KARAṆĪYA METTĀ SUTTAṂ - TỪ BI KINH 1) Karaṇīya matthakusalena Yantaṃ santaṃ padaṃ abhisamecca Sakko ujū ca suhujū ca Suvaco c'assa mudu anatimāni. 2) Santussako ca subharo ca Appakicco ca sallahukavutti Santindriyo ca nippako ca Appagabbho kulesu ananugiddho. 3) Na ca khuddaṃ samācare kīñci Yena viññū pare upavadeyyuṃ Sukhino vā khemino hontu Sabbe sattā bhavantu sukhitattā. 4) Ye keci pāṇaphū tatthi Tasā vā thāvarā vā anavasesā Dīghā vā ye mahantā vā Majjhimā rassakānukathưlā 5) Diṭṭhā vā yeva addiṭṭhā Ye ca dưre vasanti avidū re Bhū tā vā sambhavesi vā Sabbe sattā bhavantu sukhitattā. 6) Na paro paraṃ nikubbetha Nātimāññetha katthacinaṃ kiñci Byārosanā patighasaññā Nāñña maññassa dukkha miccheyya. 7) Mātā yathā niyaṃ puttaṃ Āyusā ekaputtatamanurakkhe Evampi sabbaphū tesu Mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ . 8) Mettañca sabba lokasmiṃ Mānasaṃ bhāvaye aparimānaṃ Uddhaṃ ādho ca tiriyañca Asambādham averam asapattaṃ . 9) Tiṭṭhaṃ caram nisinno vā Sayāno vā yāvat'assa vigatamiddho Etaṃ satiṃ addhiṭṭheyya Brahmametaṃ vihāraṃ idha māhu. 10) Diṭṭhiñca anupagamma sīlavā Dassanena sampanno Kămesu vineyya gedhaṃ Nahijātu gabbhaseyyaṃ puna reti'ti.
Phiên dịch ra Việt ngữ: 1 - Người khôn lanh hằng tìm lợi ích cho mình và muốn đạt tới chỗ yên lặng (là Niết Bàn). Là người chánh trực, hoàn toàn chánh trực, nhu thuận, hiền lương và khiêm tốn. 2 - Biết kiên tâm, thủ phận thanh bần, ít phận sự, thu thúc lục căn, thận trọng, không liều lĩnh, không mê luyến gia đình. 3 - Không làm điều quấy nhỏ nhen nào mà các bậc trí tuệ hằng phê bình chỉ trích. Hằng mong muốn cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc an vui và đầy đủ tinh thần tráng kiện. 4 - Hằng mong muốn cho tất cả chúng sinh, không dư sót, bất luận yếu mạnh, dài vắn, trung bình, béo gầy, nhỏ lớn. 5 - Hữu hình hoặc vô hình, ở xa hoặc ở gần, đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra, đều có một tinh thần hoan lạc. 6 - Chẳng hề lừa dối kẻ khác, chẳng khinh miệt người nào, bất cứ nơi đâu. Trong cơn phẫn nộ hoặc buồn phiền, chẳng hề toan tính hại kẻ khác. 7 - Luôn luôn có lòng bác ái rộng lớn bao la đối với tất cả chúng sinh, chẳng khác nào một bà mẹ bảo tồn đứa con duy nhất dám hy sinh thân mạng vì con. 8 - Hằng rải tư tưởng lành vô biên cùng khắp thế giới, bên trên, bên dưới, khoảng giữa, không chướng ngại, không thù oán không ác cảm. 9 - Trong khi tỉnh thức, lúc đi đứng nằm ngồi, hằng chuyên trì niệm niệm. Phương ngôn cho đó là một hạnh kiểm cao cả thế gian. 10 - Không tà kiến, có giới đức, đắc tuệ nhãn, đoạn tuyệt tình dục. Theo Chân Lý, người như thế không còn thọ sanh vào bào thai nữa. TỪ BI KINH (Phỏng dịch xuôi vần theo bài giảng của Ðại đức Narada.) 1. Người khôn có đủ đức tài, Hằng tìm lợi ích tương lai cho mình. Dọn lòng an tịnh thanh bình Tiến vào Cực lạc Vô sinh Niết Bàn Giữ lòng chánh trực đoan trang, Nhu hòa lương thiện chẳng màng khoe khoang, 2. Thanh bần thủ phận an nhàn, Không ham thế sự tịnh an cõi lòng. Lục căn chế ngự nghiêm phòng, Không cho liều lĩnh luyến mong dục trần. 3. Không làm nhơ bẩn tinh thần, Tránh lời chê trách thánh nhân phê bình, Mong cầu tất cả chúng sinh, Dồi dào hạnh phúc hòa bình sinh nhai. 4. Cầu cho ba giới bốn loài, Chúng sanh yếu mạnh, vắn dài bình trung. Béo gầy nhỏ lớn không cùng, Hữu hình, vô tướng muôn trùng gần xa. 5. Chưa sanh hoặc đã sanh ra Thảy đều cộng hưởng hà sa phước lành. 6. Nguyện không lừa gạt, dối manh, Khinh người, miệt chúng, hư danh trang hiền. Dầu cho thân thuộc, xóm giềng, Người dưng kẻ lạ các miền xa xăm. Trong cơn phẫn nộ giận thầm, Cũng không lo nghĩ mưu thâm hại người. 7. Như lòng từ mẫu thanh tươi, Trăm cay ngàn đắng vui cười vì con. Dầu cho một mất một còn, Bảo tồn con trẻ vuông tròn ăn chơi. Tình thương ghi tạc đời đời, Từ bi rộng lớn bầu trời thênh thang. Học đòi từ mẫu gương vàng, Mở lòng thương xót bủa tràn gần xa. Chúng sanh trong cõi Sa bà, Thoát vòng khổ não, vượt ra luân hồi. 8. Hằng ngày rải khắp các nơi, Bốn phương tám hướng gầm trời bao la. Tấm lòng bác ái vị tha, Gội nhuần tư tưởng đậm đà tình thương. Lòng từ trong sạch như gương, Không pha ác cảm không vương tư thù. 9. Cố tâm niệm niệm công phu, Khi đi, khi đứng, chuyên tu tham thiền. Nằm ngồi mặc niệm thường xuyên, Sưu tầm đạo quả, gieo duyên Niết Bàn Ðó là phương pháp thế gian, Ðó là hạnh kiểm đưa đàng Vô sanh. Thánh nhân ca tụng tán thành, Xuôi dòng thánh vức, lữ hành Nhập lưu (Tu Ðà Hườn). 10. Vượt lên đến mức thắng ưu, Khai thông tuệ nhãn, tầm sưu đỉnh đầu. A Hàm đạo tuệ gươm mầu, Ðoạn tuyệt tà kiến, xả câu dục tình. Bất lai cảnh giới hữu hình, Phạm thiên tạm ngự, nghiêm minh Niết Bàn.
