Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
32. Kinh Vị Tằng Hữu Pháp
33. Kinh Thị Giả
34. Kinh Bạc-Câu-La
35. Kinh A-Tu-La
36. Kinh Địa Ðộng
37. Kinh Chiêm-Ba
38. Kinh Úc-Già Trưởng Giả (I)
39. Kinh Úc-Già Trưởng Giả (II)
40. Kinh Thủ Trưởng Giả (I)
41. Kinh Thủ Trưởng Giả (II)
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

4. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP

33. KINH THỊ GIẢ[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại thà nh Vương xá.

Bấy giờ, có các đại đệ tử, là các Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn danh đức, được nhiều người biết đến; đó là Tôn giả Câu-lân-nhã[02], A-nhiếp-bối[03], Tôn giả Thích-ca Vương Bạt-đề[04], Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ[05], Tôn giả Hòa-phá[06], Tôn giả Da-xá[07], Tôn giả Bân-nậu[08], Tôn giả Duy-ma-la[09], Tôn giả Già -hòa-ba-đề[10], Tôn giả Tu-đà -da[11], Tôn giả Xá-lê Tử[12], Tôn giả A-na-luật-đà [13], Tôn giả Nan-đề[14], Tôn giả Kim-tì-la[15], Tôn giả Lệ-ba-đá[16], Tôn giả Đại Mục-kiền-liên[17], Tôn giả Đại Ca-diếp[18], Tôn giả Đại Câu-hi-la[19], Tôn giả Đại Châu-na[20], Tôn giả Đại Ca-chiên-diên[21], Tôn giả Bân-nạâu-da-nậu-tả trưởng lão[22], Tôn giả Da-xá Hà nh Trù trưởng lão[23], rất nhiều các vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn danh đức, đại đệ tử, được mọi người biết đến, tương tự như vậy, cũng ở thà nh Vương xá, tất cả đều trú gần ngôi nhà lá của Phật.

Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Hiện nay tuổi của Ta đã già ; thân thể ngà y cà ng suy yếu, tuổi thọ đã quá già rồi, nên Ta cần có thị giả. Các thầy hãy cử cho Ta một thị giả, là m sao để chăm sóc Ta, xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời Ta nói mà không quên mất ý nghĩa[24].”

Lúc ấy Tôn giả Câu-lân-nhã liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa y, chắp tay hướng về Đức Phật thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, con xin nguyện hầu hạ, xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ những lời Ngà i nói mà không quên mất ý nghĩa.”

Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y Câu-lân-nhã, thầy cũng tuổi đã già , thân thể ngà y cà ng suy yếu, tuổi thọ đã qua dà i rồi. Chính thầy cũng cần có thị giả. Nà y Câu-lân-nhã, thầy nên lui về chỗ ngồi đi.”

 Bấy giờ Tôn giả Câu-lân-nhã đảnh lá» chân Phật rồi lui về chỗ ngồi.

 CÅ©ng như vậy, lần lượt Tôn giả A-nhiếp-bối, Tôn giảû Thích-ca Vương Bạt-đề, Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ, Tôn giả Hòa-phá, Tôn giả Da-xá, Tôn giả Bân-nậu, Tôn giả Duy-ma-la, Tôn giả Già -hòa-ba-đề, Tôn giả Tu-đà -da, Tôn giả Xá-lê Tá»­, Tôn giả A-na-luật-đà , Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la, Tôn giả Lệ-ba-đá, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Câu-hi-la, Tôn giả Đại Châu-na, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả Bân-nạâu-da-nậu-tả trưởng lão.

Tôn giả Da-xá Hà nh Trù trưởng lão, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về Đức Phật thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, con xin nguyẹân hầu hạ xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ những lời Ngà i dạy mà không quên ý nghĩa.”

 Äá»©c Thế Tôn bảo rằng:

 â€œNà y Da-xá, thầy cÅ©ng tuổi đã già , thân thể ngà y cà ng suy yếu, tuổi thọ đã qua dà i rồi. Chính thầy cÅ©ng cần có thị giả. Nà y Da-xá, thầy nên lui về chỗ ngồi đi.”

Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang ở trong đại chúng ấy, liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn muốn tìm vị nà o là m thị giả? Ýù nghĩ đặt và o Tỳ-kheo nà o? Muốn cho ai chăm sóc Ngà i, xứng ý chớ không phải không xứng ý, và ghi nhớ những lời Ngà i dạy mà không quên mất nghĩa? Có lẽ ta nên nhập định có hình tượng như thế[25], quan sát tâm của chúng Tỳ-kheo’. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền nhập định có hình tượng như thế, biết Thế Tôn muốn chọn Hiền giả A-nan là m thị giả, ý Ngà i đặt và o A-nan, muốn A-nan chăm sóc, xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời dạy mà không quên ý nghĩa.

Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền xuất định, thưa với chúng Tỳ-kheo rằng:

“Chư Hiền biết không, Đức Thế Tôn muốn chọn Hiền giả A-nan là m thị giả. Ý Ngà i đặt và o A-nan; muốn A-nan chăm sóc, xứng ý chớ không phải là không xứng ý, ghi nhớ lời dạy mà không quên ý nghĩa. Bây giờ chúng ta nên cùng nhau đến chỗ Hiền giả A-nan khuyến dụ thầy ấy là m thị giả của Thế Tôn.”

Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cùng các Tỳ-kheo cùng nhau đến chỗ Tôn giả A-nan, chà o hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ngồi xong, nói rằng:

“Hiền giả A-nan, thầy có biết không, Đức Thế Tôn muốn chọn thầy là m thị giả; ý Ngà i đặt và o A-nan, muốn A-nan chăm sóc Ngà i, vì thầy xứng ý Ngà i chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời dạy của Ngà i mà không quên mất ý nghĩa. A-nan, cũng như ngoà i thôn xóm không bao xa, có một tòa lâu đà i to lớn, cửa sổ mở ra ở phía Đông, thì khi mặt trời mọc lên, ánh sáng sẽ rọi thẳng và o vách phía Tây. Nà y Hiền giả A-nan, Đức Thế Tôn cũng vậy, muốn chọn A-nan là m thị giả, ý Ngà i đặt và o A-nan, muốn A-nan chăm sóc Ngà i, xứng ý chớ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời dạy của Ngà i mà không quên mất ý nghĩa. Nà y Hiền giả A-nan, bây giờ thầy nên là m thị giả Đức Thế Tôn.”

Tôn giảû A-nan thưa rằng:

“Bạch Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, tôi không thể lãnh trách nhiệm hầu hạ Đức Thế Tôn nổi. Vì sao thế? Vì với các Đức Phật Thế Tôn khó xứng ý, khó hầu hạ;ï nghĩa là khó là m thị giả. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cũng như đối vớiù một con voi rất hùng mạnh, đã hơn sáu mươi tuổi, kiêu ngạo, sức mạnh cường thạnh, đủ ngà , đủ vóc, khó là m xứng ý, khó gần gũi; nghĩa là khó coi sóc.

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, với Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng lại như vậy, khó xứng ý, khó gần gũi; nghĩa là khó là m thị giả. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, vì vậy tôi không thể lãnh trách nhiệm là m thị giả được.”

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nói rằng:

“Nà y Hiền giả A-nan, thầy hãy nghe tôi nói ví dụ, người có trí nghe ví dụ liền hiểu ý nghĩa của nó. Nà y Hiền giả A-nan, cũng như hoa Ưu-đà m-bát-la đúng thời mới xuất hiện thế gian. Nà y Hiền giả A-nan, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng lại như vậy. Đúng thời mới xuất thế. Nà y Hiền giả A-nan, thầy nên mau là m thị giả Đức Thế Tôn rồi sẽ được kết quả lớn.”

Tôn giả A-nan lại bạch:

“Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn chấp thuận ba điều nguyện của tôi thì tôi mới có thể là m thị giả. Những gì là ba? Tôi nguyện không đắp y của Thế Tôn, dù cũ hay mới; nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật; nguyện không gặp Thế Tôn phi thời. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn cho phép tôi nguyện ba điều ấy, tôi mới là m thị giả Đức Thế Tôn.”

