BuddhaSasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Những Hạt Sương
Thích Chơn Thiện - Sà i Gòn, 2000


[0X]

Nét Chính Của Tư Tưởng NguyỠn Du Qua Truyện Kim Vân Kiều
và ảnh hưởng Của Tư Tưởng Phật Giáo Qua Thi Phẩm Nà y.

-ooOoo-

Về mặt lịch sử, thi hà o NguyỠn Du không vĩ đại như thiên tà i NguyỠn Trãi, nhưng về mặt thi ca và tư tưởng, NguyỠn Du là nhà thơ và nhà tư tưởng lớn của Việt Nam.

Truyện Kim Vân Kiều dù là thi phẩm phỏng tác của Thanh Tâm Tà i Nhân (Trung Hoa), đã bộc lộ những nét tư tưởng nhân bản và thâm trầm của NguyỠn Du, thi phẩm đã nói lên thực trạng phân hóa, suy yếu của Việt Nam và o thế kỷ 18, vừa tỏa ra những thao thức về thân phận con người nói chung, và thân phận con người Việt Nam nói riêng, của một thiên tà i thi ca và tư tưởng.

Các nhà văn học đánh giá khác nhau về các giá trị của truyện Kiều. Có ý kiến cho rằng NguyỠn Du chủ trương thuyết "thiên mệnh" của Nho giáo, hay thuyết "hồng nhan bạc mệnh" hoặc "tà i mệnh tương đố". Có ý kiến cho rằng NguyỠn Du giới thiệu thuyết nhân quả và nghiệp báo của nhà Phật. Có ý kiến bảo NguyỠn Du nói về khía cạnh bi kịch của một người đà n bà tà i sắc trong xã hội phong kiến.

Các ý kiến trên đều phản ánh được một mặt nà o đó các triết lý của truyện Kiều.

Chúng tôi thiết tưởng cần ôn lại cuộc đời NguyỠn Du và xã hội Việt Nam thế kỷ 18 trước khi đi và o việc nhận ra tư tưởng đặc biệt của thi hà o.

NguyỠn Du đã đọc kinh Kim Cương của Ðại thừa Phật giáo đến cả nghìn lượt. "Ngã độc Kim cương thiên biến linh", theo các tà i liệu văn học hiện hà nh, sau năm 2026,- sống đi sâu và o các tầng lớp nhân dân, thể nghiệm sâu sắc thân phận con người. Do vậy, nguồn cảm xúc của nhà thơ có chiều hướng đi và o phổ quát của thân phận con người mà không dừng lại ở thân phận của Kiều, của bản thân, hay của người Việt Nam ở thế kỷ 18. Tư tưởng NguyỠn Du bay vút lên cao và thoát ra khỏi cái khung trời không gian và thời gian hạn hẹp của xã hội đương thời. Tiếng thơ NguyỠn Du vì vậy thiết tha tình người, thiết thực và nhân bản! Hơn thế, tiếng thơ còn bay xa và o vùng trời tâm lý, trí tuệ cao vời nữa.

Về "Hồng Nhan Bạc Mệnh":

Hồng nhan bạc mệnh là một sự thật ở đời, qua các thời đại, do các lý do nội tại và ngoại tại, khách quan và chủ quan dựng nên, như là :

-Xã hội phong kiến là xã hội thiếu dân chủ, nếu không nói là không có dân chủ, luật pháp thì thiếu công minh, không hợp lý, hợp tình, đề ra các bất công áp bức, theo đó nhan sắc và tà i ba dỠbị nhận chìm.

-Các nhà Nho với giáo dục xem nhẹ giá trị của người phụ nữ, kỳ thị phái tính.

-Giai cấp thống trị chuyên quyền, thao túng xã hội.

-Ðạo đức luân lý của phong kiến thì tù hãm, ước lệ. Xã hội phong kiến Việt Nam dưới thế kỷ 18 thì đầy dẫy các nạn tham nhũng, buôn bán người, tứ đổ tường.

-Nhan sắc và tà i ba vốn dá» biến thà nh đối tượng để con người ganh ghét, đố kî.

Bên cạnh các lý do khách quan và ngoại tại ấy, dục vọng, ái ân và những mong ước cao xa của các nhan sắc, tà i ba là lý do nội tại tạo nên những cơn sóng gió cuộc đời nhận chìm chính tự thân họ.

Tất cả những lý do bên trong và bên ngoà i ấy đã viết thà nh bi kịch của con người, đặc biệt là của người đẹp tà i hoa. Tất cả những lý do ấy là những cung nhạc đã phổ thà nh khúc đoạn trường 15 năm của Kiều.

