BuddhaSasanaHome Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Tìm hiểu Ðạo Phật
Maha Thongkham Medivongs


Chương 3

Phật Giáo đối với Giai Cấp của Xã hội

Ðức Thế Tôn sanh nhằm thời kỳ xã hội xứ Ấn Ðộ chia ra là m năm giai cấp khác nhau, và khinh bỉ, hiếp đáp nhau.

Năm giai cấp trong thời kỳ ấy là :

1. Giai cấp vua, chúa. Hạng nà y cho rằng: Giòng vua là giòng cao quí nhứt, vì vua chúa có phận sự cai trị, có quyền thưởng phạt tùy thích. Hạng nà y chỉ biết giao tiếp cùng hà ng vua chúa mà thôi, xem dân chúng không khác nà o hà ng nô lệ, không đáng giá là gì hết.

2. Giai cấp Bà -la-môn. Hạng Bà -la-môn mới là hạng cao quí nhứt, họ cho rằng họ sanh từ hà ng Phạm thiên đến. Họ là hà ng có uy quyền tột đỉnh là họ có thể giao tiếp với đấng thiêng liêng. Ngoà i ra, còn có phận sự xem thiên văn, địa lý, vua chúa muốn cúng tế phải nhờ Bà -la-môn hà nh lỠmới được hoà n toà n cuộc lỠ.

3. Hạng thương gia, nông phu, hạng nà y chỉ biết buôn bán, và là m ruộng mà thôi.

4. Hạng lao công, hạng nà y phải là m việc vất vả nặng nhọc cả ngà y.

Chỉ có hạng thứ năm là hạng đáng thương hại nhứt. Hạng nà y bị người khinh khi hà nh hạ không khác nà o con thú, họ muốn đánh đập hà nh hạ cách nà o cũng không bao giờ dám chống trả lại. Hạng nà y gọi là Chiên-Ðà -La.

5. Chiên-Ðà -La, không thuộc về thà nh phần của bốn hạng trên nên bị người khinh bỉ. Sở dĩ mà có hạng nà y vì, trong bốn hạng trên không là m lỠsính hôn với nhau mà lại sính hôn với khác giòng của mình. Chẳng hạn giòng vua mà lập gia đình với giòng Bà -la-môn cũng bị khai trừ khỏi dòng vua và giòng Bà -la-môn trở nên giòng Chiên-đà -la.

Vì vậy nên giòng nà y không đứng và o một giòng nà o trong bốn giòng kể trên, họ bị coi là thấp hèn nhứt, vì vậy nên bị người ghét bỏ và hà nh hạ tột độ.

Vì xã hội thời ấy có giai cấp như vậy, nên khi Ngà i đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, truyền bá giáo lý mạnh và rất sâu rộng, đến đỗi các Tôn giáo trong thời ấy phập phòng lo sợ tôn giáo của mình bị tiêu diệt. Sở dĩ mà Phật giáo truyền bá được rất mạnh và mau như vậy là nhờ hai nguyên nhân.

1. Ðức Thế Tôn giải thích những sự thật mà từ ngà n xưa chưa ai hiểu và giải cho nhân loại biết: Ðó là Tứ Diệu Ðế. Sự diệt khổ ở tận lòng mình chớ không có một tha lực nà o có thể giúp mình.

2. Ngà i không chấp nhận các giai cấp của xã hội. Ngà i dạy: chúng sanh khi có thân nà y, thì có tự do, quyền lợi ngang nhau. Chỉ có sự hà nh động xấu tốt mới có thể phân giai cấp con người Thiện Ác được.

Nơi đây tôi xin nhắc lại sự hà nh động của một vị Ðại đệ tử Phật và giai cấp của xã hội.

Ngà y nọ, Ðại đức Ananda đi đường xa nắng nóng; ngà i cảm thấy khát nước, nhưng không tìm đâu ra một miếng để giải khát. Vừa khi ấy có một cô đội một bầu nước đi gần đến nơi.

Ngà i đại đức đến gần và nói: - Cô thí chủ, bần đạo vì phải đi xa trời nóng lấy là m khát nước, xin cô vui lòng cho tôi xin một ít nước giải khát.

Cô ấy nghe Ðức Annada nói vậy lật đật tìm thế tránh Ngà i. Ðức Annada mới hỏi: - Tại sao cô lại tìm thế trốn tránh bần đạo?.

Cô ấy đáp: - Bạch Ngà i, sở dĩ tôi lẫn tránh Ngà i vì tôi là hạng người tôi đòi, còn Ngà i là hạng Sa-môn, mà ngoà i đời Ngà i là hà ng Vua chúa thuộc giòng Thích Ca hạng rất cao quí nhứt, thì tôi là m sao dám gần Ngà i và dám cho ngà i nước?

Ðại đức Annada đáp: - Cô Thí chủ, trên đời nà y không có giai cấp, và phân biệt sang hèn, giòng giống, những sự chia rẽ giai cấp do một hạng người nặng lòng khinh khi, ngả mạn đặt ra. Người có đủ thân hình là người có quyền sống, được quyền hưởng mọi việc có trên đời nà y, không phân biệt gái, trai già trẻ v.v... Ðiều đáng phân giai cấp hơn hết là sự hà nh động hung ác và hiền đức mà thôi. Hai điều ấy mới là pháp quan trọng nhứt để phân biệt giai cấp.

Cô ấy nghe vậy lấy là m cảm mến Ðại đức Ananda, nên đem nước đến dâng cho Ngà i.

Tích nà y cho chúng ta thấy rằng: Sở dĩ mà có giai cấp vì lòng vị kỷ, ngã mạn; khinh người đó toà n là những Phiền não bên trong chia rẽ người với người, là nguyên nhân là m cho người và người cà ng xa cách nhau hơn, thù hận oán ghét và sự muốn là m hại nhau cà ng ngà y cà ng gia tăng, không bao giờ thương yêu nhau, vì vậy nên xã hội sống trong vòng oán ghét dầu có muốn gần nhau cũng chẳng đặng nà o. Người sống trong xã hội như thế vui ít khổ nhiều.