Bấy giờ, sau khi khuyên Tôn giả A-nan là m thị giả rồi, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đứng dậy đi quanh Tôn giả A-nan rồi trở về; đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lỠchân Phật rồi ngồi sang một bên, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đã khuyến dụ Hiền giả A-nan là m thị giả Phật. Bạch Thế Tôn, Hiền giả A-nan, xin nơi Phật ba lời nguyện, nói rằng: ‘Những gì là ba? Nguyện không đắp y của Thế Tôn, dù cũ hay mới; nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật; nguyện không gạêp Thế Tôn phi thời. Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu Đức Thế Tôn cho phép tôi nguyện ba điều ấy, tôi mới là m thị giả Đức Thế Tôn’.”

Đức Thế Tôn nói:

“Nà y Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết trước sẽ có những lời hiềm tỵ, hoặc có vị đồng phạm hạnh sẽ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì y áo nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Nà y Đại Mục-kiền-liên, nếu Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết trước sẽ có những lời hiềm tỵ hoặc các đồng phạm hạnh, nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì y áo nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Thì đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

“Nà y Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, biết trước sẽ có những lời hiềm tỵ, hoặc có vị đồng phạm hạnh sẽ nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì đồ ăn nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Nà y Đại Mục-kiền-liên, nếu Tỳ-kheo A-nan thông minh trí tuệ, dự đoán sẽ có những lời hiềm tỵ hoặc các đồng phạm hạnh nói như vầy: ‘Tỳ-kheo A-nan vì đồ ăn nên hầu hạ Đức Thế Tôn’. Thì đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

“Nà y Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời, biết lúc nà o là thời nên đến gặp Như Lai, lúc nà o không phải là thời đến gặp Như Lai; biết lúc nà o là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai, lúc nà o không phải là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai; biết lúc nà o là thời chúng Ưu-bà -tắc và chúng Ưu-bà -di nên đến gặp Như Lai, lúc nà o không phải là thời chúng Ưu-bà -tắc và chúng Ưu-bà -di nên đến gặp Như Lai; biết lúc nà o các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học nên đến gặp Như Lai, biết lúc nà o các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nà o các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học nà o có thể bà n luận với Như Lai; biết các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học nà o không thể bà n luận với Như Lai; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ an ổn, có lợi ích, loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được an ổn, có lợi ích; thức ăn loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ được biẹân tà i thuyết pháp. Biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được biện tà i thuyết pháp; đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

“Nà y Đại Mục-kiền-liên, mặc dù Tỳ-kheo A-nan không có tha tâm trí, nhưng có thể khéo biết trước được Đức Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai khi Như Lai rời tĩnh tọa đứng dậy và o buổi xế, hôm nay Đức Như Lai sẽ là m như vậy, sẽ hiện pháp lạc trụ như vậy, nhận xét đúng lời Ngà i nói, chắc thật không thể sai khác. Đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Khi Tôn giả A-nan nói như vầy[26]: ‘Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn đã hai mươi lăm năm, nếu do đó mà khởi tâm cống cao, không thể có sự kiện như vậy’. Nếu Tôn giả A-nan nói như thế, thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, cho đến nay chưa hề gặp Đức Thế Tôn phi thời.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế, thì đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi đã hầu Đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, chưa từng một lần bị Phật khiển trách, trừ có một lỗi, lỗi đó cũng vì người khác[27].” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ[28] từ Đức Như Lai, thọ trì không quên; nếu nhân điều đó mà khởi cống cao, sự kiện như vậy không thể có.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ từ Đức Như Lai, chưa hỏi lần thứ hai, trừ có một câu, câu ấy như vậy cũng không dỠ. Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ từ Đức Như Lai, chưa hề thọ pháp từ người khác.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, tôi thọ tám văn pháp tụ từ Đức Như Lai, khởi đầu chưa có tâm nà y, rằng ‘Tôi thọ trì pháp ấy để dạy lại người khác’. Nà y chư Hiền, tôi chỉ muốn tự chế ngự, tự tịch tịnh, tự Bát-niết-bà n thôi.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều rất kỳ lạ nà y. Đó là có bốn bộ chúng đi đến chỗ tôi để nghe pháp. Nếu tôi vì thế mà khởi cống cao, điều ấy không thể có được. Tôi cũng không hề tác ý trước rằng: ‘Nếu có ai đến hỏi, ta sẽ trả lời như vầy’. Nà y chư Hiền, tôi ngay trên chỗ ngồi tùy theo nghĩa người kia hỏi mà trả lời.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằêng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều rất kỳ lạ nà y. Đó là có số đông Sa-môn, Phạm chí dị học đến hỏi tôi sự việc gì, nếu vì thế mà tôi sợ sệt, hãi hùng, lông tóc dựng đứng; không thể có sự kiện ấy. Tôi cũng không hề tác ý trước rằng: ‘Nếu có ai đến hỏi, ta sẽ trả lời như vầy’. Nà y chư Hiền, tôi ngay trên chỗ ngồi tùy theo nghĩa người kia hỏi mà trả lời.” Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Lại nữa, có một thời, Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả A-nan trú tại nước Xá-vệ, trong núi Bà -la-la. Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử hỏi rằng: Nà y Hiền giả A-nan, thầy hầu hạ Đức Phật cho đến nay là hai mươi lăm năm, thầy nhớ có lần nà o khởi dục tâm không?”