KHANDHAPARITTA GĀTHĀ Virū pakkhehi me mettaṃ mettaṃ erāpathehi me chabyāputtehi me mettaṃ mettaṃ kanhāgotamakehi ca apādakehi me mettaṃ mettaṃ dipādakehi me catuppadehi me mettaṃ mettaṃ bahuppadehi me māmaṃ apādako hiṃsi māmaṃ hiṃsi dipādako māmaṃ catuppado hiṃsi māmaṃ hiṃsi bahuppado. Sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhū tā ca kevalā sabbe bhadrāni passantu mā kiñci pāpamāgamā.
Appamāṇo Buddho appamāṇo Dhammo appamāṇo Saṅgho pamāṇa vantāni siriṃsapāni ahivicchikā satabadī uṇṇānābhī sarabū mū sikā katā me rakkhā katā me parittā paṭikkamantu phū tāni. So haṃ namo Bhagavato namo sattannaṃ Sammāambuddhānam'ti. ANANTARIYA GĀTHA Sīrasmiṃ me Buddhaseṭṭho Sāriputto ca dakkhiṇe Vāma aṃ se Moggallāno Purato piṭakattayaṃ . Pacchime mama Aanando Catuddisā khīnāsavā Samantā lokapālā ca Indadeva sabrahmakā Etesaṃ anubhāvena Sabbe bhayā upaddavā Aneka antarāyāpi Vinassantu asesato .DASADISĀBUDDHASUTTA (KINH THẬP PHƯƠNG PHẬT) 1. Padumuttaro ca purabbāyaṃ 2. Āganeyye ca Revato 3. Dakkhine Kassapo Buddho 4. Haratiye ca Sumaṅgalo 5. Pacchime Buddha Sikhī ca 6. Bāyabbe ca Medhaṅkaro 7. Uttare Sakyamunī ceva 8. Isāne Saranaṅkaro 9. Kakusandho paṭhaviyaṃ 10. Ākāse ca Dīpaṅkaro 11. Ete dasadisābuddhā Rājadhammassa pū jitā 12. Natthi rogabhayaṃ khemaṃ Asokaṃ sampattidāyakaṃ Dukkharogabhayaṃ natthi Sabbā sattū viddhaṃ sentu
KINH THẬP PHƯƠNG PHẬT 1. Con xin đảnh lễ đức Phật Thượng-Liên- Hoa ở hướng đông 2. Con xin đảnh lễ đức Phật Li-Bà-Ða ở hướng đông nam 3. Con đảnh lễ đức Phật Ca-Diếp ở hướng nam 4. Con xin đảnh lễ đức Phật Phước-Toàn-Ða ở hướng tây nam 5. Con xin đảnh lễ đức Phật Tỳ-Khí ở hướng tây 6. Con xin đảnh lễ đức Phật Mỹ-Thắng-Ca ở hướng tây bắc 7. Con xin đảnh lễ đức Phật Thích-Ca-Mâu- Ni ở hướng bắc 8. Con xin đảnh lễ đức Phật Bảo-Trì-Ca ở hướng đông bắc 9. Con xin đảnh lễ đức Phật Câu-Lưu-Tôn ở hướng dưới 10. Con xin đảnh lễ đức Phật Nhiên-Ðăng ở hướng trên 11. Ấy mười phương Chư Phật Cúng dường bậc Pháp Vương 12. An ổn, không bệnh tai Không sầu, hưởng bổng lộc Chẳng khổ, bệnh, sợ hãi, Mọi cừu địch ắt giải.
MAHA JĀYAMANGALA GĀTHĀ 1. Mahākāruṇiko nātho Hitāya sabba pāṇinaṃ Pū retvā pāramī sabbā Patto sambodhi muttamaṃ Etena sacca vajjena Hotu me jayamaṅgalaṃ . 2. Jayanto bodhiyā mū le Sakyānaṃ nandivaddhano Evaṃ mayhaṃ jayohotu Jayassu jayamaṅgalaṃ 3.Sakkatvā buddha ratanaṃ Osadhaṃ uttamaṃ varaṃ Hitaṃ deva manussānaṃ Buddha tejena sotthinā Nassantu' paddavā sabbe- Dukkhāvū pasamentu me. 4. Sakkatvā dhamma ratanaṃ - Osadhaṃ uttamaṃ varaṃ Parilāhū pasamanaṃ - Dhamma tejena sotthinā Nassantu' paddavā sabbe- Bhayāvū pasamentu me. 5. Sakkatvā saṅgha ratanaṃ - Osadhaṃ uttanaṃ varaṃ Āhuṇeyyaṃ pāhuneyyaṃ - Sangha tejena sotthinā Nassantu' paddavā sabbe- Rogāvū pasamentu me. 6. Yaṃ kiñci ratanaṃ loke- Vijjati vividhā puthū Ratanaṃ buddha samaṃ natthi- Tasmā sotthī bhavantu me. 7. Yaṃ kiñci ratanaṃ loke- Vijjati vividhā puthū Ratanaṃ dhamma samaṃ natthi- Tasmā sothī bhavantu me. 8. Yaṃ kiñci ratanaṃ loke- Vijjati vividhā puthū Ratanaṃ saṅgha samaṃ natthi- Tasmā sotthī bhavantu me. 9. Natthime saraṇaṃ aññaṃ - Buddho me saranaṃ varaṃ Etena saccavajjena- Hotu me jayamaṅgalaṃ . 10. Natthi me saranaṃ aññaṃ - Dhammo saranaṃ varaṃ Etena saccavajjena- Hotu me jāyamangalaṃ . 11. Natthi me saranaṃ aññaṃ - Saṅgho saranaṃ varaṃ Etena saccavajjena- Hotu me jayamaṅgalaṃ 12. Sabbītiyo vivajjantu- Sabbarogo vinassatu Mā me bhavatvantarāyo- Sukhī dīghāyuko bhava. 13. Bhavatu sabbamangalaṃ - Rakkhantu sabbadevatā Sabbabuddhānubhāvena- Sadā sotthī bhavantu me. 14. Bhavatu sabbamangalaṃ - Rakkhantu sabbadevatā Sabbadhammānubhāvena- Sadā sotthī bhavantu me. 15. Bhavatu sabbamangalaṃ - Rakkhantu sabbadevatā Sabba sanghānubhāvena- Sadā sotthī bhavantu me. 16. Nakkhatta yakkha phū tānaṃ Pāpaggaha nivāranā Parittassānubhāvena Hantu mayhaṃ upaddave. 17. Devo vassatu kālena- Sassa sampatti hotu ca Phīto bhavatu loko ca- Rājā bhavatu dhammiko. 18. Sabbe buddhā balappattā Paccekānañca yaṃ balaṃ Arahantānañca tejena Rakkhaṃ bandhāmi sabbaso.
