Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ
212. Kinh Nhất Thiết Trí
213. Kinh Pháp Trang Nghiêm
214. Kinh Bệ-Ha-Đề
215. Kinh Đệ Nhất Ðắc
216. Kinh Ái Sanh
217. Kinh Bát Thà nh
218. Kinh A-Na-Luật-Đà (I)
219. Kinh A-Na-Luật-Đà (II)
220. Kinh Kiến
221. Kinh TiỠn Dụ
222. Kinh Lệ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

18. PHẨM LỆ

217. KINH BÁT THÀNH[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời sau khi Phật nhập Niết-bà n không lâu, một số lớn các Tỳ-kheo danh đức, thượng tôn đến thà nh Ba-lị Tá»­, trú tại Kê viên  [02].

Bấy giờ Cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thà nh [03] mang nhiều hà ng hóa quý đến thà nh Ba-lị Tử để buôn bán đổi chác. Số hà ng hóa đó bán hết rất mau; được lời khá to, Cư sĩ Đệ Thập, người Bát thà nh, hết sức vui mừng, bèn rời Ba-lị Tử đến Kê viên, tìm đến các Tỳ-kheo Thượng tôn danh đức, cúi đầu lỠsát chân rồi ngồi sang một bên. Các Tỳ-kheo Thượng tôn danh đức thuyết pháp cho Cư sĩ nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ. Sau khi đã dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho Cư sĩ, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ, các Ngà i ngồi im lặng. Rồi thì Cư sĩ Đệ Thập, người Bát Thà nh bạch:

“Bạch Thượng tôn, Tôn giả A-nan hiện giờ ở đâu? Con muốn được gặp.”

Các Tỳ-kheo Thượng tôn đáp:

“Cư sĩ, Tôn giả A-nan đang ở tại thà nh Bệ-xá-li, bên bờ sông Di hầu, trong cao lâu đà i quán [04] . Nếu muốn thăm thì có thể đi đến đó.”

Bấy giờ Cư sĩ Đệ Thập, người Bát Thà nh, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lỠsát chân các Tỳ-kheo Thượng tôn, nhiỠu quanh chiều mặt ba vòng rồi đi.

Cư sĩ tìm đến chỗ Tôn giả A-nan, cúi đầu lỠsát chân rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Tôn giả A-nan, con có điều muốn hỏi, Ngà i có cho phép chăng?”

“Cư sĩ cứ hỏi. Tôi nghe rồi sẽ suy xét.”

Cư sĩ hỏi:

“Bạch Tôn giả, Đức Thế Tôn, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Bậc đã thà nh tựu tuệ nhãn, thấy đệ nhất nghĩa, Ngà i có dạy một pháp nà o mà Thánh đệ tử nếu an trú và o đó sẽ đoạn trừ các lậu, tâm giải thoát chăng?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Đúng vậy, Đức Thế Tôn có dạy pháp ấy.”

Cư sĩ hỏi:

“Đức Thế Tôn, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Bậc đã thà nh tựu tuệ nhãn, đã thấy đệ nhất nghĩa, Ngà i dạy như thế nà o về một pháp ấy, mà Thánh đệ tử nếu an trú và o đó sẽ dứt sạch các lậu, tâm giải thoát? Pháp ấy như thế nà o?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu an trú. Vị ấy y cứ nơi đây mà quán pháp như pháp. Hoặc có thể y cứ nơi đây mà quán pháp như pháp, vị ấy an trú và o đó mà dứt sạch các lậu. Nhưng an trú và o đó mà không dứt sạch các lậu, thì nhờ nơi pháp nà y, do có muốn pháp, yêu pháp, thích pháp, tin tưởng pháp, ái lạc hoan hỷ[05], vị ấy đoạn trừ năm hạ phần kết, hóa sanh nơi kia mà nhập Niết-bà n, được pháp bất thối, vĩnh viỠn không còn trở lại đời nà y.

“Lại nữa, Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử, tâm cùng đi đối với từ biến mãn một phương, thà nh trụ và an trú. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, bốn phương bà ng, phương trên và phương dưới khắp cả mọi nơi tâm cùng đi đối với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, quảng đại, vô biên, vô lượng, khéo tu tập, viên mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, tâm đi đối với bi, hỷ và xả, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, quảng đại, vô lượng, vô biên khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Vị ấy cứ y nơi đây mà quán pháp như pháp. Vị ấy hoặc có thể y cứ và o đó mà dứt sạch các dục. Nhưng nếu chưa dứt sạch được các lậu, nhờ pháp nà y, do yêu pháp, thích pháp, tin tưởng pháp, ái lạc hoan hỷ, vị ấy đoạn trừ ngũ hạ phần kiết, hóa sanh và o cõi kia mà nhập Niết-bà n, được pháp bất thối, vĩnh viỠn không còn tái sanh lại đời nà y nữa. Đây là pháp mà Đức Thế Tôn, Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Bậc thà nh tựu tuệ nhãn, đã thấy đệ nhất nghĩa, nói rằng, ‘Có một pháp mà nếu đa văn Thánh đệ tử an trú và o đó sẽ dứt sạch các lậu, tâm được giải thoát.