Tôn giả A-nan thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, tôi còn là hà ng hữu học chưa ly dục.”

Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:

“Nà y Hiền giả A-nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay vô học. Tôi chỉ hỏi, trong hai mươi lăm năm qua hầu hạ Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nà o khởi dục tâm không?”

Tôn giả Xá-lê Tử ba lần lặp lại câu hỏi:

“Nà y Hiền giả A-nan, hai mươi lăm năm qua thầy hầu hạ Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nà o khởi dục tâm không?”

Tôn giả A-nan cũng ba lần lặp lại câu trả lời rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, tôi còn là hà ng hữu học chưa ly dục.”

Tôn giả Xá-lê Tử lại hỏi rằng:

“Nà y Hiền giả A-nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay vô học. Tôi chỉ hỏi, trong hai mươi lăm năm qua hầu hạ Đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nà o khởi dục tâm không?”

Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói rằng:

“Nà y Hiền giả A-nan, đáp nhanh đi, đáp nhanh đi, nà y A-nan, thầy đừng xúc nhiỠu đến bậc thượng tôn trưởng lão.”

Lúc đó Tôn giả A-nan trả lời rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, hai mươi lăm năm qua, tôi đã hầu hạ Đức Phật, tôi nhớ lại chưa hề có lần nà o phát khởi dục tâm. Vì sao vậy? Vì tôi thường hướng đến Thế Tôn và các vị đồng phạm hạnh với tâm niệm hổ thẹn.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế, thì đó là pháp vị tăng hữu của Tôn giả A-nan.

Lại nữa, có một thời Đức Thế Tôn du hóa thà nh Vương xá, trú trong Nham sơn. Bấy giờ Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y A-nan, ngươi nên nằm như cách nằm của sư tử.”

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, sư tử, chúa tể của loà i thú, nằm theo cách nà o?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y A-nan, sư tử, chúa tể của loà i thú, ban ngà y đi tìm ăn, xong rồi và o hang; khi muốn ngủ, bốn chân xếp chồng lên nhau, ngay đuôi ra sau, nằm bằng hông bên phải; qua đêm đến sáng hôm sau, quay lại sau nhìn thân thể. Nếu sư tử chúa tể của loà i thú, mà thân thể không ngay thẳng, thì khi thấy rồi, nó không vui. Nếu sư tử chúa tể của loà i thú, mà thân thể được ngay ngắn khắp mọi phía, thì khi thấy rồi nó liền vui mừng. Nó từ chỗ nằm đứng dậy, ở trong hang đi ra; đi ra rồi gầm gừ; gầm gừ rồi tự ngắm thân thể; tự ngắm thân thể rồi nhìn khắp bốn hướng, xoay nhìn khắp bốn hướng rồi liền rống lên ba lần, rống ba lần rồi liền đi tìm ăn. Cách thức nằm của sư tử chúa là như vậy.”