NARASĪHA - GĀTHĀ 1. Cakka varaṅkita rattasupādo Lakkaṇamaṇdita āyatapaṇhi Cāmarachatta viphū sitapādo Esa hi tuyha pitā narasīho. 2. Sakyakumāravaro sukhumālo Lakkhaṇavitthata puṇṇasarīro Lokahitāya gato naravīro Esa hi tuyha pitā narasīho. 3. Puṇṇasasaṅkanibho mukhavaṇṇo Devanarāna piyo naranāgo Mattagajinda vilāsitagāmi Esa hi tuyha pitā narasīho. 4. Khattiyasambhava aggakulīno Devamanussa namassitapādo Sīlasamādhi patiṭṭhitacitto Esa hi tuyha pitā narasīho. 5. Aayatatuṅga susaṇthita nāso Gopamukho abhinīla sunetto Indadhanū abhinīla bhamưkho Esa hi tuyha pitā narasīho. 6. Vaṭṭa sumaṭṭa susanthitagīvo Sīhahanū migarājasarīro Kāñcana succhavi uttama vaṇṇo Esa hi tuyha pitā narasīho. 7. Suniddha sugambhira mañjusu- ghoso Hiṅgulabandhu surata sujivho Vīsati - vīsati - seta sudanto Esa hi tuyha pitā narasīho. 8. Añjanavaṇṇa - sunīla - sukeso Kañcanapaṭṭa - visuddhalalāto Osadhi paṇḍara suddhasuṇṇo Esa hi tuyha pitā narasīho. 9. Gacchati nīlapatheviya cando Tāragaṇā parivethitarū po Sāvakamajjhagato samanindo Esa hi tuyha pitā narasīho.
Nghĩa: ANH HÙNG KỆ Tức kệ Hùng sư nhân (Narasīha gāthā) do công nương Da-du-đà-la chỉ dạy Thái tử La-hầu-la về đức tướng (Lakkhana sutta) của Ðức Thế Tôn, khi Ngài đang bộ hành qua các nẻo đường trong thành Ca tì la vệ, với đoàn Thánh chúng. 1. Ðầu bàn chân son quí nổi dấu in bánh xe thiêng, Tha thướt gót dài thon trổ lắm văn chỉ diệu huyền, Lòng bàn chân tô sẵn chổi phất tử với lọng tiên, Ðó chính phụ hoàng con, Sư tử vương của Thánh hiền! 2. Dòng Sakya kiêu dũng, tánh quân tử ưa tịnh yên, Phong thái đại trượng phu, tướng tốt thân thảy hiện tiền, Thường ra tay anh tuấn, cứu thế chúng đủ thiện duyên. Ðó chính phụ hoàng con, Sư tử vương của Thánh hiền! 3. Tròn đầy gương trăng sáng, nhan sắc xinh rõ đẹp tươi, Ai nấy cũng đều yêu chúa tượng chung giữa trời người, Ngài dường voi giống quí, dáng đứng đi khéo tự nhiên, Ðó chính phụ hoàng con, sư tử vương của Thánh hiền! 4. Ngài dòng sang, tông quí, cấp "Khatti" [*] của hoàng gia. Nên khiến cả nhân thiên lễ dưới chân chẳng nệ hà, Ngài thường xuyên tỉnh giác, tuệ tâm đủ giới, thiền na, Sư tử đại hùng nhân đó, phụ vương của trẻ mà! [*] Khatti: Bắc Phạn là Ksatri(Xá tri), Tàu âm là Sát đế lỵ tức chiến sĩ. Sakya: Tàu âm là Thích Ca. 5. Dài và cao, thẳng đứng, mũi khác chi mũi Hằng nga, Mắt biếc tợ bò tơ, khuất dưới nheo mượt nõn nà, Mày Ngài xanh xanh thẫm, thể cái mống tận trời xa, Sư tử đại hùng nhân đó, phụ vương của trẻ mà! 6. Tròn đều, trơn, mịn mát, cổ khoáng đạt, và hào hoa, Thân với quai hàm vua, chúa sơn lâm khó sánh qua, Vàng ròng tuy chất tốt, nước sang kém thua màu da, Sư tử đại hùng nhân đó, phụ vương của trẻ mà! 7. Dịu trầm sâu, êm ấm, tiếng thuyết ngân giống đồng chung, Khi hé mở làn môi, lộ lưỡi son đượm ánh hồng, Hàng đôi răng ngọc trắng, bốn chục cái đủ trọn nguyên, Ðó chính phụ hoàng con, sư tử vương của thánh hiền! 8. Toàn màu xanh như thuốc nhỏ mắt đau, tóc đậm đen! Như bát mĩ vàng tây đánh bóng trơn trán phẳng liền! Bạch hào [*] như sao sớm, rực rỡ chói lúc tàn đêm. Ðó chính phụ hoàng con, sư tử vương của thánh hiền! [*] Chòm lông trắng giữa hai chân mày của Ðức Phật. 9. Dường vầng trăng đi trước, soi mở lối giữa trời đêm, Ðông đủ các vì sao nối gót theo bóng ngọc thiềm [*] Kìa Sa môn Giáo chủ dẫn Tăng chúng bước nhẹ êm Ðó chính phụ hoàng con, sư tử vương của thánh hiền! [*] Con cóc ngọc, ám chỉ mặt trăng. (Tỳ khưu Pháp Minh dịch)
BUDDHAPĀDANĀMAKKĀRAGĀTHĀDVADASAPARITTA, trích ở kinh tụng Paritta 12 bộ của Miên văn. Vandāmi Buddhaṃ bhavapāratiṇṇaṃ Tiloka ketuṃ tibhaveka nāthaṃ Yo lokaseṭṭho sakalaṃ kilesaṃ Chetvāna bodhesi jānaṃ anantaṃ Yaṃ Nammadāya nadiyā puline ca tīre, Yaṃ Saccabandhagirike sumanā ca lagge, Yaṃ tattha Yonakapure munino ca pādaṃ Taṃ pādalañchanamāhaṃ sirasā- namāmi: Suvaṇṇamālike; Suvaṇṇapabbate; Sumanakū ṭe; Yonakapure; Nammadāya nadiyā Pañca pādavaraṃ ṭhānaṃ, ahaṃ vandāmi dū rato.
