Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
192. Kinh Ca-Lâu-Ô-Ðà -Di
193. Kinh Mâu-Lê-Phá-Quần-Na
194. Kinh Bạt-Ðá-Hòa-Lợi
195. Kinh A-Thấp-Bối
196. Kinh Châu-Na
197. Kinh Ưu-Bà -Ly
198. Kinh Điều Ngự Ðịa
199. Kinh Si Tuệ Ðịa
200. Kinh A-LÊ-TRA
201. Kinh Trà -Ðế
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

16. PHẨM ÐẠI
(Phần Sau)

195. KINH A-THẤP-BỐI[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại nước Ca-thi [02] cùng với đại chúng Tỳ-kheo.

Trong lúc dừng chân tại một nÆ¡i  [03], Đức Phật nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Ta một ngà y chỉ ăn một lần [04] Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi vô cầu, không bệnh không đau, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các ngươi cũng nên một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không bệnh không đau, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc.”

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn vì chúng Tỳ-kheo mà thi thiết giới, một ngà y chỉ ăn một lần. Các Tỳ-kheo đều phụng trì theo học giới nà y và các pháp vi diệu trong cảnh giới của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn lần hồi đi đến Ca-la-lại [05], trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa ở phía Bắc thôn Ca-la-lại.

Lúc bấy giờ tại Ca-la-lại, có hai vị Tỳ-kheo, một vị tên là A-thấp-bối, một vị tên là Phất-na-bà -tu[06]. Hai vị nà y là cựu chủ đất, chủ chùa, tông chủ. Hai vị nà y sáng cũng ăn, chiều cũng ăn, tối cũng ăn, quá ngọ cũng ăn. Vì sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ cũng ăn, mà vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Một số đông Tỳ-kheo nghe vậy, liền đến chỗ hai vị Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu mà nói hai vị rằng:

“Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, Đức Thế Tôn du hóa tại nước Ca-thi cùng với chúng đại Tỳ-kheo, trong lúc dừng chân tại một nơi, bảo các Tỳ-kheo rằng, ‘Ta một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các ngươi cũng nên một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có tật bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc.’ Bấy giờ Đức Thế Tôn thi thiết giới nà y cho chúng Tỳ-kheo, đó là một ngà y chỉ ăn một lần. Các Tỳ-kheo đều phụng trì theo học giới nà y cùng các pháp vi diệu trong cảnh giới của Thế Tôn. Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, các thầy cũng nên ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các thầy chớ trái nghịch với Đức Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.”

A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu nghe vậy liền nói:

“Nà y chư Hiền, chúng tôi sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ ăn. Vì sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ ăn, xong rồi, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Chúng tôi vì duyên do gì mà bỏ hiện tại để phải chờ đợi về sau.”

Hai vị ấy nói như thế ba lần. Chúng Tỳ-kheo không thể là m cho A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu trừ bỏ ác tà kiến, liền từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi, đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lỠdưới chân Ngà i, rồi ngồi sang một bên thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, ở Ca-la-lại nà y có hai vị Tỳ-kheo, một vị tên là A-thấp-bối, một vị tên là Phất-na-bà -tu. Hai vị nà y là cựu chủ đất, chủ chùa, tông chủ. Hai vị nà y sáng cũng ăn, chiều cũng ăn, tối cũng ăn, quá ngọ cũng ăn. Vì sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ cũng ăn, mà vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe như vậy liền đến chỗ cho A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu mà nói thế nà y, ‘Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, Đức Thế Tôn du hóa tại nước Ca-thi cùng với chúng đại Tỳ-kheo, trong lúc dừng chân tại một nơi, bảo các Tỳ-kheo rằng, ‘Ta một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các ngươi cũng nên một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có tật bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc.’ Bấy giờ Đức Thế Tôn thi thiết giới nà y cho chúng Tỳ-kheo, đó là một ngà y chỉ ăn một lần. Các Tỳ-kheo đều phụng trì theo học giới nà y cùng các pháp vi diệu trong cảnh giới của Thế Tôn. Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, các thầy cũng nên ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các thầy chớ trái nghịch với Đức Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.’