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, cách thức nằm của sư tử, chúa tể của loà i thú, là như vậy. Còn cách nằm của Tỳ-kheo phải như thế nà o?”

Đức Thế Tôn đáp rằng:

“Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo sống nơi thôn ấp, khi đêm đã qua, và o lúc sáng sớm, khoác y ôm bát, đi và o thôn khất thực, khéo hộ trì thân thể, nhiếp thủ các căn, trụ với chánh niệm. Vị ấy từ thôn ấp khất thực xong, xếp y cất bát, rửa sạch tay chân, vắt Ni-sư-đà n lên vai đi đến chỗ rừng vắng, hoặc đến dưới bóng cây, hoặc và o trong nhà trống, hoặc kinh hà nh, hoặc tọa thiền, tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Ban ngà y hoặc kinh hà nh hoặc tọa thiền để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm rồi. Lại và o đầu hôm hoặc kinh hà nh, hoặc tọa thiền, để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Sau khi hoặc kinh hà nh, hoặc tọa thiền để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm và o lúc đầu hôm rồi, đến nữa đêm đi và o tĩnh thất để nằm, xếp là m tư Ưu-đa-la-tăng[29], trải lên giường, gấp y tăng-già -lê[30] là m gối, nằm xuống phía hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, buộc ý và o ấn tượng ánh sáng[31], chánh niệm, chánh trí, hằng hướng tâm niệm đến ý tưởng sẽ trỗi dậy. Sau đêm ấy liền nhanh chóng ngồi dậy, hoăc kinh hà nh, hoặc tọa thiền, để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Như thế là pháp nằm như sư tử của Tỳ-kheo.”

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, cách nằm như sư tử của Tỳ-kheo là như vậy.”

Tôn giả A-nan lại nói như vầy:

“Nà y chư Hiền, Đức Thế Tôn dạy tôi cách nằm giống như sư tử; từ đó trở đi chưa hề có lần nà o tôi nằm nghiêng về bên hông trái.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Lại nữa, có thời Đức Thế Tôn du hóa Câu-thi-na-kiệt[32], trụ trong rừng Sa-la của Hòa-bạt-đan lực sĩ[33]. Bấy giờ là lúc tối hậu, Thế Tôn sắp nhập Bát-niết-bà n, Ngà i bảo rằng: ‘Nà y A-nan, ngươi hãy đi đến giữa hai cây Song thọ, trải giường đầu quay về hướng Bắc, cho Như Lai. Nửa khuya đêm nay Như Lai sẽ Bát-niết-bà n.”

Tôn giả A-nan vâng lời dạy của Như Lai, liền đến giữa hai cây Song thọ trải giường nằm, đầu quay về hướng Bắc cho Đức Như Lai. Trải giường rồi trở về nơi Đức Phật, cúi đầu lỠchân Phật, đứng sang một bên, thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đã trải giường nằm, đầu quay hướng Bắc, cho Đức Như Lai, ở giữa hai cây Song thọ. Kính mong Đức Thế Tôn tự nên biết thời.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn dẫn Tôn giả A-nan đến giữa hai cây Song thọ, xếp là m tư Ưu-đà -la-tăng trải lên giường, gấp y tăng-già -lê là m gối, nằm về hướng hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau. Lúc tối hậu sắp Bát-niết-bà n, Tôn giả A-nan quạt hầu Phật, đưa tay gạt nước mắt, rồi nghĩ như vầy: ‘Trước kia, có chúng Tỳ-kheo ở các nơi muốn đến thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lỠbái, thì đều có thể tùy lúc mà được thăm viếng Đức Thế Tôn để lỠbái cúng dường. Nếu họ nghe Đức Thế Tôn đã Bát-niết-bà n thì họ sẽ không còn đến để được thăm viếng Đức Thế Tôn mà cúng dường lỠbái. Ta cũng không còn tùy lúc mà thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lỠbái’.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo rằng:

“Tỳ-kheo A-nan bây giờ ở đâu?”