Nghĩa: KỆ LỄ PHẬT - TÍCH 1. Thành tâm con đảnh lễ Ðức Phật Tổ Gotama, 2. Cái-thế đại hùng anh, biển khổ đau, đã băng qua. 3. Còn nêu trong tam giới, chỗ quy-ngưỡng của quần sanh, 4. Phiền não đoạn trừ xong, giác ngộ tâm đến Vô - sanh. 5. Thành tâm con đảnh lễ những Thánh- tích Sakya, 6. Lưu dấu tại trần gian đủ năm noi Phật trải qua: Một là trên bãi cát kế mé sông Nammāda; Hai, ở tận đầu non Suvaṇṇa - mālika; Ba là trên đảnh núi Suvaṇṇa Pabbata; Bốn là trên thượng đảnh núi Sumana- konta; Năm, ở trong thành đô hiệu Yonakapurī.
7. Thành tâm con đảnh lễ năm dấu chân Ðức Mâu - ni; 8. Châu báu khắp trần gian xét kỹ ra thật khôn bì. (Tỳ khưu PHÁP MINH dịch)
KHAGGAVISĀṆA SUTTA - TÊ GIÁC KINH 1. Bỏ đao trượng xa lìa vũ khí Không còn gây khổ lụy quần sanh Không con không bạn đồng hành Thà như tê giác một mình ra đi... 2. Sống chung chạ ít gì luyến ái? Xưa ái tình, nay lại sầu tình, Thấy rồi tội khổ tình si, Thà như tê giác một mình ra đi... 3. Gần bạn hữu, từ bi phát khởi Vì thương ai bỏ lợi chính mình Thấy điều giao hợp mà kinh Thà như tê giác một mình ra đi... 4. Vợ con khỏi bao vây bịn rịn Như cây to tàn nhánh rợp xanh Măng lên suông đuột chẳng cành Thà như tê giác một mình ra đi... 5. Nay rừng nọ không chi buộc trói Muốn ăn đâu lui tới thích tình Thanh nhàn thay, bậc cao minh Thà như tê giác một mình ra đi... 6. Ðược mời thỉnh, khi thì giữa bạn Lúc vân du, lúc hoãn hành trình Tự thân nào thấy an bình Thà như tê giác một mình ra đi... 7. Nỗi khoái lạc đòi khi họp bạn Tình yêu con phương quảng dễ kinh Ái ly là khổ cực hình Thà như tê giác một mình ra đi... 8. Biết tri túc, rày đây mai đó Bốn phuơng xa, nào có bất bình Ðối đầu hiểm họa chẳng kinh Thà như tê giác một mình ra đi... 9. Khó cầm cọng xuất ly một bậc Thí chủ ơi, lui bước gia đình Nhân luân người đã trọn tình Thà như tê giác một mình ra đi... 10. Lá đã rụng mong gì mọc nữa? Tắt lịm rồi hương lửa ba sinh Hùng hào đoạn thế gian tình Thà như tê giác một mình ra đi... 11. Nếu gặp bạn trí tri cao kiến Hãy đẹp lòng chí nguyện cộng sinh Vượt bao hiểm họa đành hanh Thà như tê giác một mình ra đi... 12. Chẳng gặp bạn trí tri cao kiến Ðể đẹp lòng chí nguyện cộng sinh Vua từ ngôi, bỏ đế kinh Thà như tê giác một mình ra đi... 13. May gặp bậc trí tri xứng đáng Hơn hay bằng, kết bạn đồng hành Bằng không cứ sống trọn lành Thà như tê giác một mình ra đi... 14. Ðã thấy xuyến vàng y rực rỡ Khua động theo nhịp cổ tay xinh Dễ gì hai chiếc lặng thinh Thà như tê giác một mình ra đi... 15. Có đôi bạn càng gây vướng bận Tiếng lại qua tranh luận bất bình Thấy gương trước mắt mà kinh Thà như tê giác một mình ra đi... 16. Tánh hảo ngọt, thích mùi dục lạc Tâm động vì vô sắc, hữu hình Ngủ trần tội khổ chẳng khinh Thà như tê giác một mình ra đi... 17. Như ung nhọt, cơ nguy, bịnh tật Ðòn xóc chờ ta, thật dễ kinh Ngũ trần hiểm họa đành rành Thà như tê giác một mình ra đi... 18. Nóng, lạnh, đói, khát gì chẳng quản Rắn, muỗi, mòng, mưa, nắng thình līnh Vượt qua trên khắp lộ trình Thà như tê giác một mình ra đi... 19. Như voi chúa, xả ly đoàn tượng Ẩn rừng sâu vui sướng thỏa tình Thân vàng, sen báu lịch xinh Thà như tê giác một mình ra đi... 20. Không thuận cảnh vui gì hợp mãi? Cứ theo lời của Thái Dương huynh Thoát ly tạm lánh gia đình Thà như tê giác một mình ra đi... 21. Tuồng ảo hóa có chi đâu lạ? Lý đạt rồi Ðạo quả phát sinh Việc vô minh đã liễu minh Thà như tê giác một mình ra đi... 22. Chẳng tham quấy dối khi thèm khát Không dèm pha, sạch cát bùn sình Nào mong thế nghiệp kinh dinh Thà như tê giác một mình ra đi... 23. Tự thân quyết xa lìa bạn ác Lý không thông khó đắc tâm bình Dễ duôi, ai dại kết tình Thà như tê giác một mình ra đi... 24. Bậc quảng kiến hành trì