dụ: Ví như có dòng nước xoáy sâu, một số người đứng bên bờ này đang e ngại không dám lội qua.

Có người khỏe mạnh, can đảm lội xuống qua bờ an toàn, thấy thế đoàn người cùng nhau lội qua dòng nước.

Đoàn người lội theo sau ví như "sự tiến tới của đức tin", đồng thời hàm ý "có sự tư tin", vì rằng: Cho dù thấy người khác vượt sông an toàn, nếu không "tự tin" rằng: Mình chế ngự được nguy hiểm, thì cũng không dám vượt qua.

Có một số người trong thế gian, khi thấy khó khăn nguy hiểm thì thoái chí, ngả lòng, một số hành giả khi thực tập thiền tịnh, gặp phải những chướng ngại (nīvaraṇa) cũng nản chí bỏ cuộc.

Đó là do "thiếu tự tin", hay không có sức mạnh của đức tin (saddhābala – tín lực).

Đức Phật có dạy:

 "Katamo ca, bhikkhave, puggalo āsaṃso?

Này các tỳkhưu, thế nào là người hy vọng?

Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti kalyāṇadhammo.

Này các tỳkhưu! Ở đây, một tỳkhưu giữ giới, tính tình hiền thiện.

So suṇāti āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭhevā dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.

Vị ấy nghe: "Tỳkhưu có tên như vậy, đã đoạn tận các lậu hoặc trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm, trí tuệ giải thoát".

Tassa evaṃ hoti-‘kudassū nāmā ahampi āsavānaṃ khāya anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭhevā dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti!

 Người ấy suy nghĩ như sau: "Đến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát"..

Ayaṃ vuccati, bhikkhave, puggalo nirāso.

Người như vậy được gọi là người có hy vọng [19] .

Lại nữa, Đức Phật có trả lời câu hỏi của Dạ xoa Ālavaka như sau:

Dạ xoa Ālavaka:

"Kathaṃ su tarati oghaṃ, kathaṃ su tarati aṇṇavaṃ;

Kathaṃ su dukkhamacceti, kathaṃ su parisujjhati".

Thế nào vượt bộc lưu? Thế nào vượt biển lớn?

Thế nào vượt qua khổ (acceti)? Thế nào thật thanh tịnh?

Đức Thế Tôn:

"Saddhā tarati oghaṃ, appamādena anṇṇavaṃ;

Vīriyena dukkhamacceti, paññāya parisujjhati".

Với tín, vượt bộc lưu; không phóng dật, vượt biển!

Tinh tấn vượt đau khổ; với tuệ thật thanh tịnh. [20]

Hai đoạn kinh trên nêu rõ "tư cách tiến tới" của đức tin, nhất là kệ ngôn "với tín vượt bộc lưu".

Một cách giải tự khác của saddhā là : Saṃ + căn dhā; căn dhā là "nắm giữ, bám lấy". Như vậy, "tín là bám lấy điều tốt", "gìn giữ điều tốt".

5- HỎI: Có mấy loại niềm tin?

ĐÁP: Khi phân theo người, tổng quát có hai là : Thánh tín và phàm tín.

Khi phân theo đối tượng (cảnh), nói gọn cũng có hai là.

- Niềm tin đúng, gọi là chánh tín (sammāsaddhā).

- Niềm tin sai, gọi là tà tín (micchāsaddhā).

Thánh tín. Là đức tin của bậc Thánh, niềm tin này bất động không bị thay đổi bất kỳ do ai, cho dù đó là chư thiên, Phạm thiên, Samôn hay Bàlamôn nào tác động đến.

Như Ngài Suppabuddha (Thiện giác), do tiền nghiệp nhổ nước bọt vào người vị Phật Độc giác, nên kiếp này mang bịnh cùi.

Khi nghe Đức Thế Tôn thuyết về pháp vô thường, Ngài chứng quả Dự lưu.

 Ma vương muốn thử xem Ngài Suppabuddha còn nằm trong quyền lực của y hay không, Ma vương hóa thân thành Đức Thế Tôn đi đến nhà của Suppabuddha, nói rằng:

"Này Suppabuddha, các pháp hữu vi có khi vô thường có khi thường.

Nhưng Ngài Suppabuddha hiểu rằng "đây là ác ma giả dạng". [21]

Phàm tín. Là đức tin của phàm nhân, đức tin này chưa vững chắc, còn lay động do chưa chứng đạt Nípbàn, nên có thể bị thay đổi.

Thánh tín chỉ có một loại là: Chánh tín, vì thấy rõ các pháp hữu vi có ba tướng vô thường, khổ, vô ngã như lời dạy của Đấng Đạo Sư.