Lúc ấy các Tỳ-kheo bạch rằng:

 â€œBạch Thế Tôn, Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật, đưa tay gạt nước mắt rồi nghÄ© thế nà y: ‘Trước kia, có chúng Tỳ-kheo ở các nÆ¡i muốn đến thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lá» bái, thì đều có thể tùy lúc mà được thăm viếng Đức Thế Tôn để lá» bái cúng dường. Nếu họ nghe Đức Thế Tôn đã Bát-niết-bà n thì họ sẽ không còn đến để được thăm viếng Đức Thế Tôn mà cúng dường lá» bái. Ta cÅ©ng không còn tùy lúc mà thăm viếng Đức Thế Tôn để cúng dường lá» bái’.”

Bấy giờ Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y A-nan, ngươi chớ khóc lóc, cũng chớ buồn rầu. Vì sao vậy? Nà y A-nan, ngươi hầu hạ Ta, thân hà nh từ hòa, khẩu và ý hà nh từ hòa, chưa từng có hai lòng, an lạc vô lường, vô biên, vô hạn. Nà y A-nan, nếu các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, trong đời quá khứ, có người thị giả nà o hầu hạ cũng không thể hơn ngươi được. Nà y A-nan, nếu các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, trong đời vị lai, có người thị giả nà o hầu hạ cũng không thể hơn ngươi được. Nà y A-nan, Ta, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, trong đời hiện tại, nếu có người nà o là m thị giả, cũng không thể hơn ngươi được. Vì sao vậy? A-nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời, biết lúc nà o là thời nên đến gặp Như Lai, lúc nà o không phải là thời đến gặp Như Lai; biết lúc nà o là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai, lúc nà o không phải là thời chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai; biết lúc nà o là thời chúng Ưu-bà -tắc và chúng Ưu-bà -di nên đến gặp Như Lai, lúc nà o không phải là thời chúng Ưu-bà -tắc và chúng Ưu-bà -di nên đến gặp Như Lai; biết lúc nà o các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học nên đến gặp Như Lai, biết lúc nà o các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nà o các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học không nên đến gặp Như Lai; biết các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học nà o có thể bà n luận với Như Lai; biết các hà ng Sa-môn, Phạm chí dị học nà o không thể bà n luận với Như Lai; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ an ổn, có lợi ích loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được an ổn, có lợi ích; thức ăn loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ được biện tà i thuyết pháp. Biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nà o Đức Như Lai dùng rồi sẽ không được biẹân tà i thuyết pháp.

“Lại nữa, nà y A-nan, ngươi tuy không có tha tâm trí, nhưng có thể khéo biết trước được Đức Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai khi Như Lai rời tĩnh tọa đứng dậy và o buổi xế, hôm nay Đức Như Lai sẽ là m như vậy, sẽ hiện pháp lạc trụ như vậy, nhận xét đúng lời Ngà i nói, chắc thật không thể sai khác.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn là m cho A-nan vui vẻ, bảo với các thầy Tỳ-kheo ấy rằng:

“Vị Chuyển luân Thánh vương có bốn pháp vị tằng hữu. Những gì là bốn? Đó là chúng Sát-lợi đến yết kiến Chuyển luân vương, nếu lúc ấy im lặng, họ thấy vậy liền vui vẻ, nếu lúc ấy có nói gì, họ nghe rồi liền vui vẻ. Tỳ-kheo A-nan cũng giống như vậy, nghĩa là có bốn pháp vị tằng hữu. Những gì là bốn? Đó là chúng Tỳ-kheo khi đến gặp A-nan, nếu lúc ấy im lặng, thấy vậy liền vui vẻ, nếu lúc ấy có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ. Chúng Tỳ-kheo-ni, chúng Ưu-bà -tắc, chúng Ưu-bà -di, nếu gặp A-nan, gặp lúc im lặng, thấy vậy liền hoan hỷ, nếu lúc ấy có nói gì, nghe rồi liền hoan hỷ.