Phật giáo, không phân chia giai cấp không hề đề cao sự già u sang quyền quí của một cá nhân, mà cũng không khinh bỉ ai. Chủ nghĩa của Phật giáo là chỉ biết chúng sanh là người sợ khổ, muốn an vui, và Phật giáo là nguồn gốc diệt khổ, đem an vui lại cho chúng sanh, nên giai cấp đối với Phật giáo không thà nh vấn đề. Sự chú trọng nhứt của Phật giáo là sự hà nh động của con người. Con người đáng khen tặng cao quí nhất là người có lòng Từ thương yêu chúng sanh, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau coi nhau như người thân thuộc, không phân biệt già u sang nghèo hèn, dân hay quan, hoặc là vua chúa. Tóm lại, Phật giáo có phân biệt chăng là ở chỗ hà nh động Thiện hay Ác của con người mà thôi.

Trong bộ kinh Pháp cú (Dhammapada), đoạn Brahmavagga nói về Bà -la-môn, có tích như vầy:

Khi Ðức Thế Tôn ngự tại Kỳ viên Tịnh Xá của Trưởng gia cấp cô độc. Có vị Bà -la-môn nghĩ rằng Thầy Sa-môn Cồ đà m thường gọi đệ tử của ông ta là Bà -la-môn. Ta là người sanh trong giòng Bà -la-môn trong sạch; lẽ ra ông ta cũng gọi ta là Bà -la-môn mới đúng.

Nghĩ vậy thầy liền và o chùa hầu đức Phật và nói lên ý nghĩ của mình.

Ðức Thế Tôn mới dạy rằng: - Nà y Thầy Bà la môn, Như Lai không hề gọi người nà o là Bà la môn, bởi người ấy sanh trong giòng Bà la môn. Như Lai chỉ gọi người nà o không có phiền não, không có sự phiền não, không có sự quyến luyến, sự ngã chấp, là Bà la môn.

Rồi Ðức Thế Tôn dạy câu kệ:

Na Cãham Brãhmanam Brũ Mi
Yonixam Mattisambhavam
Bhovãdi Nãma So Hoti
Sace Hoti Sakincano
Akincanam Anãvãdam
Tam Aham Brũmi Brãhmanan

Nghĩa: Như Lai không bao giờ gọi người sanh ra bởi bà mẹ chính là giòng Bà -la-môn. Người (Bà -la-môn) ấy, có đi cổ động cho bản thân mình là : "Người tiến hóa, Người văn minh", mà người (Bà -la-môn) ấy còn đầy phiền não. Như Lai chỉ gọi người không có phiền não, không có sự bận rộn, người không ngã mạn là Bà -la-môn.

Sau khi dứt thời Pháp, thầy Bà -la-môn ấy đắc quả Tu đà hườn vì thầy thấy rõ chân lý Bà -la-môn phải là người không còn phiền não, không còn lẫn trong đời ô-trọc nữa.

Theo Phật giáo lấy sự hà nh động Thiện hay Ác mới là chân giá trị của con người; chớ người tự cho mình là hạng quí tộc, sang cả, học thức, vua chúa mà còn là m những điều bất lương thì chỉ mang cái dáng bên ngoà i mà thôi. Vì vậy Phật giáo đối với giai cấp không thà nh vấn đề.

Theo hà ng Tăng lữ, Ðức Thế Tôn cà ng để điều luật bắt buộc người xuất gia phải biết tôn kính nhau theo thứ tự; không phải vì mình là hà ng vua chúa xuất gia, hà ng Bà la môn xuất gia mà bắt buộc hạng ngoà i ra mình phải cung kính tôn trọng mình. Nghĩa là người đã xuất gia theo Phật pháp rồi thời giai cấp ở xã hội đều bỏ, mà phải kính trọng nhau ở chỗ người xuất gia trước và sau mà thôi.

Tạng Tiểu bộ Khuddakanikãya, bà i kinh Vasalasutta có nói:

Khi Ðức Thế Tôn ngự tại Kỳ viên Tịnh xá. Buổi sáng nọ Ðức Thế Tôn cùng chư đệ tử đắp y mang bát và o thà nh khất thực. Ðồng thời cũng có thầy Bà -la-môn tên Aggikabhãradvãja đang nhúm lửa và chuẩn bị cúng dường thần lửa tại chỗ ông ta ở. Ðức Thế Tôn đến nơi của ông sắp tế thần lửa.

Khi ông trông thấy Ðức Thế Tôn, ông liền bảo: - Hãy ngừng lại đó hỡi lão trọc. Ngừng ngay lại thầy Sa-môn. Ðừng lại nơi ấy hỡi người đê tiện.

Khi nghe ông Bà -la-môn nói như vậy, Ðức Thế Tôn hỏi ông ra rằng: - Nà y ông Bà -la-môn, vậy ông có biết người đê tiện và pháp nà o là m cho con người đê tiện không?

- Ông Sa-môn, tôi không biết người đê tiện mà cũng chẳng biết pháp nà o là m cho con người trở nên đê tiện. Vậy xin ông Cồ-Ðà m chỉ bão pháp ấy cho tôi biết người đê tiện và pháp là m cho người đê tiện?

- Nà y thầy Bà la môn vậy người hãy nghe đây.

Ðức Thế Tôn dạy hơn hai mươi câu kệ rất dà i, vậy nơi đây tôi xin miỠn kể nguyên văn Phạm ngữ, chỉ tóm tắt: - Ðức Thế Tôn liền dạy:

1. Người hay sân hận, oán thù, bội ơn, hiểu lầm, xảo trá. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

2. Người là m hại chúng sanh - một kiếp hay là hai kiếp; không có Tâm thương hại chúng sanh; nên biết rằng: đó là người đê tiện.

3. Người đi là m hại kẻ khác, là thường đi cướp của giết người trong là ng hay tông, người có tiếng như vậy thì nên biết rằng: đó là người đê tiện.