Thâm nhập giáo lý duyên sinh và Kim Cương của Phật giáo, NguyỠn Du hẳn là thấy rõ rà ng các lý do ấy, và xúc động viết thà nh bản trường thi lỗi lạc "Ðoạn trường tân thanh".

Hãy điểm lại các vần thi đoạn trường bất hủ của nhà thơ:

-"Phận hồng han có mong manh,
Nửa chừng xuân thoát, gãy cà nh thiên hương" (câu 65-66)

-"Lạ gì bỉ, sắc, tư, phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" (5-6)

-"Rằng hồng nhan tự nghìn xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu" (107-108)

-"Ðau đớn thay phận đà n bà ,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung" (83-84)

-"Chữ tà i chữ mệnh khéo là ghét nhau" (câu 2)

-"Anh hao phát tiếng ra ngoà i,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tà i hoa" (415-416)

-"Sư rằng: phúc họa đạo trời,
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng có ta,
Tu là cội phúc, tình là giây oan" (2655-2026)

-"Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
Vô duyên là phận hồng nhan đã đà nh.
Lại thêm lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình và o trong" (2659-2662)

-"Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm" (2681-2026)

-"Ðã mang lấy nghiệp và o thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tà i" (3249-2026)

Tất cả các vần thơ vừa được trích dẫn nói lên rõ rà ng NguyỠn Du đã nhìn những biểu hiện nội tâm và ngoại tại của Kiều dưới cái nhìn qui luật rất là "nhân quả và nghiệp báo" ấy, nghiệp lực con người bao gồm nghiệp cũ và nghiệp mới, biểu hiện qua các mặt của cuộc sống:

- Nhân quả ngoại giới.
- Nhân quả nội tâm.
- Nhân quả vừa nội tâm vừa ngoại giới.

-Và quan trọng nhất của giáo lý nhân quả nà y, là yếu tố tâm lý quyết định tạo ra nghiệp nhân và thọ nhận nghiệp quả của chính Kiều. Chính tâm lý của Kiều đón nhận các hậu quả của nghiệp nhưng tâm lý đó vẫn có thể độc lập với ảnh hưởng của các hậu quả kia, và cả đến có thể chuyển đổi các hậu quả của nghiệp ngay trong hiện thế, điều mà NguyỠn Du bảo:

"Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tà i" (3251-2026)

hay:

"Sư rằng: phúc họa đạo trời
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc tình là dây oan" (2655-2026)

Trời, đó là quy luật nhân quả khách quan, Ta, đó là trí tuệ, ý chí và tâm lý hiện tại của con người. Nếu tâm lý ấy tự tại, giải thoát khỏi các trói buộc, thì đoạn trường dù có cũng như không, hay đoạn trường có thể đoạn dứt.

Tư tưởng triết học và đạo lý ấy xác định rõ trách nhiệm cá nhân của con người đối với chính mình mà không phải là sức mạnh khác giữ vai trò quyết định hạnh phúc hay khổ đau của đời mình.

Hồng nhan bạc mệnh chỉ là hiện tượng của nhân quả giới. Nội tâm của Kiều mới là yếu tố quyết định phổ hay không phổ khúc đoạn trường. Ðây là triết lý con người rất người, chỉ có con người có thể là m chủ lấy cuộc đời mình.

Về Triết Lý Tình Yêu:

Từ thế kỷ 18 nhà thơ NguyỠn Du đã có quan niệm rất đặc biệt về hôn nhân và tình yêu.

Kiều là hình ảnh đại biểu cho tiếng nói tình yêu và tình người; Thúy Vân, em ruột của Kiều, thì đại biểu cho tiếng nói của hôn nhân và gia đình.

Những bước đi tình cảm của Kiều là những bước đi của tình yêu: của lòng trung trinh, của ray rứt nhớ nhung, của những rung động mãnh liệt của con tim.

Lần đầu đến với tình yêu, Kim Trọng, Thúy Kiều đã bước qua hà ng rà o ước lệ của luân lý phong kiến, cái ước lệ "nam nữ thọ thọ bất thân" chật hẹp và thiếu chất người !

Thế là , Kiều đã nói lên tình yêu là lẽ sống, nó có giá trị vượt lên trên các giá trị ước lệ. Người ta chỉ có thể bước qua các giá trị ước lệ hạn hẹp, mà không thể bước qua lẽ sống thực của con người.

Với NguyỠn Du, tình yêu có lý lẽ riêng của nó, có những bước đi riêng của nó, có chổ đặt chân trên vùng đất khu biệt của nó mà nếu bước qua (hay bước ra ngoà i) thì tình yêu sẽ hóa kiếp, như Kiều đã ngăn Kim Trọng trước dáng vẽ có chiều suồng sã của chà ng.