Phàm tín có hai loại: Chánh tín và tà tín.

Chánh tín của phàm nhân do nghe và thấy được tam tướng của pháp hữu vi (ám chỉ hành vipassanā (thiền quán), nhưng chưa chứng ngộ Nípbàn, phàm nhân khi đạt được hành xả tuệ (saṅkhārupekkhāñāṇa) xem như thành tựu chánh tín cao nhất trong thời thường nhựt.

Nếu tính theo thời sátna (khaṇakāla) thì ở sátna thuận thứ (anuloma) của lộ đắc Sơ đạo, là đỉnh cao nhất chánh tín của phàm nhân. Vì sau hai sátna kế tiếp sátna Thuận thứ (sátna Gotrabhū - Chuyển tánh- và sátna Đạo (magga)), vị ấy trở thành bậc Thánh.

a- Chánh tín của phàm nhân thường tình.

Đó là niềm tin đặt vào thiện pháp, hoặc đặt vào đối tượng hoàn toàn trong sạch. Các Sớ giải sư có giải: Chánh tín theo cách này có bốn chi phần là:

1.        Tin nghiệp (kammassaddhā).

2.        Tin quả của nghiệp (vipākasaddhā).

3.        Tin vào nghiệp báo (kammassasakatā saddhā).

4.        Tin vào tuệ giác của Đức Phật (tathāgatabodhisaddhā) [22] .

a’-Thế nào là tin nghiệp?

Kamma ban đầu chỉ có ý nghĩa là "việc làm, hành động", về sau kamma mang ý nghĩa là "các pháp vận chuyển hay pháp hành".

Ngoài ra kamma là tên gọi khác của pháp hành (saṅkhāradhamma), như Vô minh duyên hành, chi pháp của hành là tâm sở Tư (cetanācetasika) và hành ở đây chỉ cho nghiệp (kamma).

Tin vào nghiệp (kamma) là tin vào sự vận chuyển của pháp. Chúng sanh xuất hiện trong thế gian này cũng do sự vận chuyển của pháp, không do Đấng Tạo hóa sinh ra cũng không phải ngẫu nhiên có, sự hiện khởi của chúng sanh trong thế gian chính là do nghiệp tạo thành". Như Đức Phật dạy:

"Kammassakā māṇava, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammappaṭisaraṇā.

"Này thanh niên [23] , các hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa.

Kammaṃ satte vibhajati yadidaṃ hīnappaṇītatāyāti".

Nghiệp phân chia các loại hữu tình, nghĩa là có liệt, có ưu." [24]

Như vậy: Tin vào nghiệp là:

- Tin rằng: Do pháp hành vận chuyển nên tạo tác ra mọi vật, không do Thượng đế tạo, cũng không phải ngẫu nhiên có.

- Tin rằng: Sự vận chuyển của pháp luôn thay đổi, nên chúng có trạng thái vô thường, biến hoại, sinh diệt liên tục.

- Tin rằng: Chúng sinh sai biệt, có tốt có xấu... là do nghiệp tạo thành.

Như một phàm nhân, nhờ tinh cần tu tập, chứng đắc Thánh quả, trở thành bậc Thánh. Kết quả này là do có "việc làm (kamma)" theo đường lối tốt đẹp (là thực hành đúng pháp).

Chúng sinh rơi vào khổ cảnh do sự vận chuyển của pháp ác xấu, chúng sinh sinh vào nhàn cảnh là do "sự vận chuyển của pháp tốt"... chẳng phải do Thượng đế ban thưởng cũng không do Thượng đế hình phạt. Chính chúng sinh ấy tự lựa chọn rồi thực hành.

Đức Phật có dạy cho du sĩ Vacchagotta rằng:

"Iti kho so Vaccha ekanavuto kappo yam-ahaṃ anussarāmi, nābhijānāmi kañci ājīvakaṃ saggūpagaṃ aññatra ekena, so p’āsi kammavādī kiriyavādī ti.

"Này Vaccha, dầu cho Ta nhớ đến 91 kiếp, Ta không biết một tà mạng ngoại đạo nào đã sinh thiên, trừ một vị, và vị này thuyết về nghiệp và thuyết về tác dụng của nghiệp" [25] .

Và "Attā hi attano nātho: Nơi nương của ta chính là ta"[26]

b’- Thế nào là tin quả của nghiệp?.

Nghiệp (kammaṃ) là hành động.

Là tin rằng: "Khi pháp hành chuyển động sẽ tạo ra một kết quả, như nước lay động tạo ra sóng nước, hai vật chạm nhau phát sinh âm thanh như dùi trống và trống, hoặc phát sinh lửa như đá chạm mạnh vào đá...".