4. Người lấy của kẻ khác mà người chủ của không cho, của ấy hoặc ở trong nhà hay ngoà i rừng; nên biết rằng: đó là người đê tiện.

5. Người vay nợ, không chịu trả, nói rằng: không có thiếu nợ, rồi trốn bỏ nhà đi; nên biết rằng: đó là người đê tiện.

6. Người giết kẻ đi đường cướp của vì lòng tham lam, nên biết rằng: đó là người đê tiện.

7. Người bị lấy khẩu cung để là m nhân chứng, nhưng lại nói dối vì lý do của cá nhân mình, hay vì kẻ khác, hoặc vì tiền của (bị người mua chuộc). Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

8. Người tư thông với vợ kẻ khác hay vợ bạn qua tham ái hay bằng cưỡng bách, nên biết rằng: đó là người đê tiện.

9. Người có thể (nuôi cha mẹ được), nhưng không phụng dưỡng cha mẹ già thì nên biết rằng: đó là người đê tiện.

10. Người đánh đập cha, mẹ, anh, chị, ông, bà , cha, mẹ, chồng, cha mẹ vợ; nên biết rằng: đó là người đê tiện.

11. Người mà có người khác đến hỏi việc có lợi ích (hay việc từ thiện) mà lại nói chuyện vô ích, hay nói tránh chuyện khác. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

12. Người là m chuyện tội lỗi xấu xa, nhưng trái lại muốn rằng ai cũng chẳng nên biết việc là m xấu xa của ta. Người ấy che đậy tội lỗi của mình. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

13. Người khi đến nhà kẻ khác được ăn uống sạch sẽ: khi người đến nhà mình thì không trọng đãi lại. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

14. Kẻ dối gạt được các bực Sa Môn, Bà la môn, tu sĩ, bằng lời nói. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

15. Khi đang ăn uống chửi rủa các bực Sa Môn, Bà la môn, trái lại cũng chẳng cúng dường chi cho các vị ấy. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

16. Người trong thế gian nà y vì si mê nên muốn được đồ vật của kẻ khác; đồ ấy không đáng giá, mà lại khoe khoang đặc ân cao quí của mình mà thật ra thì không có đặc ân cao quí gì hết. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

17. Người chỉ biết tâng bốc mình, chê bai kẻ khác vì bởi lòng ngã mạn. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

18. Người cương ngạnh cứng đầu ham muốn nhiều, nhưng trái lại bỏn xẻn keo kiệt mà hay khoe khoang; không biết hổ thẹn, và không biết sợ tội lỗi. Nên biết rằng: đó là người đê tiện.

19. Kẻ phỉ báng Ðức Phật, phỉ báo các bực xuất gia hay là người tại gia đệ tử Phật. Nên biết rằng: đó là kẻ đê tiện.

20. Kẻ nà o tự mình không phải là A la hán, mà tự cho mình là A la hán. Nên biết rằng: kẻ ấy là người đê tiện.

Những kẻ nà o ta thuyết đây đều là những kẻ đê tiện. Người đời không phải đê tiện vì dòng giống, không phải tự mình là m cao sang vì sanh và o dòng Bà la môn. Những người đê tiện hay cao sang cũng bởi do nơi nghiệp Là nh và Dữ.

Con của người Chiên Ðà La sống với vật thực tự tay mình nấu lấy tên là Tanmãga, được uy quyền vĩ đại là nhà vua và hạng Bà la môn đem Long xa đến rước về thà nh, ông ta là người diệt được lòng tham ái, là hạng người được sanh và o cõi Phạm thiên. Dòng giống không thể ngăn ông Tanmãga sanh và o cõi Phạm thiên hay dòng Bà la môn được. Những người dòng Bà la môn là m tội thì cũng bỉ chỉ trích trong kiếp nà y và kiếp vị lai phải sanh và o Ác đạo. Người trong đời nà y không phải trở thà nh người Ðê tiện hay sang hèn đều do nơi sự hà nh động của mình.

Sau khi nghe thời pháp, ông ta rất hoan hỷ với giảo pháp của Ðức Thế Tôn. Ông liền đảnh lể và nói: Bạch hóa Ðức Thế Tôn thật pháp của Ngà i hoà n toà n minh bạch; là m cho tôi sáng ra như kẻ mù lòa được ánh sáng, như người đốt đuốc trong nơi tối tăm. Xin Ngà i cho tôi Qui y tam bảo kể từ ngà y hôm nay cho đến trọn đời.

Những xóm nhà ở núi Kalakutta gần Vương Xá thà nh là những xóm của hạng người Chiên đà la ở. Nơi ấy trước kia là nơi hoang vu, những người ấy trong thấy người nà o khác giòng họ đều lánh mặt, hay nói đúng là trốn, vì người thời ấy thường hay hiếp đáp đánh đập người Chiên đà la như con thú biết nói.

Sau khi Ðức Thế Tôn thà nh đạo, Ngà i đi vân du khắp mọi nơi không phân giai cấp và giống dân, nên Ngà i có ngự đến những xóm ấy dạy đạo. Những người ở xóm ấy hiểu lý đạo nên thay đổi đời sống lại, có tổ chức thôn xóm và có bầu Trưởng thôn, Xã v.v..; nhà của là ng xóm khang trang thật đẹp mắt.

Ngà y nọ, có một nhóm lái buôn đi ngang qua thôn, xóm ấy, thấy nhà cao, cửa đẹp, thật là cảnh đẹp. Những người lái buôn ấy lấy là m lạ, mới hỏi ông Trưởng ấp rằng: Thưa ông, cách đây mấy năm tôi có đi ngang qua rạng núi nà y, nơi đây là nơi hoang vu, những người nơi đây thấy chúng tôi đều lánh mặt, không vậy cũng tránh xa. Nhưng hiện tình nay, thì tôi lấy là m lạ là nơi đây có nhà cửa khang trang tốt đẹp, đời sống của người nơi đây thật sung túc; thật chúng tôi lấy là m hà i lòng với đời sống của các ông. Nhưng tại sao quý ông lại mặc đồ trắng khác hơn trước đây?