“A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu nghe vậy liền trả lời chúng con như vầy, ‘Nà y chư Hiền, chúng tôi sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ ăn. Vì sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ ăn, xong rồi, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Chúng tôi vì duyên do gì mà bỏ hiện tại để phải chờ đợi về sau?’ Như vậy ba lần.

“Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con không thể là m cho A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu trừ bỏ ác tà kiến nà y, nên chúng con từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi.”

Đức Thế Tôn nghe xong liền bảo một vị Tỳ-kheo:

“Ngươi đến chỗ A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu mà nói như thế nà y: ‘Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, Đức Thế Tôn gọi các thầy.’”

Vị Tỳ-kheo nghe rồi liền đáp:

“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”

Rồi từ chỗ ngồi đứng dậy cúi đầu lỠdưới chân Phật, nhiỠu quanh ba vòng, rồi ra đi. Tỳ-kheo ấy đến chỗ hai vị Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu nói rằng:

“Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, Thế Tôn gọi hai thầy đó.”

A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu nghe vậy liền đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lỠdưới chân Ngà i, rồi ngồi sang một bên.

Đức Thế Tôn hỏi:

“Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, chúng Tỳ-kheo thật có nói với các ngươi như vầy: ‘Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, Đức Thế Tôn du hóa tại nước Ca-thi cùng với chúng Đại Tỳ-kheo, trong lúc dừng chân tại một nơi, bảo các Tỳ-kheo rằng, ‘Ta một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các ngươi cũng nên một ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có tật bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc.’ Bấy giờ Đức Thế Tôn thi thiết giới nà y cho chúng Tỳ-kheo, đó là một ngà y chỉ ăn một lần. Các Tỳ-kheo đều phụng trì theo học giới nà y cùng các pháp vi diệu trong cảnh giới của Thế Tôn. Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, các thầy cũng nên ngà y chỉ ăn một lần. Một ngà y chỉ ăn một lần xong, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Các thầy chớ trái nghịch với Đức Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.’

“Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, các ngươi nghe rồi lại nói với chúng Tỳ-kheo rằng, ‘Nà y chư Hiền, chúng tôi sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ ăn. Vì sáng ăn, chiều ăn, tối ăn, quá ngọ ăn, xong rồi, vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhà ng, khí lực dồi dà o, an ổn khoái lạc. Chúng tôi vì duyên do gì mà bỏ hiện tại để phải chờ đợi về sau?’ Hai ngươi nói như vậy ba lần. Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, rồi chúng Tỳ-kheo không thể là m cho hai ngươi trừ bỏ ác tà kiến, nên từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi, thật có vậy không?”

A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, thật có như vậy.”

Thế Tôn dạy nói:

“Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, các ngươi có hiểu biết pháp ta nói như vầy: ”Nếu ai có cảm thọ về cảm thọ lạc, và khi người ấy cảm thọ về cảm thọ lạc rồi, thì các pháp ác bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện lại giảm? Nếu ai cảm thọ về cảm thọ khổ, và khi cảm thọ về cảm thọ khổ rồi, pháp ác bất thiện giảm và các thiện pháp sanh trưởng?”

A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, thưa rằng:

“Quả vậy, bạch Thế Tôn. Chúng con biết Đức Thế Tôn nói pháp như vậy, ‘Nếu ai có cảm thọ về cảm thọ lạc, và khi đã cảm thọ về cảm thọ lạc rồi, pháp ác bất thiện tăng trưởng và thiện pháp tổn giảm. Nếu ai cảm thọ về cảm thọ khổ, và khi đã cảm thọ về cảm thọ khổ rồi thì pháp ác bất thiện giảm và pháp thiện tăng trưởng.”