NguyỠn Du xem tình yêu là phần tinh anh của tâm hồn, còn thể xác chỉ là chiếc bóng của nó, như ý thơ nà y:

-"Như nà ng lấy hiếu là m trinh
Bụi nà o cho đục được mình ấy vay" (3119-2026)

-"Chữ trinh còn một chút nà y
Chẳng cầm cho vững lại dà y cho tan" (3161-3162)

Nhưng yêu là con người yêu, yêu con người, và yêu cả con người (tinh thần và thể chất). Vì thế, NguyỠn Du đã để Thúy Vân thay Thúy Kiều sống chung hợp, săn sóc Kim Trọng. Tình yêu còn có nghĩa là hy sinh, Kiều vì thế mà bán mình chuộc cha, cứu em, Vương Quan, và đã lạy cầu Thúy Vân thay mình chung sống với Kim Trọng.

NguyỠn Du cho thấy tình yêu thì khác với dục vọng, khác với ham muốn thể chất:

"Cũng nhơ nhuốc lại bà y trò
Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi.
Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau" (3155-2026)

Yêu là cùng nhìn về một hướng, chổ gặp gỡ của hai tâm hồn:

"Hai tình vẹn vẻ hòa hà i
Chằng trong chăn gối, cũng ngoà i cầm thi.
Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên" (3221-2026)

Thúy Kiều và Thúy Vân thực sự là hai hình ảnh kết thà nh một con người mà NguyỠn Du đã khéo vẽ:

"Ba sinh đã phỉ mười nguyền
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn nà y" (3125-2026)

Tình yêu đã được thi ca NguyỠn Du vẽ ra tình người chân thật. Khi tình người đó hướng về mẹ cha, nó là hiếu, khi hướng về người bạn đường trăm năm, nó là tình yêu; khi hướng về anh em, nó là dỠ; khi hướng về bà con, láng giềng, đồng bà o, nó là nghĩa là nhân; khi hướng về xứ sở, nó là trung.

Quan niệm đó của NguyỠn Du đã vượt ra khỏi quan niệm chật hẹp cứng đờ của hiếu, trung, tình, nghĩa của Nho giáo, giúp con người thoát khỏi nhiều bi kịch do mâu thuẩn giữa hiếu và trung, giữa tình và hiếu, giữa tình và trungẨ gây ra.

Ðây là triết lý đầy tình người, rất là nhân bản của NguyỠn Du, con người rất Việt Nam vậy.

Về Triết Lý Giải Phóng Phụ Nữ:

Với quan niệm của các nhà Nho xưa, phụ nữ bị đóng khung trong "tam tòng" (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử: ở nhà thì theo cha, đi lấy chống thì theo chồng, chồng chết thì theo con) và "tứ đức" (công, dung, ngôn, hạnh).

NguyỠn Du đã phá đổ chiếc khung cũ kỷ ấy, giới thiệu nà ng Kiều, người đẹp giỏi cầm, kỳ, thi, họa và kiêm thạo cả tửu, giới thiệu Hoạn Thư khôn nước hơn Thúc Sinh:

-"Anh hoa phát tiếng ra ngoà i,
Tà i tình chi lắm cho trời đất ghen"

-"Thấp cơ thua trí đà n bà ,
Trông và o đau ruột, nói ra ngại lời" (1947-2026)

-"Người đâu sâu sắc bước đời,
Mà chà ng Thúc phải ra người bó tay".(2007-2008)

Nhà thơ lỗi lạc ấy đã muốn giải phóng phụ nữ, giới thiệu phụ nữ đi và o nhiều lãnh vực của xã hội.

Và tháo gỡ cái quan niệm chật hẹp, phi lý về chữ trinh cũ:

-"Xưa nay trong đạo đà n bà ,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường" (3115-2026)

-"Như nà ng lấy hiếu là m trinh,
Bụi nà o cho đực được mình ấy vay" (3119-3120)

Cái nhìn đầy nhân ái và trí tuệ ấy của NguyỠn Du là cái nhìn giá trị mới đầy tính người, giải phóng con người ra khỏi vùng giá trị cũ kỷ của Nho học.

Về Tòa Án Nhân Dân Ðầu Tiên Của Việt Nam:

Sự xuất hiện của nhân vật anh hùng Từ Hải như là sự xuất hiện của một tòa án nhân dân xử các tội phạm phong kiến và các tội phạm do chế độ phong kiến bệ rạc đẻ ra. Trong phiên tòa xử Tú bà , Mã Giám Sinh và Hoạn Thư, Kiều vốn là nạn nhân trở thà nh quan tòa. Tiếng nói của quan tòa nà y hẳn là chính xác, công minh. Ðây là tiếng nói đích thực của nhân dân vừa công bình, vừa nhân ái.