"Sóng nước, âm thanh, lửa..." là kết quả của mỗi "hành động" trên.

Ở lãnh vực tinh thần thì "hành động của ý" sẽ tạo ra tâm quả (ngoại trừ tâm duy tác hữu nhân của vị Thánh Alahán). Như Phật ngôn:

"Manopubbaṅgamā dhammā; manoseṭṭhā manomayā.."

"Ý dẫn đầu các pháp; ý làm chủ, ý tạo..." [27]

Dễ hiểu hơn, tin nghiệp và tin quả của nghiệp là "tin vào nhân quả".

c’- Thế nào là tin vào nghiệp báo?

Là tin rằng: "Một khi tạo nghiệp bất thiện chính ta sẽ nhận kết quả đau khổ, khi tạo nghiệp thiện chính ta nhận được hạnh phúc từ việc lành ấy".

Ai tạo nghiệp? Chính ta tạo nghiệp; chính xác hơn là tâm sở Tư (cetanācetasika).

Ai hưởng quả? Cũng chính ta hưởng quả; chính xác hơn là tâm sở thọ (vedanācetasika).

Hạnh phúc hay đau khổ chính ta tạo ra và chính ta là người nhận lãnh hạnh phúc hay đau khổ ấy; hạnh phúc hay đau khổ không do Thượng Đế hay đấng Tạo hóa nào ban tặng hoặc trừng phạt.

Bao giờ còn thân năm uẩn, bấy giờ những gì ta tạo ra từ quá khứ hay trong hiện tại, ta sẽ nhận lại kết quả từ chúng. Đó là "nghiệp báo".

Nói cách khác, "nhân quả bao trùm nghiệp báo". Khi tạo nhân sẽ cho kết quả, ta không nhận lại kết quả ấy, thì đó chỉ là nhân quả; còn khi nhận lại kết quả thì đó là nhân quả lẫn nghiệp báo.

Như Đức Phật thuyết pháp (là nhân), người nghe chứng quả Thánh (là quả), đây chỉ là nhân quả.

Người tạo ác nghiệp về thân sẽ nhận ác quả nơi khổ cảnh. Đó là nhân quả lẫn nghiệp báo.

Có câu hỏi rằng: "Phàm nhân có khi nào chỉ có nhân quả mà không có nghiệp báo chăng?".

- Vẫn có, như trường hợp người đao phủ giết tội nhân suốt 55 năm [28] , với nghiệp quả này y phải nhận đau khổ trong cảnh giới địa ngục.

Nhưng vào lúc cuối đời được nghe Pháp từ Ngài XálợiPhất (Sāriputta), y chứng quả Dự Lưu, sau đó người đao phủ này tiển đưa Đức Xálợiphất ra về, trên đường trở về nhà Ngài bị bò húc chết, sinh về cõi trời, thế là khổ cảnh trong địa ngục không có cho Ngài. Đây là trường hợp có nhân quả nhưng không có nghiệp báo.

Lại nữa, có câu hỏi: "Vị Thánh Alahán có còn nghiệp báo chăng?".

Đáp rằng: Bao giờ còn thân năm uẩn bấy giờ còn nghiệp báo.

Như Đức Phật bị nhức đầu do quá khứ hoan hỷ với việc làm ác của thân quyến khi họ thuốc cá trong hồ. Đức Mụckiềnliên (Moggallaana) bị đánh tan xác để rồi sau đó Ngài viên tịch, do ác nghiệp trong tiền kiếp đánh cha mẹ ...

Sau khi viên tịch, vị Thánh Alahán không còn tái sinh, xem như diệt trừ mọi nghiệp báo.

d’-Thế nào là tin vào tuệ giác của Đức Phật?

Là tin rằng: "Đức Phật là bậc hoàn toàn trong sạch, có trí tuệ thông suốt tất cả pháp".

Chánh tín hàm ý là "niềm tin có trí tuệ ", "niềm tin có sự suy xét" và "niềm tin được kiểm chứng".

Nếu như niềm tin không có trí, chỉ là niềm tin suông, hoặc niềm tin có trí nhưng không kiểm chứng thì cũng chưa gọi là chánh tín hoàn thiện, tuy loại niềm này tốt hơn so với niềm tin không có trí.

Vì rằng: Trí có ba loại là trí văn, trí tư và trí tu.

Chính trí tu (trí được kiểm chứng) làm hoàn thiện chánh tín.

Du sĩ Pilotika tán thán Đức Phật qua ví dụ hình ảnh bốn dấu chân voi là:

- Giai cấp Bàlamôn có trí tán thán Đức Phật.

- Giai cấp Sátđếlỵ có trí tán thán Đức Phật.

- Giai cấp gia chủ có trí tán thán Đức Phật.