Đức Thế Tôn quở trách A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu rằng:

“Các ngươi là người ngu. Do đâu mà các ngươi biết ta nói pháp như vậy? Các ngươi là người ngu. Từ miệng ai mà các ngươi biết Ta nói pháp như vậy? Các ngươi là người ngu. Ta không nói một chiều, mà các ngươi lại thọ trì một chiều. Các ngươi là người ngu. Khi nà o được các Tỳ-kheo hỏi, các ngươi phải đáp đúng như pháp rằng, ‘Chúng tôi chưa biết, sẽ hỏi lại các Tỳ-kheo.’”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Các ngươi cũng có hiểu biết pháp ta nói như vậy, ‘Nếu ai cảm thọ về cảm thọ lạc, và khi đã cảm thọ về cảm thọ lạc rồi, pháp bất thiện tăng trưởng và pháp thiện tổn giảm. Nếu ai có cảm thọ khổ, và khi đã cảm thọ về cảm thọ khổ rồi, pháp bất thiện tổn giảm và pháp thiện tăng trưởng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”

Đức Thế Tôn lại hỏi:

“Các ngươi biết pháp ta nói như thế nà o?”

Chúng Tỳ-kheo đáp:

“Bạch Thế Tôn, chúng con hiểu biết pháp Đức Thế Tôn nói như vầy, ‘Hoặc có cảm thọ về cảm thọ lạc thì ác pháp, bất thiện pháp tăng trưởng, pháp thiện lại giảm. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ lạc, mà pháp ác bất thiện lại giảm, pháp thiện lại tăng trưởng. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ khổ, nên pháp ác bất thiện lại tăng trưởng, pháp thiện lại tổn giảm. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ khổ nên pháp ác bất thiện tổn giảm và pháp thiện tăng trưởng.’ Bạch Thế Tôn, chúng con hiểu biết Đức Thế Tôn nói pháp như vậy.”

Đức Thế Tôn nghe nói thế, tán thán các Tỳ-kheo rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! Nếu các ngươi biết như vầy, ‘Hoặc có cảm thọ về cảm thọ lạc, nên pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ lạc, nên pháp ác, bất thiện tổn giảm, thiện pháp tăng trưởng. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ khổ, nên pháp ác bất thiện tăng trưởng, thiện pháp bị tổn giảm. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ khổ nên pháp ác, bất thiện tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng.’ Vì sao? Ta cũng nói như vầy, ‘Hoặc có cảm thọ về cảm thọ lạc, nên pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ lạc, nên pháp ác bất thiện tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ khổ nên pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm. Hoặc có cảm thọ về cảm thọ khổ nên pháp ác, bất thiện tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng.’

“Nếu Ta không biết đúng như thật, không thấy, không hiểu rõ, không chứng đắc, không giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ lạc mà pháp ác bất thiện giảm, pháp thiện tăng trưởng, Ta không nên nói đoạn trừ cảm thọ lạc. Nếu Ta không biết như thật, không thấy, không hiểu rõ, không chứng đắc, không chứng ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ khổ mà pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện lại giảm, Ta không nên nói tu tập cảm thọ lạc.

“Nếu Ta không biết như thật, không thấy, không hiểu rõ, không chứng đắc, không giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ khổ mà pháp bất thiện lại tăng, thiện pháp tăng giảm, Ta không nên nói đoạn trừ cảm thọ khổ. Nếu Ta không biết như thật, không thấy, không hiểu rõ, không chứng đắc, không giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ khổ mà pháp bất thiện lại giảm, thiện pháp tăng tăng, Ta không nên nói tu cảm thọ khổ.

“Nếu Ta biết đúng như thật, thấy rõ, hiểu rõ, chứng đắc, giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ lạc, mà pháp ác bất thiện lại tăng, pháp thiện lại giảm, cho nên ta nói đoạn trừ cảm thọ lạc. Nếu Ta biết đúng như thật, thấy rõ, hiểu rõ, chứng đắc, giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ lạc mà pháp ác bất thiện lại giảm, pháp thiện lại tăng trưởng, cho nên Ta nói tu cảm thọ lạc.