pháp chánh Thông lý huyền dứt mạnh nghi tình Nếu không được kết bạn lành Thà như tê giác một mình ra đi... 25. Thú trần tục vui chi lợi dưỡng Thôi mơ màng sắc tướng âm thinh Ngữ ngôn thu thúc, chân thành Thà như tê giác một mình ra đi... 26. Kìa phụ mẫu, thê nhi thúc phọc Nọ của tiền, lúa thóc vây quanh Dục trần, giả biệt phân minh Thà như tê giác một mình ra đi... 27. Bả dục lạc ham chi bám níu? Càng ham vui, càng chịu khổ hình Lý chân, nhận thức đành rành Thà như tê giác một mình ra đi... 28. Mười kiết sử trùng vi bị xé Lưới rách tung, cá lẹ thoát sinh Xa nơi rừng lửa dục tình Thà như tê giác một mình ra đi... 29. Mắt ngó xuống tư duy từng bước Giữ lục căn, khử trược lưu thanh Lửa tình, tham ái không sanh Thà như tê giác một mình ra đi... 30. Bỏ gia thế xuất ly hành đạo Ðắp cà sa, đầu cạo tóc xanh Lá vàng nay đã lìa cành Thà như tê giác một mình ra đi... 31. Khỏi nuôi ai, vô vi, vô dục, Ðối vị trần, tri túc trì bình Tâm không luyến khách gia đình, Thà như tê giác một mình ra đi... 32. Năm pháp cái với tùy phiền não Ðã dứt rồi, tâm đáo đại hành Diệt luôn sân hận ái tình Thà như tê giác một mình ra đi... 33. Quay lưng lại bỏ vui và khổ Tiền hỉ ưu, đắc độ xả bình "Chỉ" rồi tâm hảo tịnh thanh Thà như tê giác một mình ra đi... 34. Tinh cần đạt tế vi Chân đế Giải thoát tâm, cùng giới tuệ minh Hùng tài, đại lực viên thành Thà như tê giác một mình ra đi... 35. Chốn cô tịch, kiên trì thiền định Tâm thường xuyên đeo dính Pháp minh Luân hồi quán thấy cảm kinh Thà như tê giác một mình ra đi... 36. Chuyên cần nguyện xả ly Ái dục Mặc nhiên thường nghe học, nhớ rành Rán hành đắc pháp Vô sanh, Thà như tê giác một mình ra đi... 37. Hùng sư há sợ chi tiếng động? Gió lòn qua lỗ trống lưới mành, Ao bùn sen vẫn lịch thanh Thà như tê giác một mình ra đi... 38. Nhờ nanh vuốt cực kỳ dũng mãnh Hùng sư làm chúa cảnh rừng xanh Thảnh thơi vui thú độc hành Thà như tê giác một mình ra đi... 39. Từ, Xả, Hỉ và Bi giải thoát Niệm thường thường đồng loạt liên minh Tâm bình, thế giới hòa bình Thà như tê giác một mình ra đi... 40. Tham với Sân và Si dứt tuyệt Kiết sử tan vĩnh biệt Vô minh Ðiềm nhiên chẳng sợ Tử sinh Thà như tê giác một mình ra đi... 41. Sum họp khó quyết nghi Chơn giả Lìa bạn bè, lợi ngã phân minh Xả ly thế tục, phàm tình Thà như tê giác một mình ra đi... (Tỳ khưu PHÁP MINH dịch)
DASA KĀMAGUṆA - TỘI NGŨ TRẦN 1. Ngũ trần như khúc xương không, Mà con chó đói cố công gậm lỳ. 2. Ngũ trần như thịt tử thi, Qua tranh nhau mổ kể gì thúi tha. 3. Ngũ trần như đuốc rơm phà, Cầm đi ngược gió ắt là phỏng tay. 4. Ngũ trần hầm lữa đỏ gay, Sa chân xuống đó hằng ngày khổ đau. 5. Ngũ trần tợ giấc chiêm bao, Thấy rồi liền mất dễ nào bền dai. 6. Ngũ trần như vật mượn xài, Xài xong phải trả giữ hoài được sao? 7. Ngũ trần như trái chín cao, Nại cây gãy nhánh vỡ đao thợ rừng. 8. Ngũ trần lao kiếm sáng trưng, Phạm nhầm ắt khổ mựa đừng dễ duôi. 9. Ngũ trần dao thớt đủ đôi, Người mê đắm bị bầm nhồi nát tan. 10. Ngũ trần đầu rắn hổ mang, Có hai túi nọc lại càng dễ kinh. Ai tu nấy liệu giữ mình, Mười điều tội khổ đinh ninh chớ sờn. (Tỳ khưu PHÁP MINH dịch.)
KỆ CỦA ÐẠI ÐỨC SARIPUTTA Ðây là bài kệ của Ðại Ðức Sariputta (Xá-Lợi-Phất) đọc lên cổ xúy chúng ta, bất cứ lúc nào, hoặc trong hoàn cảnh nào, cũng nên đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Tam Bảo. "Hãy trương cao ngọn cờ Chân lý! Hãy hoằng dương Chánh Pháp cao minh Những lúc bàn tay kinh khủng Lạnh lùng siết chặt tim ta, Ðừng tưởng nhớ đến Chư thiên, Thần thánh, Vì như ta, họ cũng run sợ hãi hùng.
"Giữa rừng già hiu quạnh, trong bóng tối trậptrùng, Khi ngọn đèn hy vọng lao chao muốn tắt; Ðừng tưởng nhớ đến Chư thiên, Thần thánh; Vì như ta, ánh sáng họ cũng tàn.