Ông Trưởng ấp đáp: Thưa ông, trước kia chúng tôi là hạng Chiên đã là , là giai cấp thắp hèn nhứt trong các giai cấp ở xã hội nà y, nay chúng tôi đã giải thoát giai cấp ấy, nên chúng tôi tu chỉnh sửa chữa, sự hà nh động cách ăn mặc, và nhà cửa lại cho thích hợp với nếp sống mới của chúng tôi.

Những người lái buôn lấy là m lạ hỏi: Thưa ông Trưởng ấp, các ông giải thoát khỏi giai cấp Chiên đà la, vậy hiện nay các ông là giai cấp gì?

- Thưa ông, các ông có biết Ngà i Ðại Sa môn Cồ Ðà m là vị Chánh đẳng Chánh giác không?

- Là m gì mà chúng tôi không biết, Ngà i là đấng Chí Tôn của chúng tôi.

- Hiện nay chúng tôi đã sanh và o giai cấp Phật tử; chúng tôi là người ở ngoà i giai cấp trong xã hội nà y. Lúc nọ, Ðức Thế Tôn có ngụ qua nơi nà y, chúng tôi trốn tránh Ngà i, Ngà i không cho chúng tôi tránh Ngà i được và cũng dạy không cho chúng tôi trốn tránh ai hết. Ngà i xưa kia là vị Ðế Vương khi còn tại gia, và hiện nay là vị Pháp vương cao hơn các Ðế Vương và các giai cấp trong xã hội nà y. Ngà i dạy chúng tôi cũng không nên trốn tránh Ngà i và cà ng phải gần Ngà i hơn. Ngà i cho gọi hết tất cả chúng tôi đến, dạy pháp giải thoát phiền não trong thâm tâm, và giải thoát khỏi giai cấp Chiên đà la nà y. Ngà i dạy chúng tôi tu chỉnh hà nh vi và sửa sang nhà cửa cho khang trang, mặc đồ cho sạch sẽ, bên trong là phần tinh thần, bên ngoà i là vật chất cho hoà n toà n trong trắng như đồ trắng mà chúng tôi mặc đây.

- Vậy Ðức Thế Tôn dạy các ông những gì xin các ông vui lòng kể lại cho chúng tôi nghe với.

- Ngà i dạy chúng tôi đủ mọi việc từ cách cư xử của một người cho đến một xã hội phải thương yêu nhau, tóm lại là Ngà i dạy hạnh phúc của người trong kiếp nà y và kiếp vị lai, trên ấy nữa là hạnh phúc vĩnh viỠn là Niết-Bà n. Có một điều đáng nhớ nhứt là Ngà i dạy chúng tôi, kiếm đủ các loại cây trông rừng lại chất đống, loại nà o theo loại ấy, xong xuôi, Ngà i bảo chúng tôi phải đốt những đống cây ấy lên một lượt. Khi lửa cháy ngà i chỉ chúng tôi và dạy rằng: mặc dầu cây khác giống nhau, nhưng khi đốt cháy thì ngọn lửa và ánh sáng giống hệt nhau, không khác gì hết; người sanh ra trong đời nà y đều có vui, buồn như nhau, chỉ khác nhau ở chỗ hà nh vi Ác và Thiện mà thôi. Nếu người là m việc dữ thì bị quả khổ, người là m là nh được hưởng quả an vui. Trong giáo pháp của Ðức Như Lai không có giai cấp, nhưng chỉ chú trọng hà nh vi tốt, xấu, của người mà thôi. Vì vậy đã là con người thì ai ai cũng như nhau không phân giai cấp, mọi người đều có quyền tự do, bình đẳng mọi người đều có quyền xuất gia hà nh Phạm hạnh. Nếu không thể xuất gia được thì phải hà nh đúng theo Chánh Pháp của một người Cư sĩ là phải có Ngũ giới và phải có lòng Từ Bi, giúp đỡ người, tóm lại phải tránh xa các Ác pháp.

Ðức Thế Tôn có dạy, lúc nọ, nhằm mùa đông; có một thầy Bà la môn đến bạch hỏi Phật rằng: Bạch Ngà i Sa Môn Ngà i thuộc giai cấp nà o trong xã hội nầy?

Ðức Thế Tôn đáp: Thầy Bà -la-môn, thầy không nên hỏi về giai cấp, nên hỏi về hà nh vi của người là hơn.

Theo lời Phật dạy đây, chúng tôi hiểu rằng: sự quan trọng của Phật giáo không phải ở giai cấp mà ở chỗ hà nh vi cao quí. Kể từ ngà y ấy đi, chúng tôi thấy chúng tôi phải tự cải thiện từ cách ăn ở, đến hà nh động cho trọn là nh, để cho xứng đáng là m đệ tử Phật. Vì vậy chúng tôi phải sửa chữa nhà cửa khang trang, tổ chức bầu cử trưởng ấp và bắt buộc mọi người ít lắm phải có Ngũ giới, hay cao hơn, là phải có Bát quan trai giới. Những người nà o là m việc không là nh nghĩa là phạm và o giới cấm thì bị trục xuất khỏi nhóm của chúng tôi, trừ khi biết tu chỉnh tánh tình lại thì mới được trở lại ở cùng xóm với chuùng tôi.

Thưa các ông vì những lẽ trình bà y trên nên chúng tôi nói chúng tôi là người ở trong giai cấp ngoà i các giai cấp có trong xã hội nà y từ xưa nay, xã hội của chúng tôi là một xã hội trọn là nh yêu thương nhưng giúp đỡ nhau, tìm chân lý giải thoát.

Hãy xem, dòng Thích Ca là dòng tự cao tự phụ lòng ngã mạng hơn tất cả người trong thời ấy. Nhưng khi và o xuất gia sau ông thợ cạo (Ngà i U ba li) của mình trong một khoảnh khắc mà phải kính trọng Ông ấy và phải gọi là Ngà i hay sư huynh, Ðức Thế Tôn có chế ngự điều luật mà tất cả người xuất gia phải tuân theo. Vì tất cả nước ở các con sông trên địa cầu nà y, chảy ra đến biển đều trở thà nh một mà u và một vị là xanh và mặn, cũng như người trên thế gian nà y có nhiều dòng nhưng khi xuất gia rồi chỉ là một vị Tỳ khưu hà nh theo chánh pháp mà thôi, chớ không còn giai cấp gì của xã hội bên ngoà i nữa.