“Nếu Ta biết đúng như thật, thấy rõ, hiểu rõ, chứng đắc, giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ khổ, mà pháp ác bất thiện lại tăng, pháp thiện lại giảm, cho nên Ta nói đoạn trừ cảm thọ khổ. Nếu Ta biết đúng như thật, thấy rõ, hiểu rõ, chứng đắc, giác ngộ cứu cánh; thì hoặc có cảm thọ khổ mà pháp ác bất thiện lại giảm, pháp thiện lại tăng trưởng, cho nên Ta nói tu cảm thọ khổ.

“Vì sao? Ta không nói tu tập tất cả thân lạc, cũng không nói không nên tu tập tất cả thân lạc. Ta không nói tu tập tất cả thân khổ, cũng không nói không nên tu tập tất cả thân khổ. Ta không nói tu tập tất cả tâm lạc, cũng không nói không nên tu tập tất cả về tâm lạc. Ta không nói tu tập tất cả tâm khổ, cũng không nói không nên tu tập tất cả tâm khổ.

“Thế nà o là thân lạc mà ta nói là không tu? Nếu tu thân lạc mà pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện lại giảm, thì thân lạc như vậy ta nói không tu. Thế nà o là thân lạc mà Ta nói tu? Nếu tu thân lạc mà pháp ác bất thiện giảm, thiện pháp tăng trưởng, thân lạc như vậy ta nói tu. Thế nà o là thân khổ mà ta nói không tu? Nếu tu thân khổ mà pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện lại giảm, thân khổ như vậy, ta nói không tu. Thế nà o là thân khổ mà ta nói tu? Nếu tu thân khổ mà pháp ác bất thiện lại giảm, pháp thiện tăng trưởng. Thân khổ như vậy, ta nói tu.

“Thế nà o là tâm lạc ta nói không tu? Nếu tu tâm lạc mà các pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện lại giảm. Tâm lạc như vậy, ta nói không tu. Thế nà o là tâm lạc ta nói phải tu? Nếu tu tâm lạc mà pháp ác bất thiện lại giảm, pháp thiện tăng trưởng. Tâm lạc như vậy ta nói tu. Thế nà o là tâm khổ mà ta nói không tu? Nếu tu tâm khổ mà các pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện lại giảm. Tâm khổ như vậy ta nói không tu. Thế nà o là tâm khổ mà ta nói tu? Nếu tu tâm khổ mà pháp ác bất thiện lại giảm, pháp thiện tăng trưởng, tâm khổ như vậy, ta nói tu.

“Người kia đối với pháp nên tu mà biết đúng như thật, đối với pháp không nên tu cũng biết đúng như thật; và khi đã biết đúng như thật về pháp nên tu và pháp không nên tu, người ấy liền không tu pháp không nên tu, và tu pháp nên tu. Sau khi đã không tu pháp không nên tu, và tu pháp nên tu rồi, pháp ác bất thiện liền giảm, pháp thiện tăng trưởng.

“Ta không nói tất cả Tỳ-kheo đều thực hà nh sự không phóng dật, cũng không nói tất cả các Tỳ-kheo đều không thực hà nh sự không phóng dật.

“Thế nà o là Tỳ-kheo không thá»±c hà nh sá»± không phóng dật? Nếu có vị Tỳ-kheo nà o chứng câu giải thoát [07] Thế nà o là Tỳ-kheo có câu giải thoát? Nếu có Tỳ-kheo đối với tám giải thoát, thân đã chứng  [08], thà nh tá»±u an trụ, do tuệ kiến [09]. mà các lậu đã diệt tận, đã biết rõ. Như vậy là Tỳ-kheo có câu giải thoát. Vị Tỳ-kheo nà y ta nói thá»±c hà nh sá»± không phóng dật. Nếu Hiền giả nà y vốn có phóng dật thì điều ấy không bao giờ có. Vì vậy, Ta nói vị Tỳ-kheo nà y không thá»±c hà nh sá»± không phóng dật.