“Lại nữa, A-nan thuyết pháp cho đại chúng, có bốn pháp vị tằng hữu. Những gì là bốn? Tỳ-kheo thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo bằng chí tâm, không phải không chí tâm. Chúng Tỳ-kheo kia cũng nghĩ như vầy: ‘Mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp, không dừng lại nửa chừng. Chúng Tỳ-kheo kia nghe Tôn giả A-nan thuyết pháp, hoà n toà n không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên ngồi im lặng’. Tỳ kheo A-nan thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo-ni, chúng Ưu-bà -tắc, chúng Ưu-bà -di, bằng chí tâm, không phải không chí tâm. Chúng Ưu-bà -di ấy cũng nghĩ như vầy: ‘Mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp, không dừng lại nửa chừng. Chúng Ưu-bà -di kia nghe Tôn giả A-nan thuyết pháp, hoà n toà n không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên ngồi im lặng’.”[34]

Lại nữa, một thời sau khi Thế Tôn Bát-niết-bà n không bao lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại Kim cang[35], trú ở thôn Kim cang. Bấy giờ Tôn giả A-nan thuyết pháp cho vô lượng trăm ngà n đại chúng vây quanh trước sau. Bấy giờ, Tôn giả Kim Cang Tử[36] cũng đang ở trong đại chúng ấy. Tôn giả Kim Cang Tử trong tâm suy nghĩ như vầy: ‘Tôn giả A-nan nà y vẫn còn là bậc hữu học chưa ly dục sao? Ta nên như vậy, và bằng định ấy mà quan sát tâm của Tôn giả A-nan’. Thế rồi Tôn giả Kim Cang Tử nhập định, và bằng định như vậy mà quan sát tâm của Tôn giả A-nan. Tôn giả Kim Cang Tử biết Tôn giả A-nan vẫn còn là hữu học nên chưa ly dục. Bấy giờ Tôn giả ra khỏi tam muội, hướng về Tôn giả A-nan nói bà i tụng rằng:

Núi rừng vắng tư duy,

Khiến tâm trụ Niết-bà n,

Cù-đà m Thiền không loạn,

Sẽ sớm chứng tịch tĩnh.

Bấy giờ Tôn giả A-nan vâng theo lời của Tôn giả Kim Cang Tử, rời bỏ chỗ đông mà sống một mình, tinh tấn, không tán loạn. Tôn giả rời bỏ chỗ đông, sống một mình, tinh tấn, không tán loạn, để đạt mục đích vì đó là một thiện nam tử đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; chỉ vì mục đích là thà nh tựu phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời hiện tại, tự tri tự giác, tự chứùng nghiệm, thà nh tựu và an trụ, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã đứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã xong, không còn tái sanh nữa’.

Tôn giả A-nan biết pháp rồi, cho đến, chứng đắc A-la-hán[37]. Tôn giả A-nan nói vầy:

“Nà y chư Hiền, tôi ngồi trên giường, ngả đầu chưa đụng gối, liền đoạn tất cả lậu, chứng tâm giải thoát.” Nếu Tôn giả A-nan nói như thế; thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Tôn giả A-nan lại nói:

“Nà y chư Hiền, tôi sẽ ngồi kiết già để Bát-niết-bà n.” Tôn giả A-nan liền ngồi kiết già mà Bát-niết-bà n.

Nếu Tôn giả A-nan ngồi kiết già mà Bát-niết-bà n; thì đó là pháp vị tằng hữu của Tỳ-kheo A-nan.