- Giai cấp Samôn (bậc xuất gia) có trí tán thán Đức Phật.

Từ những điều này du sĩ Pilotika đặt niềm tin vào Đức Thế Tôn, vì nhận thấy các bậc có trí thuộc bốn giai cấp trên đều tán thán Đức Phật.

Tuy không bác bỏ, nhưng Đức Thế Tôn không tán thán loại niềm tin này, vì loại niềm tin này có khi đúng có khi sai.

Ở đây, vì du sĩ Pilotika đặt niềm tin vào Đức Phật, Đức Phật là đối tượng hoàn toàn trong sạch, nên không có gì bàn cải.

Nhưng nếu đối tượng không phải là Đức Phật thì sao? Như trước khi Đức Phật xuất hiện bốn giai cấp này cũng tán thán các giáo chủ ngoại giáo như Makkhali Gosala, Puraṇa Kassapa, Nigantha Natāputta ... nếu du sĩ Pilotika thấy đại chúng tôn sùng những vị Giáo chủ ấy, y cũng tôn sùng theo thì đúng hay sai? Câu trả lời hẳn phải là: "Đó là tà tín".

Và trong bản kinh Đức Thế Tôn chỉnh đốn lại "niềm tin" cho Bàlamôn Jānussoṇi.

Đức Thế Tôn dạy đại ý như sau: "Như người săn voi thiện xảo, tuy thấy được dấu chân voi to lớn, thấy được những vật cao bị ngà voi cắt đứt, nhưng chưa vội kết luận là con voi to lớn, cho đến khi nào thực sự trông thấy con voi".

Đức Thế Tôn nêu ra bốn vết cắt của con voi lớn là:

- Vị nghe pháp của Đức Thế Tôn, chứng đạt tứ thiền, đây là vết chém thứ nhất của con voi, nhưng chưa thấy được con voi lớn. Vị ấy chưa vội kết luận "con voi này là con voi lớn".

- Vị chứng đạt Túc mạng trí, là vết chém thứ hai của con voi, nhưng chưa thấy được con voi lớn. Vị ấy chưa vội kết luận "con voi này là con voi lớn".

- Vị chứng đạt được Sinh tử trí, thấy được sự sống chết chúng sinh tùy theo nghiệp là vết chém thứ ba của con voi, nhưng chưa thấy được con voi lớn.Vị ấy chưa vội kết luận "con voi này là con voi lớn".

- Vị chứng được Tứ Thánh đế, thành tựu Alahán quả là vết chém thứ tư và thấy được con voi lớn [29] .

Vì sao? Vì "ba vết chém" đầu, các Samôn, Bàlamôn ngoài Phật giáo vẫn có thể có được, và thành tựu "ba vết chém" này vẫn chưa giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, vẫn còn bị trói buộc. Voi còn bị trói buộc, chưa phá được gông xiềng thì chưa phải là con voi lớn.

Chỉ có "vết chém" thứ tư, thoát khỏi sinh tử luân hồi, không còn bị trói buộc. Đấy mới thật sự là con voi lớn. Và điều này chỉ có trong Phật giáo.

Bài kinh trên cho chúng ta thấy "niềm tin cần phải có trí chứng nghiệm mới xác tín được, khi có xác tín bấy giờ mới thật là "chánh tin hoàn hảo". Chánh tín có thấp có cao là như thế.

Chánh tín của bậc Thánh thì bất động, còn chánh tín của phàm nhân có thể bị thay đổi.

b- Tà tín.

Tà tín là niềm tin sai lệch, có hai loại tà tín là: cuồng tín và mê tín (muddhappa).

Cuồng tín: Là "tin cực đoan" vào điều sai lầm hay nhân vật ác xấu (mà theo người tà tín "đó là lý thuyết tốt đẹp", hay là "nhân vật tối thượng". Như những môn đệ của các giáo chủ ngoại giáo Makkhali Gosala, hay như Kokālika tin tưởng Devadatta (Đềbàđạtđa) ...

Cuồng tín là một dạng tà kiến cực đoan.

Mê tín là tin sai lầm, có ba loại mê tín.

1’- Tin vào điều hoàn toàn vô căn cứ. Như tin có tự ngã, có đấng Sáng tạo, tin Thần táo, tin đốt giấy tiền vàng mả giúp người thân ở âm phủ ...

Hay tin vào phương thức thực hành khổ hạnh sái quấy như "hạnh con bò, hạnh con chó" [30] , nhờ đó được giải thoát.

Đây cũng là loại tà kiến, gọi là giới cấm thủ [31] (sīlabbataparāmāsa).

Tin vào điều vô căn cứ này dựa vào truyền kh