“Hoặc có Tỳ-kheo không phải câu giải thoát mà có tuệ giải thoát. Thế nà o là Tỳ-kheo có tuệ giải thoát? Nếu có Tỳ-kheo đối với tám giải thoát mà thân không chứng, thà nh tựu an trú, nhưng do tuệ kiến mà các lậu đã diệt tận, đã biết rõ. Như vậy là Tỳ-kheo có tuệ giải thoát. Vị Tỳ-kheo nà y Ta nói không thà nh tựu sự không phóng dật. Vì sao? Vì Hiền giả nà y vốn đã thà nh tựu sự không phóng dật. Nếu Hiền giả nà y vốn có phóng dật thì điều ấy không bao giờ có. Vì vậy Ta nói vị Tỳ-kheo nà y không thà nh tựu sự không phóng dật.

“Hai hạng Tỳ-kheo nà y Ta nói không thà nh tá»±u sá»± không phóng dật. Nà y các Tỳ-kheo, tại sao Ta nói thà nh tá»±u sá»± không phóng dật? Hoặc có Tỳ-kheo không có câu giải thoát, cÅ©ng không có tuệ giải thoát mà có thân chứng. Thế nà o là Tỳ-kheo có thân chứng? Nếu có Tỳ-kheo đối với tám giải thoát, thân đã chứng, thà nh tá»±u an trụ, không do tuệ kiến mà các lậu đã diệt tận, đã biết rõ  [10] Như vậy là Tỳ-kheo có thân chứng. Tỳ-kheo nà y Ta nói thá»±c hà nh sá»± không phóng dật. Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật. Vì có quả gì khiến Ta nói Tỳ-kheo ấy hà nh không phóng dật? Ở đây, vị Tỳ-kheo nà y tìm cách chế ngá»± các căn  [11], học tập theo thiện tri thức, sống tùy thuận an trú  [12] , các lậu đã diệt tận, đắc được vô lậu, giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong hiện tại, tá»± tri, tá»± giác, tá»± tác chứng thà nh tá»±u và an trú, biết như thật rằng ‘Sá»± sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa.’ Vì Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y không phóng dật, có được quả như thế, cho nên Ta nói vị Tỳ-kheo nà y thá»±c hà nh sá»± không phóng dật.

“Hoặc có vị Tỳ-kheo không phải câu giải thoát, không phải tuệ giải thoát, cũng không phải thân chứng, nhưng lại kiến đáo[13] Thế nà o là Tỳ-kheo có kiến đáo? Nếu Tỳ-kheo nà o có lòng tin dứt khoát đối với Phật, Pháp, Tăng, tùy thuộc pháp được nghe, rồi do tuệ mà có tăng thượng quán và tăng thượng nhẫn [14] Như thế, vị Tỳ-kheo nà y có kiến đáo. Vị Tỳ-kheo nà y Ta nói không phóng dật. Vì có quả gì khiến Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật? nếu có Tỳ-kheo nà o tìm cách chế ngự các căn, học tập các vị thiện tri thức, sống tùy thuận an trú, các lậu đã tận diệt, được vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong hiện tại, tự tri tự giác, tự chứng, thà nh tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa.’ Vì Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật có quả như vậy. Cho nên Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật.

“Nếu Tỳ-kheo nà o không phải câu giải thoát, không phải tuệ giải thoát, cũng không phải thân chứng, cũng không phải kiến đáo, nhưng lại có tín giải thoát. Thế nà o là Tỳ-kheo có tín giải thoát? Nếu Tỳ-kheo nà o có lòng tin dứt khoát đối với Phật, Pháp, Tăng, tùy theo pháp được nghe, rồi do tuệ mà có quán và nhẫn nhận, không bằng kiến đáo [15] Như vậy là vị Tỳ-kheo nà y có tín giải thoát. Vị Tỳ-kheo nà y Ta nói hà nh không phóng dật. Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật, vì có quả gì, khiến Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật? nếu có vị Tỳ-kheo nà o tìm cách chế ngự được các căn, học tập theo các vị thiện tri thức, sống tùy thuận an trú, các lậu đã diệt tận, được vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong hiện tại, tự tri, tự giác, tự tác chứng thà nh tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa.’ Vì Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật, vì có quả như vậy, cho nên Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật.