Đức Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Không có Pāli tương đương. Tham chiếu, Thag. 1018-2026.
[02] Câu-lân-nhã 拘 鄰 若 (Añña-Koṇḍañña).
[03] A-nhiếp-bối 阿 攝 貝 (Assaji).
[04] Thích-ca Vương Bạt-đề 釋 迦 王 跋 提 (Bhaddiya), vua họ Thích-ca.
[05] Ma-ha-nam Câu-lệ 摩 訶 男 拘 隸 (Mahānāma Kolita).
[06] Hòa-phá 惒 ç ´ (Vappa).
[07] Da-xá 耶 舍 (Yasa).
[08] Bân-nậu é‚ è€¨ (Puṇṇa).
[09] Duy-ma-la ç¶­ 摩 ç¾ (Vimala).
[10] Già -hòa-ba-đề ä¼½ï€ æƒ’ ï€ æ³¢ 提 (Gavampati).
[11] Tu-đà -da é ˆ 陀 耶.
[12] Xá-lê Tử 舍 梨 子 (Sāriputta).
[13] A-na-luật-đà 阿 那 律 陀 (Anurudha).
[14] Nan-đề 難 提 (Nandiya).
[15] Kim-tì-la 金 毘 ç¾ (Kimbila).
[16] Lệ-ba-đá 隸 婆 哆 (Revata).
[17] Đại Mục-kiền-liên 大 目 犍  連  (Mahā-Moggallāna).
[18] Đại Ca-diếp 大 迦 葉 (Mahā-Kassapa).
[19] Đại Câu-hi-la 大 拘 絺 ç¾ (Mahā-Koá¹­á¹­hita).
[20] Đại Châu-na 大 周 那 (Mahā-Cunda).
[21] Đại Ca-chiên-diên 大 迦 旃 延 (Mahā-Kaccāyana).
[22] Bân-nậu-da-nậu-tả trưởng lão é‚ è€¨ 耶 耨 寫 長 老.
[23] Da-xá Hà nh Trù trưởng lão 耶 舍 行 籌 長 老.
[24] Suốt trong khi hai mươi năm đầu, kể từ khi thà nh đạo Đức Phật không có thị giả riêng. Vị nà y hoăc vị kia thay nhau thị giả Ngà i. Nhưng những vị nà y không xứng ý Ngà i, đôi khi không vâng lời Ngà i, có lúc ôm y bát của Ngà i đi mất.
[25] Hán: như kỳ tượng định 如 å ¶ 像 定; Pāli: tathā-rÅ«paṃ samādhiṃ samāpajji, nhập và o tam-muội có hình thức như thế.
[26] Lưu ý trong bản Hán, văn khí thay đổi từ lời ghi nhận của Phật chuyển sang lối thuật sự.
[27] Một lần Thế Tôn bệnh, A-nan nấu cháo nhưng phạm phải một điều luật do đó bị Phật khiển trách. Luật Thập Tụng, Đại 23, tr.187a.
[28] Pháp tụ, hay Pháp uẩn, thể tà i hay ý nghĩa được đề cập trong giáo pháp của Phật. Pāli: dhamakkhandha.
[29] Ưu-đa-la-tăng 優 多 ç¾ åƒ§, hay Uất-đa-la-tăng; Pāli: uttarāsaá¹ ga, dịch là thượng y, áo khoác phần trên thân thể. Thường thì nói là “gấp tư tăng-già -lê”; Pāli: catugguṇam saá¹ ghāṭiṃ paññāpetvā.
[30] Tăng-già -lê 僧 笳 梨; Pāli: saṠghāṭi, áo choà ng, áo khoác hay trùm bên ngoà i.
[31] Minh tưởng, hay quang minh tưởng å ‰ 明 想, suy tưởng về ánh sáng; Pāli: āloka-saññā.
[32] Câu-thi-na-kiệt 拘 尸 那 竭. Pāli: Kusināra, thị trấn nơi Phật sẽ nhập Niết-bà n.
[33] Hòa-bạt-đan lá»±c sÄ© Sa-la lâm 惒 跋 單 力 士 裟 ç¾ æž—; No.1(2) Trường, kinh số 2 “Du Hà nh”: Bản sanh xứ Mạt-la song thọ gian. Pāli: rừng Upavattana, rừng cây sāla, ở bên bờ sông Hiraññavati, cá»§a dòng họ Malla ở Kusinarā. Đức Thích Tôn sẽ nhập Niết-bà n trong rừng nà y.
[34] Nguyên đoạn dà i nà y, xem No.16, Đại 1, tr.137, 143 - 6 của bản Hán tương đương; No.1(2) Trường, kinh “Du Hà nh”.
[35] Kim cang 金 剛, Pāli có lẽ là Vajjī (tên dòng họ cũng là tên nước; Hán: Bạt-kỳ) được đọc là Vajira (kim cang).
[36] Kim Cang Tử, Pāli, có lẽ chính xác là Vajjiputta (thay vì Vajiraputta), sự kiện được đề cập trong Thag. kệ 119.
[37] Trong bản: A-la-ha 阿 ç¾ è¨¶.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]