“Lại nữa, Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử vượt qua tất cả sắc tưởng cho đến phi phi tưởng xứ, thà nh tựu và an trú, vị ấy ở nơi đây mà quán pháp như pháp, vị ấy hoặc có thể an trú và o đó mà dứt sạch các lậu. Nhưng nếu không dứt sạch các lậu, thì nhờ pháp nà y, do yêu pháp, thích pháp, tin tưởng pháp, ái lạc, hoan hỷ, vị ấy đoạn trừ ngũ hạ phần kết, hóa sanh nơi kia mà nhập Niết-bà n, được pháp bất thối, vĩnh viỠn không còn trở lại đời nà y nữa. Đây là pháp mà Đức Thế Tôn, Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Bậc đã thà nh tựu, đã thấy đệ nhất nghĩa, nói rằng, có một pháp mà nếu Đa văn Thánh đệ tử an trụ và o đó sẽ dứt sạch các lậu tâm được giải thoát.”

Bấy giờ Cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thà nh, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu chấp tay bạch rằng:

“Kỳ diệu thay! Hy hữu thay! Tôn giả A-nan, con chỉ hỏi một cánh cửa cam lồ, nhưng Tôn giả đã nói cho con nghe một lần đến mười hai pháp môn cam lồ [06]. Dựa theo pháp môn nà o trong mười hai pháp môn ấy tu tập cũng đều được giải thoát an lạc.

“Bạch Tôn giả A-nan, cũng như cách là ng không xa, có một ngôi nhà lớn, được mở ra với mười hai cánh cửa. Một người có việc cần nên đã và o trong nhà ấy. Lại có một người khác đứng đó, nhưng không muốn đem lại sự lợi ích và phước lạc, không muốn sự an ổn cho người ấy, nên nổi lửa mà đốt nhà . Bạch Tôn giả A-nan, người ấy có thể do theo một trong mười hai cửa mà ra khỏi ngôi nhà cháy một cách an toà n [07] Cũng vậy, bạch Tôn giả, con chỉ hỏi một cửa cam lồ mà Ngà i nói cho con nghe một lần đến mười hai cửa pháp cam lồ. Y theo một trong mười hai cửa pháp cam lồ nà y thì có thể được an ổn giải thoát. Bạch Tôn giả A-nan, trong pháp luật của Phạm chí nói về pháp luật bất thiện mà còn có sự cúng dường thầy của họ, huống sao con lại không cúng dường bậc Đại sư Tôn giả A-nan.”

Rồi ngay trong đêm ấy, Cư sĩ Đệ Thập, người ở Bát thà nh bà y dọn các món ăn thơm ngon, tinh khiết, đầy đủ các loại nhai và nuốt; sau khi bà y biện thức ăn xong, và o lúc sáng sớm, trải dọn chỗ ngồi Cư sĩ cung thỉnh chúng Tăng ở Kê viên và thà nh Bệ-xá-li hợp lại, rồi tự tay mình dâng nước rửa, dâng các thức ăn thơm ngon tinh khiết, đầy đủ các loại nhai và nuốt; tự tay mời mọc cho đến khi chúng Tăng no đủ, phân chia các thức ăn đầy đủ cho chúng Tăng. Sau khi chúng Tăng thọ thực, thâu bát, rửa tay, Cư sĩ đem năm trăm vật phẩm mua một ngôi nhà cúng riêng cho Tôn giả A-nan. Tôn giả A-nan nhận lãnh, sau đó cúng cho Chiêu đề tăng [08]

Tôn giả A-nan thuyết như vậy. Cư sĩ Đệ Thập người ở Bát thà nh sau khi nghe những gì Tôn giả A-nan thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, M. 52. Aṭṭhakanāgara-suttam. Hán, biệt dịch, No.92.
[02] Ba-la-lị Tá»­ thà nh Kê viên æ³¢ ç¾ åˆ© 子 城 雞 園; No.92: Ba-la-lê-phất-đô-lô, Kê viên. So Pāli: Pāṭaliputta, về sau là thá»§ đô cá»§a Magadha; Kukktārama, khu vườn có lẽ ở Đông nam cá»§a Pāṭaliputta. Một tinh xá cùng tên ở tại KosambÄ«.
[03] Đệ thập Cư sÄ© Bát thà nh 第 十 å± å£« å « 城; Pāli: Dasamo gahapati Aá¹­á¹­haka-nāgaro, gia chá»§ Dasama, người thị trấn Aá¹­á¹­haka.
[04] Di hầu giang biên, cao lầu đà i quán 獮 猴 江 邊 高 樓 臺 觀; có lẽ một ngôi nhà sà n ở trong rừng Mahāvana gần Vesāli, được gọi là Kūṭāgarasālā. Vì sông Di hầu không rõ tương đương Pāli, nhưng Sanskrit gọi là Markatā.
[05] Dục pháp ái pháp lạc pháp tĩnh pháp ái lạc hoan hỷ 欲 法 愛 法 樂 法 靜 法 愛 樂 歡 喜. Pāli: teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā, do sự đam mê đối với pháp, do sự vui say đối với pháp.
[06] Tức Bốn sắc giới thiền, Bốn vô lượng tâm và Bốn vô sắc định.
[07] Cả hai bản Hán đều thí dụ bằng ngôi nhà cháy. Bản Pāli thí dụ một người đi tìm kho tà ng.
[08] Chiêu đề tăng 招 提 僧; dịch nghĩa là Thập phương tăng. Bản Pāli không có chi tiết nà y, nhưng tiếng Pāli tương đương là CatuddisāsaṠgha.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]