Với Hoạn Thư, Kiều phán:

-"Tha ra thì cũng may đời
Là m ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Ðã lòng tri quá thì nên,
Truyền quân lệnh xuống trướng liền tha ngay" (2374-2026)

Với Tú Bà và Mã Giám Sinh, nà ng truyền:

-"Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao ?
Mệnh quân truyền xuống khai đao
Thế sao thì lại cứ sao gia hình" (2385-2026)

Với hai phiên tòa nhân dân ấy, NguyỠn Du, một thiên tà i thi ca và tư tưởng, đã nói lên khát vọng thống thiết về một xã hội nhân bản, hợp lý dựng xây trên công bằng, nhân ái, trên nền tảng giá trị con người vì an lạc và hạnh phúc cao cả của con người - mỗi người và mọi người.

Về Triết Lý Hà nh Ðộng:

NguyỠn Du, với trí tuệ và kinh nghiệm sống, đã đưa ra một triết lý sống, hà nh động rất người và rất giá trị. Trong ý nghĩa tương đối của thế giới hiện tượng, con người và hạnh phúc của con người là giá trị cao quí và là giá trị chuẩn. Các giá trị khác xoay quanh giá trị chuẩn ấy. Trong trường hợp phải lựa chọn, thì con người và hạnh phúc con người không phà i là giá trị phải hy sinh.

Con người phải sống, và sống với giá trị là m người của nó. NguyỠn Du đã để Kiều phấn đấu với 15 năm đoạn trường, duy chỉ một lần quyết định trầm mình, nhưng đó chỉ là sự sắp đặt của nhà thơ với thái độ tương nhượng với giá trị cũ, rữa sạch bụi quá khứ: NguyỠn Du đã để vải Giác Duyên chờ sẳn để cứu nà ng. Kiều sống có nghĩa là các giá trị ước lệ cũ phải ra đi. Triết lý ở đây là con người sống để xây dựng các giá trị, chứ không phải vì các (giá trị) ước lệ giá trị mà hy sinh con người. NguyỠn Du viết:

-"Oâng rằng bỉ thử nhất thì
Tu hà nh thì cũng có khi tùng quyền" (3051-2026)

-"Xưa nay trong đạo đà n bÃ
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.
Có khi biến có khi thường
Có quyền nà o phải một đường chấp kinh" (3115-2026)

Khi con người nắm vững trục giá trị, như Kiều giữ tấm lòng trinh, lòng hiếu, thì tùy duyên mà hà nh xử.

Triết lý hà nh động đó gọi là "tùy duyên nhi bất biến" hay "dĩ bất biến ứng vạn biến".

Với triết lý hà nh động nà y, các quan niệm cố chấp, bảo thủ về giá trị đều trở nên xa lạ; bảo thủ, cố chấp, bấy giờ chỉ là :

"Rằng hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nà o" (489-490)

Ngà y nay ai sẽ là những người chia sẽ với quan niệm giá trị sống hà nh động của NguyỠn Du ? Ai sẽ là người cảm thông với nổi niềm ấy ("nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nà o") của NguyỠn Du, như là chính NguyỠn Du đã dự liệu (hay đúng hơn, là nghi ngờ) ?

"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như"

Về Những ảm hưởng Của Phật Giáo Trong Thi Ca Truyện Kiều:

Ngoà i việc chịu ảnh hưởng thuyết nhân quả và nghiệp báo nhà Phật, NguyỠn Du còn viết ra những vần thơ đầy âm hưởng Phật giáo. Ngôn ngữ thi ca vốn đã là rất biểu tượng, ngôn ngữ thi ca NguyỠn Du còn biểu hiện trừu tượng hơn. NguyỠn Du ngoà i rung cảm thi ca, còn có rung cảm trí tuệ Phật giáo. Nhà thơ núi Hồng Lĩnh đã nói đạo Phật bằng tiếng nói của trái tim trần thế. Vần thi gợi lên ý ấy trong cảm nhận của người viết trước tiên là :

"Ai ngờ lại hợp một nhÃ
Lựa là chăng gối mới ra sắc cầm" (3177-2026)

Mười lăm năm đoạn trường là một bà i học về "khổ đế" mà nguyên nhân của nó, vừa hợp với giáo lý Tứ đế vừa hợp với tinh thần giới luật nhà Phật, là lòng khát ái, dục ái:

"Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều
Mắc điều tình ái, khỏi diều tà dâm" (2681-2026)

hay: "Tu là cội phúc, tình là dây oan".