“Nếu có vị Tỳ-kheo nà o không có câu giải thoát, không có tuệ giải thoát, không có thân chứng, không có kiến đáo cũng không có tín giải thoát, nhưng có pháp hà nh [16]. Thế nà o là Tỳ-kheo có pháp hà nh? Nếu Tỳ-kheo nà o có lòng tin tuyệt đối với Phật, Pháp, Tăng, tùy theo pháp được nghe, rồi do tuệ mà có tăng thượng quán, tăng thượng nhẫn [17]. Như vậy, Tỳ-kheo nà y có pháp hà nh. Vị Tỳ-kheo nà y Ta nói hà nh không phóng dật. Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật, vì có quả gì khiến Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật? Nếu có Tỳ-kheo nà o tìm cách chế ngự các căn, học tập theo thiện tri thức, sống tùy thuận an trú, đối với trong hai quả chắc chắn sẽ đạt được một. Hoặc ngay trong hiện tại được cứu cánh trí, nếu còn hữu dư được A-na-hà m. Vì Ta thấy vị nà y hà nh không phóng dật, có quả như vậy. Cho nên Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật.

“Nếu có Tỳ-kheo nà o không có câu giải thoát, không có tuệ giải thoát, không có thân chứng, không có kiến đáo, không có tín giải thoát, không có pháp hà nh, nhưng lại có tín hà nh. Thế nà o là Tỳ-kheo có tín hà nh? Nếu vị Tỳ-kheo nà o có lòng tin dứt khoát đối với Phật, Pháp, Tăng, tùy theo pháp được nghe, rồi do tuệ mà quán và nhẫn, không như pháp hà nh. Như vậy, Tỳ-kheo nà y có tín hà nh. Vị Tỳ-kheo nà y Ta nói hà nh không phóng dật. Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật, vì quả gì khiến Ta nói vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật? Nếu có vị Tỳ-kheo nà o tìm cách chế ngự các căn, học tập theo thiện tri thức, sống tùy thuận an trú, đối với trong hai quả chắc chắn sẽ đạt được một, hoặc ngay trong hiện tại được cứu cánh trí, nếu còn hữu dư, đắc A-na-hà m. Vì Ta thấy vị Tỳ-kheo nà y hà nh không phóng dật. Các vị Tỳ-kheo nà y Ta nói hà nh không phóng dật.

“Ta không nói tất cả Tỳ-kheo được cứu cánh trí, cũng không nói tất cả các Tỳ-kheo ngay từ đầu được cứu cánh trí, song dần dần học tập và thực hà nh, nhận lãnh giáo huấn, chịu khiển trách, sau đó các Tỳ-kheo mới được cứu cánh trí, cứu cánh trí mà các Tỳ-kheo chứng đắc nà y.