"Trong giờ phút lâm ly hấp hối, Lời nghẹn giữa đôi môi, lệ trào như suối. Ðừng tưởng đến Chư thiên, Thần thánh, Vì như ta, họ cũng nhỏ lệ biệt ly.
"Hãy ngước mắt lên: Nhìn ngọn cờ Tam Bảo! Tưởng nhớ đến Ðức Thế Tôn, bậc chiến thắng oai hùng, Ðến Chánh Pháp, ánh sáng huy hoàng vĩnh cửu, Ðến Tăng Già,tập đoàn giới tịnh đức cao. Hỡi đạo hữu! Là chiến sĩ giữa quân thù "phiền não", Mắt đừng lìa ngọn Tam Bảo uy kỳ, Tâm đừng xa ân đức Phật - Pháp - Tăng, Hãy dũng tiến trên con đường "Giải Thoát".
MORAPARITTA Udetayañcakkhumā (Apetayañcak-khumā) ekarājā harissavaṇṇo paṭhavippabhāso taṃ taṃ namassāmi harissavaṇṇaṃ paṭhavippabhāsaṃ Tayajja guttā viharemu divasaṃ (rattiṃ) ye brahmaṇā vedagu sabbadhamme te me namo te camaṃ palāyantu namatthu Buddhānaṃ namatthu bodhiyā namo vimuttānaṃ namo vimuttiyā imaṃ so parittaṃ katvā moro carati esanā. (vāsamakappayīti)
Nghĩa: KHỔNG TƯỚC KINH Mặt trời ánh sáng như vàng Chiếu trong thế giới khắp tràn bốn châu Tự do soi cả đâu đâu Là tròng con mắt hoàn cầu sanh linh Cho nên tôi mới nghiêng mình Cúi đầu cung kỉnh tỏ trình Ân cao Các Ngài luân chuyển cùng nhau Thay phiên trị nhật vị nào ngày nay Chúng tôi ở dưới quyền nầy Xin nhờ ủng hộ ngày rày an vui Làm cho ác độc phai phui Cho dù oan trái mưu thù cũng hư Thiền tăng đạo sĩ các Sư Tu hành đắc pháp hoặc cư xa gần Từ bi soi đến kẽ cần Biết nay tôi kỉnh tự thân yêu cầu Nương nhờ quyền lực phép mầu Ðặng cho tránh khỏi nạn sầu ngày nay Phạm thiên, Thiên chúng các Ngài Thọ tôi kỉnh lạy hiện nay xin tường Bảo tồn khỏi sự bất lương Trọn ngày cho được tránh đường họa tai Cúi đầu lạy cả Như Lai Các hàng Bồ tát chư Ngài Thánh Tăng Với cùng Pháp Bảo siêu thăng Ngày nay nhớ tụng để ngăn các điều. (Tỳ khưu SANTAKICCO dịch)
PHỤC NGUYỆN Phước lành tôi đã tạo ra Các đời quá khứ hay là đời nay Nghiệp chưa cho quả phước nào Nguyện thành Pháp Ðộ để vào thiện căn Sau nầy dù tạo mấy lần Từ đây cho đến siêu thăng Niết Bàn Hể làm chuyện tốt sẵn sàng Mỗi điều hạnh phúc thành đoàn Nhân Duyên Giúp cho phiền não sớm yên Trợ mau giải thoát kế liền kiếp sau Nếu trể chẳng gặp Phật nào Nhằm kỳ Ðộc Giác làm sao cũng thành.
THẬP NGUYỆN Nguyện cầu Tam - Bảo từ hằng độ, Nguyện thoát ba tai nước, lửa, binh, Nguyện thảy chúng sanh khỏi oan kết, Nguyện cho nhân loại ráng tu hành Nguyện gìn tam học Giới - Ðịnh - Tuệ Nguyện đoạn Tham - Sân - Si độc sanh Nguyện giải căn nhân Sanh Tử khổ Nguyện diệt tâm tham háo lợi danh Nguyện tu tinh tấn không giải đảy Nguyện sao đạo quả sớm viên thành.
BÀI CẦU CHƯ THIÊN Chí thành miệng vái tâm cầu Chư Thiên lớn nhỏ bất câu bậc nào Bốn tầng Sắc Giới rộng cao Xin nghe hiểu biết hiện vào trợ duyên Ðặng tâm sáng kiến phát liền Biết nơi đáng sắp bày tuyên vừa người Dầu ai cản sái luận dư Chuyển lòng tinh tấn ngăn trừ sự lui Chư Thiên Dục Giới hưởng vui Vừa nghe cầu khẩn, tạm ngừng xét qua Từ trời Tha Hóa cao xa Ðến cung Ðạo Lợi bao la năm tầng Giàu lòng bác ái thọ xưng Thảy đều bố cáo chuyển luân sắp bày Vị nào hoan hỷ cầu đây Ra ân trợ giúp chẳng chầy mau xong; Hiện nay tôi rất hết lòng Mong cho Thiên Tướng oai phong Bốn Ngài Thường luôn an lạc vui thay Tránh xa khổ não hằng ngày tiến lên Ðặng ngôi Nguyên Soái vững bền Lòng từ ủng hộ các nền Giáo chân Chẳng nài khó nhọc ra ân Chúng tôi hữu sự có nhân nên cầu Vì e công chuyện trể lâu Làm cho nhiều kẻ hao sầu thân tâm Nhờ Ngài xuống lịnh quyền thâm Chư Thiên lòng tốt quang lâm giúp thành Rất là ân trọng cao thanh Chúng tôi hồi hướng phước lành kính dâng. Chư Thiên lớn nhỏ các tầng Tùy hỷ công đức đồng mừng trợ chuyên. (Tỳ khưu SANTAKICCO dịch)
(DỨT PHẦN CẦU AN) -ooOoo- KINH CẦU SIÊUSAMVEJANĪYA GĀTHĀ - KỆ ÐỘNG TÂM Nagāmadhammo nigamassa dhammo nacāpiyaṃ ekakulassa dhammo sabbassa lokassa sade vakassa eseva dhammo yadidaṃ aniccatā.
Nghĩa: Pháp nào có tên gọi là Vô Thường, là pháp có trạng thái thay đổi không thường, pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một gia tộc đâu, pháp ấy để chung cho nhân loại, súc sanh, luôn đến Chư Thiên, Ma Vương cùng Phạm Thiên cả thảy. Nagāmadhammo nigamassa dhammo nacāpiyaṃ ekakulassa dhammo sabbassa lokassa sadevakassa eseva dhammo yadidaṃ dukkhatā.