-Với Phật giáo (tiêu biểu như các câu 1 và 2 trong kinh Pháp Cú) thì tâm là m chủ, tâm tạo tác các nghiệp thiện và ác và sẽ nhận lấy quả báo tương ứng về sau. Với Kiều, tâm cũng quyết định vui buồn và giá trị của đời sống:

-"Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".

-"Chữ trinh còn một chút nà y
Chẳng cầm cho vững, lại dà y cho tan" (3161-2026)

hay "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tà i".

-Với Phật giáo, người Phật tử mộ đạo, mến đạo, quyết tâm sống đạo mà nếu không hiểu đạo, không có chánh kiến thì cà ng là m cô phụ giáo lý giải thoát mà thôi.

Aâm hưởng giáo lý đó lại vọng và o trong vần thơ tái hợp mà không tác hợp của Kiều:

"Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau"

Ngay cả giáo lý Phật giáo minh bạch thế mà nếu hà nh giả chấp thủ nó (chấp giới, chấp định, chấp tuệ, như kinh Xà Dụ trình bà y) thì sẽ rơi ngay và o cảnh:

"Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau"

- Phật giáo, tiêu biểu như phẩm kinh Hạt Muối, Tương Ưng bộ kinh, bảo rằng người với tâm từ bi rộng lớn thì hầu như không chịu hậu quả của các việc là m nhỏ bị sai trái. Với Kiều thì NguyỠn Du xác định:

"Như nà ng lấy hiếu là m trinh
Bụi nà o cho đục được mình ấy vay" (3119-2026)

- Kinh Kim Cương Bát Nhã, một kinh nổi tiếng của Ðại Thừa, thì nhìn mọi hiện hữu đều do duyên sinh, chúng là không có tự ngã, thực sự ở ngoà i các giá trị cấu, tịnh, thiện, ác, thị, phiẨ.. chúng không thật sự gây trở ngại đến vấn đề tự do, giải thoát của con người. Trở ngại giải thoát là nằm ở tâm con người, ở lòng tham ái, chấp trước của con người. Tư tưởng nà y như là có chuyển âm hưởng của nó và o vần thi:

"Duyên kia có phụ chi mình
Mà toan chia gánh chung tình là m đôi" (3989-3990)

- Với người Phật tử, khi tâm tham ái, chấp trước được khóa chặt, được kiểm soát, thì các hà nh động thân, khẩu, ý trở thà nh các hà nh động giải thoát hết thảy. Với Kiều, sau những ngà y tháng đoạn trường thì:

"Từ ngà y khép cửa phòng the
Chẳng tu thì cũng như tu mới là " (3107-2026)

- Người tu tập đạo Phật, đặc biệt là các bậc Thánh hữu học, dù tâm đã tỏ tường đạo lý, tỏ tường sự thật của mọi hiện hữu, nhưng tập quán sinh tử vẫn còn vương vấn thân sắc, có khi còn vương vấn cõi lòng. NguyỠn Du lại diỠn đạt một tâm trạng của Kiều sao mà nghe như động đến tâm hồn của một thiền sư vậy, khi nhà thơ viết:

"Tiếc thay chút nghĩa cũ cà ng
Dù lìa ngó ý, còn vương tơ lòng" (2241-2026)

- Nhưng khi mà thiền sư đã hất đổ hết các vọng tưởng, đốt cháy hết sầu, bi thì quả là giờ phút đại phúc, nghe như vừa dựng đứng dậy cả khung trời giải thoát, bởi vì bấy giờ thiền sư đã phá tan hết sương vô minh đã nhiều đời che khuất ngõ ý và là m tan hết mây dục vọng đã nhiều đời giăng bít trời tâm. NguyỠn Du đã chuyển qua Kiều một cảm xúc của thời kỳ hội ngộ như là cảm xúc của một thiền sư đang đối diện với giải thoát:

"Trời còn dỠcó hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời" (3121-2026)

Thơ của NguyỠn Du nghe ra vừa thơ vừa đạo suốt cả tâm sự Thúy Kiều. Nếu bạn tìm hiểu kỹ giáo lý nhà Phật rồi đọc lại thi phẩm tuyệt tác Kim Vân Kiều bạn sẽ bắt gặp rất nhiều, nhiều lắm, các vần thơ lồng ý đạo. Thi ca của thiên tà i NguyỠn Du nhu hình thà nh một lúc hai bè nhạc: một bè của khúc đoạn trường, bè kia là âm vang của trí tuệ giải thoát./.

-ooOoo-

Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10


[Trở về trang Thư Mục]