Ngoà i ra, Ðức Thế Tôn còn dạy người trong xã hội phải thật hà nh những pháp đối đãi với nhau để gây cảm tình thương mến nhau mãi mãi không bao giờ quên nhau. Những pháp ấy phạm ngữ gọi là Sãrãniyadhamma nghĩa là : pháp là nguyên nhân là m cho người hằng thương nhớ nhau, kính mến nhau không gây gỗ nhau và hòa hợp nhau. Khi người trong xã hội ai cũng hà nh đúng theo 6 pháp nà y thì xã hội ấy sống trong cảnh an vui hạnh phúc trà n trề, không có sự oán ghét, thù hận nhau và xã hội ấy có một sức mạnh vô lượng vô biên là khi đã thương yêu nhau thì không bao giờ bỏ nhau, khi không bỏ nhau thì người nà y có chuyện chẳng là nh xảy ra, thì không ai bỏ cho phải đau khổ một mình, mọi người đều đến giúp đỡ, như vậy người đã có được một sự đoà n kết chặt chẽ, khi có sự đoà n kết chặt chẽ chính là có một sức mạnh vô biên vậy.

Sáu Pháp ấy là :

Pháp thứ nhứt: Mettãkãyakamma

Nghĩa là là m việc gì cũng là m bằng lòng Từ ái. Câu nà y ý dạy người vì thương nhau nên giúp đỡ nhau bằng tất cả tấm lòng chân thà nh, không mong cầu sự trả ơn hay chi chi hết, nhứt là không nghỉ đến số tiền thù lao. Tóm lại sự giúp đỡ công hay của, cũng giúp đỡ bằng lòng tương trợ nhau, với tấm lòng thương yêu quí mến nhau như người thân mà thôi. Người mà giúp đỡ kẻ khác bằng lòng Từ ái không vì tư lợi, là người đã gây được cảm tình với người mà đã ra công giúp đỡ. Chắc chắn rằng: mình đã gieo được một mầm thương mến của mình trong lòng kẻ khác. Người ấy chắc chắn không quên, và hằng nghĩ cách trả ơn lại.

Pháp Thứ Nhì: Mettãvacĩkamma

Nói lời Từ ái. Nghĩa là trước mắt hay sau lưng mọi người, không bao giờ nói chuyện gì của người khác, và dùng lời bất nhã là m cho người bị nói nghe lại phát sanh sự bất bình, hay tức giận, rồi cột oan trái oán thù. Người nói lời Từ ái là người hằng nhắc nhở người là m là nh, hay chỉ đường lối, là m việc là nh, nếu không hợp với lẽ đạo cũng tránh khỏi phạm và o tội lỗi của thế gian. Khi người nói được như thế là gây thêm nhiều mỹ cảm với người khác.

Pháp Thứ Ba: Mettãmanokamma.

Suy nghĩ việc gì cũng nghĩ bằng Tâm Từ, nghĩa là người ấy không bao giờ nghĩ ác, mặc dầu ai là m cho tức giận, nhưng không bao giờ có nghĩ đến sự là m cho người ấy bị tai nạn hay bị tổn thương, luôn luôn đối với người thù cũng như là đối với quyến thuộc vợ con trong nhà . Người nà y có lòng khoan dung và tha thứ cho mọi người, không bao giờ đem sự tức giận và o lòng. Khi Ðức Thế Tôn còn là vị Bồ Tát Ngà i đối với người thù oán ngà i là m hại Ngà i cũng như con Ngà i. Vì vậy nên khi Ðề Bà Ðạt Ða sắp chết có nói với các thầy Tỳ khưu theo ông rằng: - Mặc dầu, ta là m hại Phật nhiều phen như vậy nhưng Ngà i vẫn đối với ta một tấm lòng thương mến như chính Ngà i thương con Ngà i là ông Ra-hầu-la vậy. Lòng từ bi của Ngà i đối với chúng sanh như mặt quả Ðịa cầu. Vì mặt quả địa cầu không bao giờ giận hay ghét ai và không bao giờ trả thù ai hết.

Nếu người đời ai cũng có Tâm Từ như Ðức Phật thì tức nhiên người ấy không có nhiều oan trái oán thù, gây tình cảm với mọi người, thì quanh mình người ấy bao bọc một Ðức là nh ác pháp bất khả xâm phạm. Người sống thật an vui hạnh phúc. Người có đầy đủ lòng Từ, từ nơi lòng mình xuất phát ra thì khiến cho người quanh mình được ảnh hưởng mát mẻ.

Những người hà nh theo đúng với lòng Từ thì được 8 điều hạnh phúc hay gọi là quả báo lòng từ:

1. Sukham Supati: Ngủ được yên giấc.
2. Sukham Patibujjhati: Thức giấc cũng được an vui.
3. Na Pãpakam supinam Passati: Ngủ không có ác mộng.
4. Amanussãnam Piyo Hoti: Phi nhơn (ma quỉ) cũng yêu thương.
5. Manussãnam Piyo Hoti: Người ai ai cũng thương yêu quí mến.
6. Devatãrakkhanti: Chư thiên thường hộ trì mọi nơi.
7. Nãssa Aggivã Visamvã Satihamvã Kamati: Lửa, thuốc độc, khí giới không thể xâm phạm được.
8. Uttarin Appativijjhanto Brahmalokũgohato: Khi chưa đắc được đạo quả Niết Bà n cũng được sanh và o cõi Phạm Thiên.

Tôi xin nhắc lại một tích một vị Tỳ khưu hà nh hạnh Từ được chư thiên yêu mến.