Nghĩa: Pháp nào có tên gọi là Khổ Não, là pháp có trạng thái đau đớn buồn rầu, pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một gia tộc đâu, pháp ấy để chung cho nhân loại, súc sanh, luôn đến chư Thiên, Ma Vương cùng Phạm Thiên cả thảy. Nagāmadhammo nigamassa dhammo nacāpiyaṃ ekakulassa dhammo sabbassa lokassa sadevakassa eseva dhammo yadidaṃ anattatā.
Nghĩa: Pháp nào có tên gọi là Vô Ngã, là pháp có trạng thái không phải là của ta, pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một gia tộc đâu, Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh, luôn đến chư Thiên, Ma Vương cùng Phạm Thiên cả thảy. Aciram vatayaṃ kāyo paṭhaviṃ adhisessati chuddho apetaviññano niraṭṭhaṃ va kaliṅgaraṃ (ba lần)Nghĩa: - Thân này chẳng tồn tại bao lâu đâu, khi tâm thức lìa bỏ rồi, thì nằm để trên mặt đất, như đống tro tàn, tìm sự lợi ích chẳng có. Aayu usmā ca viññāṇaṃ yadā kāyaṃ jahantimaṃ apaviṭṭho tadā seti niraṭṭhaṃ va kaliṅgaraṃ (ba lần)Nghĩa: - Tuổi thọ, chất lửa, hoặc tâm thức, khi lìa bỏ thân này trong giờ nào rồi, (thân này không nên hoàn để trong nhà) (người đời) họ đem liệng bỏ nằm (trên mặt đất) trong giờ ấy, như đống tro tàn tìm sự lợi ích chẳng có. Sabbe sattā marissanti maranaṇtaṃ hi jīvitaṃ yathākammaṃ gamissanti puñña-pāpaphalū pagā nirayaṃ pāpakammantā puññakammā ca sugatiṃ tasmā kareyya kalyāṇaṃ nicayaṃ saṃ -parāyikaṃ puññāni paralokasmiṃ patiṭṭhā honti pāṇinaṃ .
Nghĩa: - Tất cả chúng sanh chỉ sẵn dành để chịu chết đều nhau cả, vì sanh mạng (của tất cả chúng sanh) chỉ có sự chết là nơi cuối cùng. Tất cả chúng sanh, đều phải chịu quả phước cùng quả tội, vừa theo cái nghiệp; của mình đã tạo rồi (đi thọ sanh trong kiếp sau, chúng sanh nào làm việc dữ, phải chịu khổ trong cõi địa ngục. Chúng sanh nào, làm việc lành, được thọ vui trong cõi thiên đàng. Cho nên (người đời) cần phải hối hả, làm việc phước đức, mà các bậc trí tuệ hằng thân thiết, cho đặng làm của để dành, dính theo trong đời vị lai (vì) các việc phước đức là nơi nương nhờ của tất cả chúng sanh trong ngày vị lai. PATICCA SAMUPĀDA Avijjā paccayā saṅkhārā sankhārapaccayā viññānaṃ viññānapaccayā nāma-rū paṃ nāmarū papaccayā saḷāyatanaṃ saḷāyatanapaccayā phasso phassapaccayā vedanā vedanāpaccayātanhā tanhāpaccayā upādānaṃ upādānapaccayābhavo bhavapaccayā jāti jātipaccayā jarāmaranaṃ Sokaparidevadukkha domanassupāyāsā sambhavanti. Evame tassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesa virāganirodhā saṅkhāranirodho. Sankhāranirodhā viññānanirodho. Viññānanirodhā nāmarū panirodho. Nāmarū panirodhā saḷāyatananirodho. Saḷāyatananirodhā phassanirodho. Phassanirodhā vedanānirodho. Vedanānirodhā taṅhānirodho. Tanhānirodhā upādānanirodho Upādānanirodhā bhavanirodho. Bhavanirodhā jātinirodho. Jātinirodhā jarāmaranaṃ . Sokaparidevadukkha domanassupă-yāsā nirujjhanti. Evame tassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Nghĩa: Các Pháp Hành phát khởi vì duyên vô minh. Thức phát khởi vì duyên hành, Danh sắc phát khởi vì duyên thức. Lục nhập phát khởi vì duyên danh sắc. Tiếp xúc phát khởi vì duyên lục nhập. Thọ phát khởi vì duyên tiếp xúc. Ái phát khởi vì duyên thọ. Thủ phát khởi vì duyên ái. Hữu phát khởi vì duyên thủ. Sanh phát khởi vì duyên hữu. Lão tử phát khởi vì duyên sanh. Uất ức sanh tử biệt ly khổ, trái ý, bực bội, hằng phát khởi (cũng vì duyên sanh). Tánh cách phát khởi những thống khổ ấy, lý do như thế. Hẳn thật, tánh cách diệt hành, vì diệt tận vô minh do theo thánh đạo. Tánh cách diệt thức vì diệt hành. Tánh cách diệt danh sắc vì diệt thức. Tánh cách vì diệt lục nhập vì diệt danh sắc. Tánh cách diệt tiếp xúc vì diệt lục nhập. Tánh cách diệt thọ vì diệt tiếp xúc. Tánh cách diệt ái vì diệt thọ. Tánh cách diệt thủ vì diệt ái. Tánh cách diệt hữu vì diệt thủ. Tánh cách diệt sanh vì diệt hữu. Lão tử diệt, vì tánh cách diệt sanh. Sự uất ức, sự sanh tử biệt ly khổ, sự trái ý, và sự bực bội trong tâm, cũng đều diệt, vì tánh cách sự diệt sanh. Tánh cách diệt những thống khổ ấy, lý do như thế.