“Thế nà o là dần dần học tập và thực hà nh, nhận lãnh giáo huấn và khiển trách, sau đó các Tỳ-kheo mới được cứu cánh trí, cứu cánh trí mà các Tỳ-kheo chứng đắc nà y? Nếu có tín giả nà o liền tìm đến. Tìm đến rồi liền phụng sự; phụng sự rồi liền nhất tâm nghe pháp; nhất tâm nghe pháp rồi liền thọ trì pháp; thọ trì pháp rồi liền tư duy về pháp; tư duy về pháp rồi liền chấp nhận [18] ; chấp nhận rồi liền quán sát về pháp. Đệ tử hiền thánh quán sát về pháp rồi thì tự thân tác chứng chân đế, và do tuệ có tăng thượng quán[19]. Vị ấy liền nghĩ, ‘Chân đế nà y, tự thân Ta chưa từng tác chứng cũng không phải được tăng thượng quán bằng tuệ. Ta hãy tự thân tác chứng chân đế nà y, và do tuệ mà tăng thượng quán. Như vậy dần dần học tập và thực hà nh, nhận lãnh giáo huấn và khiển trách, rồi sau các Tỳ-kheo mới đắc cứu cánh trí, cứu cánh trí mà các Tỳ-kheo chứng đắc nà y.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói rằng:

“Nà y A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu, có pháp được gọi là Tứ cú, Ta nói cho các ngươi nghe, các ngươi có muốn biết không?”

A-thấp-bối và Phất-na-bà -tu thưa:

“Bạch Thế Tôn! Chúng con là hạng người nà o và do đâu hiểu được pháp?”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bèn nghĩ rằng:

“Hạng người ngu si nà y vượt quá sự chỉ dạy của Ta. Đối với pháp luật chân chính nà y, còn cách biệt quá lâu dà i. Nếu có vị thầy pháp luật nà o tham trước việc ăn uống, không xả ly việc ăn uống mà đệ tử của vị ấy còn không nên dục tốc, phóng dật. Huống chi Ta lại là người không tham trước việc ăn uống, viỠn ly sự ăn uống, do đó tín đệ tử của Ta nên nói, ‘Đức Thế Tôn là bậc thầy của ta. Ta là đệ tử của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói pháp cho ta nghe. Đức Thiện Thệ nói pháp cho ta nghe. Mong cho ta được thiện lợi, hữu ích, được an ổn khoái lạc lâu dà i. Tín đệ tử kia đối với cảnh giới của Thế Tôn có nhiều điều phải là m, đối với cảnh giới của Thế Tôn được nhiều lợi ích. Đối với cảnh giới của Thế Tôn có nhiều điều phải hà nh, thể nhập trong cảnh giới của Thế Tôn, an chỉ trong cảnh giới của Thế Tôn. Nếu trú ở phương Đông, chắc chắn sẽ được an lạc, không có chỗ khổ hoạn. Nếu trụ ở phương Nam, phương Tây và phương Bắc, chắc chắn sẽ được an lạc, không có các khổ hoạn.’ Nếu tín đệ tử nà o đối với cảnh giới của Thế Tôn mà có nhiều điều phải là m, đối với cảnh giới của Thế Tôn, được nhiều điều lợi ích, đối với cảnh giới của Thế Tôn có nhiều điều phải hà nh, thể nhập cảnh giới của Thế Tôn, an chỉ cảnh giới của Thế Tôn. Tín đệ tử ấy đối với pháp thiện đã trụ, Ta không còn nói, huống chi nói đến pháp suy thoái, nhưng ngà y đêm vẫn tăng trưởng pháp thiện, chớ không suy thoái. Nếu Tín đệ tử nà o đối với cảnh giới của Đức Thế Tôn có nhiều điều phải là m, đối với cảnh giới của Thế Tôn được nhiều lợi ích, đối với cảnh giới của Thế Tôn có nhiều điều phải hà nh, thể nhập và o cảnh giới của Thế Tôn, an chỉ trong cảnh giới của Thế Tôn, trong hai quả, chắc chắn sẽ đạt được một, hoặc hiện tại được cứu cánh trí, nếu hữu dư, chứng được A-na-hà m.”

Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, M.70. Kīṭāgiri-suttaṃ.
[02] Ca thi quốc 迦 尸 國. Pāli: Kāsi, một trong mười sáu đại quốc. Thủ phủ là Bāraṇāsi. Trong thời Đức Phật, Kāsi được sát nhập với Kosala của vua Pasenadi. Kāsi là một trung tâm thương mãi và đông dân.
[03] Du tại nhất xứ: không xác định địa điểm.
[04] Nhật nhất thực 日 一 食. Pāli: ekabhattika; nhưng, bản Pāi tương đương: aññatreva rattibhojianā bhuñjāmi. Ta từ bỏ ăn đêm.
[05] Ca-la-lại 迦 ç¾ è³´. Pāli: Kīṭagiri.
[06] A-thấp-bối 阿 濕 貝, Pāli: Assaji. (trùng tên với một người trong năm đệ tử đầu tiên của Phật). Phất-na-bà -tu 弗 那 婆 修; Pāli: Punabhasuka. Hai vị nà y dẫn đầu một nhóm Tỳ-kheo bất tuân ở tại Kīṭāgiri, đưa đến việc thiết lập một điều khoản quan trọng trong Giới bổn Tỳ-kheo. (Xem Tứ Phần Luật 5, No.2026, Đại 22, tr. 596c-599a).
[07] Câu giải thoát tức Câu phần giải thoát 俱 分 解 脫. Gọi là Cu phần vì có hai phần chướng, phiền não phần chướng và giải thoát phần chướng (xem Tập Dị Môn Luận 17, Đại 26 tr.436a). Pāli: Ubhatobhāgavimutta.
[08] Thân xúc 身 觸; Tập Dị (đd.,nt.): Thân dĩ chứng 身 已 證. Pāli: santā vimokhā atkkama rūpe āruppā te kāyena phassitvā viharati, tịch tịnh giải thoát, vượt qua các sắc và vô sắc, sau khi thể nghiệm bằng thân, vị ấy an trụ.
[09] Tuệ kiến, Pāli: paññāya cassa divā, sau khi thấy bằng tuệ.
[10] â€œCăn cứ và o sá»± chứng đắc diệt định mà thà nh lập thân chứng, tức là do thân chứng đắc diệt định vậy” (Cu-xá: 25, No.2026, Đại 29 tr.131b).
[11] Cầu ư chư căn 求 於 諸 æ ¹. Pāli: indriyāni samannayāmano, đang chế ngá»± các căn.
[12] Hà nh tùy thuận trụ chỉ 行 隨 é † 住 æ­¢. Pāli: anulomikāni senāsanāni paá¹­isevamano, đang sá»­ dụng các thứ sà ng tọa đúng quy định (một cách tùy thuận).
[13] Kiến đáo 見 到, cũng gọi là kiến chí. Pāli: diṭṭhipatto.
[14] Tức là bậc Thánh nà y căn cứ trên địa vị tùy pháp hà nh (xem dưới) chứng đắc Đạo loại trí, với sự bén nhạy của tuệ (Tập Dị đd., tr.435c Cu-xá đd., nt.). Pāli: paññāya vodiṭṭhā honti vocaritā, do tuệ mà quán sát và thấu triệt.
[15] Câu-xá, đd.nt., căn cứ trên Tùy tín hà nh (xem dưới) mà chứng đắc Đạo loại trí, khả năng của tuệ không bén nhạy phải nương và o tín.
[16] Pháp hà nh, hay tùy pháp hà nh 隨 法 行. Với bản tánh nhiều tư duy phân tích, mà học về bốn Diệu đế, quán sát khổ đế (tuệ tăng thượng) rồi thấy rõ nhận thức về sự thật của khổ đế (nhân tăng thượng) như vậy là chứng bậc tùy hà nh pháp” (tóm tắt, Tập Dị đd. nt.). Pāli: dhammānusāri.
[17] Pāli: (...) mattaso nijjhānaṃ khamanti, bằng và o tuệ mà chấp nhận sự lý giải hạn một cách hạn chế.
[18] Hán: bình lượng 評 量. Pāli: dhammā nijjhānaṃ khamanti, hoan hỷ chấp nhận pháp.
[19] Pāli: paññāya naṃ ativijjha passati, do tuệ mà thấy pháp ấy một cách tinh mật.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]