Có một vị Tỳ khưu học Thiền định về đề mục Từ. Ông và o ở một nơi nọ trong rừng. Khi hà nh một hạ xong, ông mới định đi ở nơi khác. Sáng ngà y, ông định đi, ông nghe tiếng người than khóc lấy là m lạ hỏi rằng: Tiếng ai than khóc đó?.

Có tiếng đáp: Bạch Ngà i, chúng tôi là thọ thần ở rừng nà y.

Ngà i hỏi: Tại sao các người lại khóc?

- Bạch Ngà i, trước khi Ngà i đến ở nơi nà y, chúng tôi thường gây gổ, và hay oán thù nhau, từ khi Ngà i đến cư ngụ nơi đây, chúng tôi không còn gây gỗ nhau nữa, nhờ nơi sự rải lòng Từ của Ngà i đến chúng tôi. Vậy xin tạm ở nơi nà y cho chúng tôi nhờ.

Vị Tỳ Khưu ấy, thấy nhờ lòng Từ mà là m cho Thọ thần giải được thù oán gây gỗ nhau, nên Ngà i bằng lòng ở lại nơi ấy. Và Ngà i đắc được quả Thánh cũng nhờ Ngà i niệm lòng từ.

Ðây là quả báo mà ta thấy hiện tại. Và cũng là một trong bao nhiêu chuyện khác có trong kinh sách.

Pháp Thứ Tư: Lãbha.

Chia lợi lộc của mình cho người gần bên. Người đời vì lòng tham muốn còn, nên vẫn còn muốn sự giúp đỡ, vì thiếu hụt hoặc về vật chất hay tinh thần. Cũng có người, vì già u có nên cũng không nhận thấy sự cần nhờ vả và o ai; nhưng rốt cuộc họ cũng cần phải nhờ, không việc nà y cũng việc khác, vì vậy ta có thể chia sự vật mà ta có được, thì nên chia, vì cái chia cho người khác dùng, những vật ấy không bao giờ mất, mà ta còn được tình thương của người khác.

Có câu Phật dạy "Dadam Mittani Ganthati", nghĩa: Người thường đem của mình ra cho thì hằng có nhiều bạn. Người nếu thường cho kẻ khác thì thường được người giúp đỡ mến thương. Theo Phật dạy khi mình cho ai món gì là mình gieo trong lòng họ một việc tốt đẹp. Vậy lòng người là một mảnh đất có nhiều mà u mỡ, khi ta gieo hột giống nà o rồi chắc chắn sẽ không bao giờ mất, một khi nà o đó, ta lại được gặt hái quả ấy không sai vậy. Sự chia của mình ra cho người là một hạnh của các bực Trí thức nhứt là hạnh Bồ-Tát.

Pháp Thứ Năm: Sila.

Nghĩa là Trì giới. Giới của Phật giáo là những điều mà người lương thiện cần phải có. Người có giới Ðức là người có thân khẩu được trọn là nh là không sát sanh, trộm cướp. Tà dâm vọng ngữ nói đâm thọc, nói là vô ích, chửi rủa, mắng nhiếc, và uống rượu say sưa. Thì thử nghĩ xã hội ấy ra thế nà o? Nếu người người đều có một trình độ như nhau thì chắc chắn sẽ được nhiều an vui hòa thuận. Người trong gia đình vợ chồng con cháu đều có những cử chỉ như nhau thì chắc không bao giờ có sự ngờ vực và oán ghét nhau.

Pháp Thứ Sáu: Kiến hòa.

Nghĩa là người ở chung nhau cùng có một ý kiến như nhau, nghĩa đồng cùng một ý tưởng, người trong nhóm mà ai ai cũng đồng lòng nhau thì chắc chắn không còn có một sức mạnh nà o có thể là m cho nhóm ấy bị hại, hay nói cho đúng là nhóm ấy có một sức mạnh khó có ai là m tan rã được. Ðây là một nguyên nhân mà người trong xã hội nhỏ là gia đình và người trong xã hội bực trung là một sở nà o, hay người trong xã hội lớn là một nước cần phải có Ðồng ý kiến nhau mới là m nên việc.

Ðây là Sáu pháp là m cho người ta thương tưởng và nhớ nhau không ngà y quên nhau. Vậy người tại gia cũng nên hà nh theo để đem lợi ích cho mình và cho người trong xã hội.

Ngoà i ra Ðức Thế Tôn còn dạy người trong xã hội phải hà nh bốn pháp, Phạn ngữ gọi là Sangaha nghĩa là giúp đỡ lẫn nhau. Sangaha giúp đỡ ấy có bốn pháp là :

Pháp Thứ Nhứt: Dãna

Nghĩa là Bố Thí, âm Ðà n-na. Bố thí đây có nghĩa là cung phụng, tặng, giúp đỡ.

a. Bố thí có nghĩa là Cung phụng, là con có phận sự phải phụng dưỡng mẹ, cha bằng cách đem đến cho quần áo, thuốc men, vật thực; mùng mền v.v... nói tóm lại là những gì mà mình cần dùng là cha mẹ cần dùng, con có hiếu nên nghĩ đến cha mẹ già trước, khi còn dư ở cha mẹ mới tới mình. Ðây là cho, hay nói một cách khác là Cúng Dường đến cha mẹ.

b. Tặng. Có nghĩa là người chồng tốt, người vợ hiền, thường thấy vật gì lạ mua về cho vợ, hay cho chồng. Khi đi xứ xa lạ hay nơi nà o lạ thấy có món gì ngộ, đẹp, mua về tặng cho vợ, hay cho chồng, hoặc đối với bạn bè đi xa về thường có quà tặng.

c. Giúp đỡ. Có nghĩa là thấy nguời thiếu thốn không nói là lạ hay quen, gìa hay trẻ, trai hay gái đều hết lòng giúp đỡ tiền bạc hay công mình. Những việc giúp đỡ của mình không là m hại đến người nà o khác và cũng chẳng hại chi đến mình.