Aniccā vata saṅkhārā uppāda vayadhammino upajjitvā nirujjhanti tesaṃ . Vū pasamo sukho. (ba lần) Nghĩa: - Các Pháp Hữu Vi thật không bền vững, nó có tánh sanh diệt là thường, vì nhơn sanh rồi diệt, diệt rồi sanh (nên thường hay có sự khổ não) chỉ có Niết Bàn là Pháp tịch diệt, dứt cả Pháp Hữu Vi ấy được, mới có sự an vui tuyệt đối. (ba lần) CHÚC NGƯỜI MỚI QUY Y Ngưỡng cầu Ðức Phật ban ơn Ðộ người chánh kiến tầm chơn đạo thiền Ngưỡng cầu Ðức Pháp vô biên Ðộ người hữu chí cần chuyên đạo hành. Ngưỡng cầu hai bậc Tăng lành Ðộ người mộ đạo tâm thành quy y Cầu xin Thiên chúng hộ trì Giúp người giới luật luôn khi giữ tròn Chúc cho bạn mới lòng son Tu hành tinh tấn dạ mong Niết bàn Thiện nam Tín nữ lưỡng ban Xin cùng đồng đạo bạn vàng nhận thâu Phước lành đào tạo bấy lâu Ðồng xin hồi hướng nguyện cầu quả cao Ðạo mầu gắng chí giồi trau Thoát đường tội lỗi trần lao dứt lần Tìm người trí thức xa gần Gặp người đạo đức ân cần hỏi han Ngày đêm tụ tập đoan trang Công phu hành đạo tìm đường siêu sinh Dọn thân khẩu ý trọn lành Kịp thời thoát tục thực hành đạo cao Tìm đường Bát chánh lần vào Siêu phàm nhập Thánh tiêu dao Niết Bàn.
CỜ PHẬT GIÁO Cờ Phật giáo nêu cao thanh bạch Xanh vàng đỏ trắng gạch biểu dương Sau chót còn thêm một đường Năm sắc hiệp lại hiện trương sáu màu Sáu màu ấy bởi đâu mà có Do theo kinh tỏ rõ còn ghi Tiền kiếp Thích Ca Mưu Ni Hồi còn Bồ tát đương khi thực hành Ba la mật tâm thành đại thí Là hào quang rất quý của Ngài Sáu màu kế tiếp sau đây Sắc xanh móc mắt cho rày Bàn môn Sắc vàng ấy kính tôn lóc thịt Cho thợ rèn Ðế Thích hiện ra Mạ vàng vào cốt Phật Ðà Vì lòng thành kính dám mà hy sinh Sắc đỏ ấy vì tình mẫu tử Móc gan ra do tự tay Ngài Thuốc hòa cứu mẹ rất hay Do loài rắn độc trể chầy đặng đâu Lòng hiếu thảo ai hầu dám sánh Ðức Ðại bi hình ảnh còn đây Sắc trắng Bạch tượng cho rày Nên cha hành phạt đày Ngài tha phương Cùng non vợ lên đàng xa lánh Vào con cao tuyết lãnh tu hành Vợ thời hái trái non xanh Còn Ngài bao quản nhọc nhằn khổ thân Sắc gạch giống màu chơn chim Phụng Thịt cho chằng sử dụng đập ăn Vui lòng cứu sống mẫu thân Ðành cam bỏ mạng nghĩa danh trọn gìn Màu dợn sóng hiệp toan sáng rỡ Bởi xưa kia kiếp Thỏ cũng vì Thấy người đói khổ lâm nguy Bố thí xác thịt cũng vì Bàn môn Ðức Ðế Thích lắm cơn khích dụ Ba la mật tròn đủ hầu Ngài Thợ rèn kẻ khó cả hai Do Ngài Ðế Thích đại tài hiện ra Trong Tam giới đều hòa ca tụng Khắp năm châu cung phụng kính thờ Quốc tế nhìn nhận lá cờ Tung hô Phật giáo đến giờ sùng hưng.
HỒI HƯỚNG PHƯỚC ÐẾN CHƯ THIÊN Aakāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā Devānāgā mahiddhikā Puññaṃ no anumodantu Ciraṃ rakkhantu 1. Sāsanaṃ 2. Raṭṭhake 3. Ñātayo 4. Pānino 5. No sadā.
Chư Thiên ngự trên hư không Ðịa cầu thượng ngự rõ thông mọi điều Long vương thần lực có nhiều Ðồng xin hoan hỷ phước đều chúng tôi Hộ trì Phật giáo Tăng bồi Các bậc Thầy tổ an vui lâu dài Quyến thuộc tránh khỏi nạn tai Chúng sanh được hưởng phước dài bền lâu Chúng tôi vui thú đạo mầu Tu hành tinh tấn ngõ hầu siêu sinh. (lạy) NĂM ÐIỀU QUÁN TƯỞNG Thế Tôn lời dạy tỏ tường Năm điều quán tưởng phải thường xét ra Ta đây phải có sự già Thế nào tránh thoát lúc qua canh tàn Ta đây bịnh tật phải mang Thế nào tránh thoát đặng an mạnh lành Ta đây sự chết sẵn dành Thế nào tránh thoát tử sanh đến kỳ Ta đây phải chịu phân ly Nhơn vật quý mến ta đi biệt mà Ta đi với nghiệp của ta Dầu cho tốt xấu tạo ra tự mình Theo ta như bóng theo hình Ta thọ quả báo phân minh kết thành.
KỆ TỤNG KHI NHIỄU PHẬT Ca sa oai đức chi bằng Sắc vàng thanh bạch của hàng Sa Môn Noi gương từ phụ Thế Tôn Hoằng khai giáo pháp tám muôn bốn ngàn Ngày nay Thiện tín các hàng Ca sa đại lễ nghiêm trang cử hành Dâng y với tấm lòng thành Ba vòng nhiễu Phật đồng thanh nguyện cầu Chư Tăng hoan hỷ lãnh thâu Căn lành gieo giống để hầu mai sau Nguyện mau thoát khỏi trần lao Tu hành tinh tấn tiêu dao đạo mầu Chúc cho Phật pháp bền lâu Thấm nhuần trăm họ năm châu thạnh hành Chúc cho cả thảy chúng sanh, Hồi đầu hướng thiện tâm thành quy y Noi theo gương đấng Từ bi, Xuất gia hành đạo mang y ngồi kề Tu tâm dưỡng tánh mọi bề, Tham sân đoạn tuyệt Bồ đề đến nơi.
-ooOoo- Ðầu trang | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | Mục lục |