Sự giúp đỡ thường mỗi người có một lý do khác nhau là :

a. Vì lòng thương hại người thiếu thốn, giúp đỡ để đắp và o sự thiếu thốn của người, đây cũng có lý do bởi có lòng Từ.

b. Giúp đỡ vì nghĩ rằng: Người nà y là người cùng quê hương với ta. Người nà y là quyến thuộc ta. Người nà y là đồng bà o ta.

c. Giúp đỡ vì muốn đứt lòng bẻn xẻn, và không ham muốn chứa chấp của cải thêm.

d. Giúp đỡ không còn nghĩ phân biệt giòng giống giai cấp, người tu hay hạng người nà o. Người hạng nà y muốn bố thí vì nghĩ thấy rằng: Của cải mà ta đã có đây, ngà y nà o đó nó sẽ mất đi, vì trộm cướp, cháy, trôi, hay ta chết cũng không đem theo được. Nghĩ đến lời Phật dạy, người đang ở trong cái nhà đang cháy nên cố đem của cải trong nhà ấy ra để tạo một cái nhà khác. Cũng như người sống trong những giờ phút tiêu lần tuổi thọ, nên cố là m việc là nh để đem của cải ấy về ngà y vị lai. Người hạng nà y phần lớn là đệ tử Phật.

Nếu người trong đời nà y đều nghĩ như những người kể trên, gom của cải ra cho người nghèo khổ thiếu hụt, thì đời được tươi sáng hơn nhiều, và cũng là nhân gây nên hạnh phúc cho mình cho người cùng một xã hội.

Người đời đã không cho ra được mà còn muốn thâu và o thêm cà ng nhiều cà ng hay, nên thường hay gây ra thù oán ganh tî, là m hại nhau; không bao giờ chịu giúp nhau. Sở dÄ© mà có những điều kể trên vì con người có tánh tham lam. Người đời từ khi sanh ra đến lớn, phần lớn đều học tiếng Thâu hÆ¡n là nghe tiếng Xuất. NghÄ©a là người chỉ học là m ra tiền và cất đó, chớ không có học là m là nh, là đem cá»§a mình đã có ra cho. Chỉ có Phật giáo có phương pháp lạ hÆ¡n hết là người đệ tá»­ Phật phải học cách Cho trước hết; ý nói người Phật tá»­ đều học cách Bố Thí. Và phải có Bố Thí cà ng nhiều cà ng hay.

Người thường đem của mình ra cho thì được 5 điều quả báo.

1. Piyo: được nhiều người thương yêu mến chuộng.
2. Bhajo: Các bực trí thức hằng đến giao thiệp.
3. Kitti: Có tên tuổi tốt, đi đến nơi nà o cũng có người tiếp rước, kính mến.
4. Visãrato: Ở nơi nà o cũng không thấy hổ thẹn hay sợ sệt việc gì.
5. Sugatin Gacchati: Sau khi chết được sanh về cõi trời.

Pháp Thứ Nhì: Piyavãcã

Nói lời dịu ngọt. Lời nói thế nà o gọi là nói dịu ngọt? Tại sao phải dùng lời nói dịu ngọt? Phà m người đời ai ai cũng thích lời dịu ngọt vì lời dịu ngọt là m cho người nghe có cảm tưởng vui vẻ và không bị người khinh bỉ hay coi thường. Lời nói dịu ngọt là lời nói êm ái, như nói với người nhỏ hơn gọi là em, cháu, con. Còn ta xưng là anh, chú, chị, cô, dì v.v... Nơi đây tôi xin nhắc lại chuyện bốn người con của bốn vị trưởng giả.

Lúc quá khứ, có bốn người con của bốn ông Trưởng giả ở thà nh Bãrãnasĩ rủ nhau và o rừng chơi. Khi ấy gặp một người thợ săn đang chở đầy một xe thịt rừng đem và o thà nh bán. Bốn người ấy muốn xin thịt và đánh cá nhau coi ai xin được thịt ngon.

Người thứ nhứt kêu: Nè tên thợ săn hung dữ kia ơi, ngươi nên cho ta xin một ít thịt.

Người thợ săn ấy nghe câu nói không êm tai và đáng ghét ấy, mới lấy thịt chỗ dai nhứt của con thú cho con ông Trưởng giả.

Người thứ nhì kêu: Nà y anh thân yêu, xin anh cho tôi một ít thịt với nà o.

Người thợ săn nghe câu ấy là m vừa lòng và cảm thấy như chính em của mình xin thịt. Anh ta liền cắt lấy thịt đùi cho con ông trưởng giả thứ nhì.

Người thứ ba kêu: Cha ơi! Cho con xin miếng thịt với.

Người thợ săn lấy là m cảm động; tìm lấy quả tim cho con ông Trưởng giả.

Ðến người thứ tư nói: Nà y ông bạn thân mến của tôi ơi, xin ông vui lòng cho tôi xin một miếng thịt ăn với nà o.

Lời nói ấy là m cho người thợ săn có cảm tưởng thật là thấm thía và lòng thương mến của con ông Trưởng giả sánh lên thật mạnh. Người thợ săn liền mời con ông Trưởng giả lên xe chở về nhà đãi một bữa ăn toan thịt rừng thứ ngon nhứt.

Sau khi ăn uống xong. Con ông Trưởng giả cho anh thợ săn một số vốn thật lớn để anh ta đổi nghề. Và dạy anh thợ săn ấy không nên là m nghề giết hại thú nữa. Con ông Trưởng giả ấy chính là tiền thân của Ðức Thích-Ca Mâu-Ni.

Khi thuyết xong tích nà y Ðức Thế Tôn dạy, người đời thương yêu hay thù oán nhau cũng do nơi lời, nếu nói lời dịu ngọt thì ai cũng thương mến và hết lòng giúp đỡ.

Chú giải có dạy thêm: Người đệ tử Phật, bao giờ cũng không nên quên mình mà dùng lời bất nhã với ai hết, mặc dầu người ấy là hạng người kém hơn mình đủ mọi phương diện. Sở dĩ con ông Trưởng Giả thứ nhứt được thịt bầy nhầy là vì ông ta nói lời không êm tai chút nà o hết. Người thứ tư được người thợ săn tiếp rước đặc biệt, chiều chuộng mến thương cũng vì lời nói dịu ngọt.

Sở dĩ người thợ săn yêu thương người con ông Trưởng giả vì ông ta dùng tiếng Bạn. Người thời xưa chuộng tiếng Bạn. Vì Bạn ở tiếng Phạn gọi là Mitta, mà tiếng Mitta từ tiếng Metta, "Tâm Từ Ái" mà ra. Tiếng Mitta (bạn) của Phạn ngữ có chứa một ý nghĩa là sự thương yêu do lòng Từ mà ra, nghĩa là lòng yêu ấy không có lẫn phiền não, và sự thương yêu ấy hằng lo giúp nhau không nà i lo khổ. Tình bạn nà y không bao giờ phản bội nhau.

Pháp thứ ba: Atthacariyã

Nghĩa là : Là m việc ích lợi cho mình và cho người khác.

Trong đời nà y, người ai ai cũng muốn là m lợi ích; nhứt là lợi ích cho mình. Cũng vì ích kỷ muốn là m lợi ích riêng cho mình; nên người thường bị thất bại nhiều hơn thà nh công. Cũng vì lòng ích kỷ muốn đem lợi ích về cho mình nên xã hội nà y không được an vui, và người sống trong xã hội không thật lòng thương yêu, quí mến nhau. Nếu người, ai ai cũng lo lợi ích cho mình và cũng nhân cơ hội nà o đó là m lợi ích cho người, không ích kỷ, hay bớt lòng ích kỷ đi thì xã hội nà y sẽ đổi lại một đời sống hạnh phúc hơn, vì không thù oán và ganh ghét nhau.

Ðức Phật dạy sự hà nh động của con người có khác nhau là :

a. Người chỉ biết là m lợi ích cho mình thôi, nhưng không bao giờ là m hại kẻ khác, mà cũng không giúp đỡ ai hết. Hạng nà y tạm gọi là khá, vì không có thù oán với ai, nhưng người đời thường không ưa, và nếu cần sự giúp đỡ thì thật là khó. Nếu có người giúp đỡ chăng thì phải trả tiền thù lao.

b. Người hạng nà y đã là m lợi cho mình mà còn là m hại cho kẻ khác. Chẳng hạn như đầu cơ chợ đen, dùng uy quyền bóc lột kẻ yếu thế; người nà y thật ra chỉ biết lợi cho mình trước chớ không nghĩ thương hại ai cả.

Hạng người nà y sống giữa hận thù của người khác. Nếu có cơ hội thuận tiện thì không tránh khỏi trả thù. Hạng nà y các bực Trí thức hằng chê trách; và thường khuyên hà ng đệ tử hãy lánh xa hạng ấy, và cũng chẳng nên lấy đó là gương vì là tấm gương nhơ đục.

c. Hạng người nà y chỉ biết lo là m lợi ích cho kẻ khác, còn riêng mình thì có hại, hay không có hại cũng chẳng cần biết. Người hạng nà y thuờng bị người khôn ngoan hơn lợi dụng và khen tặng. Người nà y thích khen là anh hùng cá nhân. Chạy theo miếng mồi ảo mộng mà chặt lấy cái chết cho mình, không khác nà o con thiêu thân thấy ánh sáng bay và o cho chết thôi.

d. Hạng người nà y biết là m lợi ích cho mình mà cũng lo cho nguời. Có nghĩa là người hạng nà y là m gì cũng không hại mình mà cũng chẳng hại người, trái lại đem lợi ích cho mình và người. Người như thế mới gọi là người biết xử thế. Người biết hy sinh tùy theo hoà n cảnh không gọi là bị người lợi dụng.

Ðức Thế Tôn thường khen hạng nà y là hạng thức thời biết là m lợi cho mình và cho người khác. Người nà y sống trong hoà n cảnh nà o, xã hội nà o, cũng đều là m cho người quanh mình được hạnh phúc an vui và thương mến mình. Người không ích kỷ, ngã chấp thì tức nhiên không có oan trái, oán thù và người muốn là m hại. Nếu người trong xã hội nà y ai cũng thật hà nh như vậy, thì không những điều đáng tiếc xảy ra, xã hội có nhiều người như vầy, thì xã hội ấy chứa một tình thương bao la, là một Ðại Gia Ðình, một nơi không có hận thù, hay oán ghét nhau thật là hạnh phúc.

Sự là m lợi ích cho người nơi đây không phải có bao nhiêu của cải đem ra cho người hết mà chỉ chia phần ra chi tiêu. Ðoạn nà y xin giải ở đoạn sau, "Phật giáo đối với người Tại gia". Người đời cũng có thể dùng Trí tuệ để giúp đỡ con người cũng gọi là sự giúp đỡ nhau.

Pháp thứ tư: Samanattatã.

Hòa mình với mọi người, và mọi hoà n cảnh. Con người vì lòng Tự cao, ngã mạng, khinh người, nên không bao giờ có thể hòa mình với mọi người khác giai cấp, có phong tục khác với mình. Người không thể hòa mình với hoà n cảnh là người không thức thời. Người không được người khác kính yêu và ủng hộ cũng vì không biết hòa mình với mọi hoà n cảnh.

Câu "Hòa mình" nà y có nhiều ý nghĩa là :

a. Hòa mình với mọi người có nghĩa là có thể sống chung với mọi hạng người không phân giai cấp, không phân phong tục, không tỏ khinh người, chê hay tị hiềm.

b. Tỏ ra sự tôn trọng việc là m của nguời, không dám tỏ vẻ gì là không vừa lòng.

c. Nếu đang ở trên một địa vị cao sang cũng không tỏ vẻ khinh việc là m của một bộ lạc hay một nhóm người thiểu số, trái lại hòa đồng vui với việc là m của họ.

Người hòa mình được mọi hoà n cảnh là nguời sống được an vui, người diệt được nhiều phiền não như là ngã mạn; khinh người, tự cao v.v...

-oOo-

[Chương trước][Mục Lục][Chương Kế]


[Trở về trang Thư Mục]