[03] 21- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO SABHIYA SABHIYATHERAGĀTHĀ Được biết trưởng lão Sabhiya nói lên bài kệ rằng: "Người khác không hiểu biết Với sự tranh luận này Chúng ta sẽ tan rã Bậc trí khi hiểu biết Ta đến gần Tử thần Thì mọi sự tranh luận Sẽ đi đến tịnh chỉ Những ai không hiểu pháp Tranh luận không thể dứt Với những ai hiểu pháp Giữa những người nhiệt não Họ sẽ không nhiệt não Tranh luận cũng không có Ai sở hành phóng đãng Giới luật bị uế nhiễm Phạm hạnh đáng nghi ngờ Sẽ không được quả lớn Người nào không tôn kính Các vị đồng phạm hạnh Người ấy xa diệu pháp Như trời xa mặt đất". Trong thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Kakusandha, trưởng lão Sabhiya tái sanh trong một gia đình bàlamôn. Một hôm, Ngài đang đi trên đường nhìn thấy Đức Thế Tôn Kakusandha bước từ tốn hướng đến cánh rừng phía trước, Ngài phát tâm trong sạch, cởi đôi dép dâng Đức Thế Tôn. Do thiện nghiệp ấy, sau khi mạng chung vị bàlamôn này được tái sanh lên thiên giới, luân chuyển giữa cõi trời và cõi người. Đến gần cuối thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, Ngài tái sanh vào một gia đình giàu có, khi trưởng thành kinh cảm trước sự nhiễu loạn của xã hội và nhìn thấy hiểm hoạ diệt vong của loài người, Ngài từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia trong giáo pháp của Đức Phật Kassapa, rồi cùng với sáu vị đồng phạm hạnh, làm một chiếc thang leo lên một triền núi, quyết định nỗ lực tu tập tại đó cho đến khi mạng chung, bảy vị sau khi tìm được nơi thích hợp, cùng nhau xô thang xuống. Như trình bày trong câu chuyện của trưởng lão Dabba. Trưởng lão Sabhiya là một trong năm vị tỳ khưu không chứng Thánh quả, nhưng nhờ sự nỗ lực tu tập và phạm hạnh trong sạch, sau khi mạng chung được sanh lên thiên giới. Đến thời giáo pháp của Đức Thế Tôn hiện tại, vị trưởng lão này tái sanh vào thai bào của một nữ du sĩ. Tương truyền rằng: nữ du sĩ này là một quận chúa của hoàng tộc xứ Majjhantika, sau khi nàng trưởng thành, cha mẹ giao nàng cho một vị du sĩ để nàng học hỏi giáo lý và nếp sống của bậc xuất gia. Nhưng vị du sĩ này phạm tà hạnh với nàng, nàng mang thai với vị du sĩ, thấy nàng có mang, y liền rời bỏ nàng, nàng đơn độc một mình lánh sang xứ khác sanh con tại một hội quán bên vệ đường, do nhân đó đứa bé mới được đặt tên là Sabhiya. Sabhiya sau khi lớn lên cũng xuất gia làm du sĩ, học hỏi nhiều kệ ngôn, trở thành một nhà lý luận sắc bén, không ai sánh nổi, Ngài dựng lên một am thất gần cổng thành, dạy học cho các con cháu, hoàng tộc. Vị du sĩ này thọ trì 20 câu hỏi, từ nơi vị phạm thiên, tiền thân là mẹ của Ngài, do bà chán ghét tấm thân nữ giới nên tinh cần tu tập đạt được thiền chứng, sanh lên cõi phạm thiên, vị phạm thiên này sáng tác những câu pháp ấy và xuống truyền dạy cho con mình. Vị du sĩ, đem các câu hỏi ấy cật vấn các samôn bàlamôn, không một ai giải đáp được những câu hỏi của Sabhiya (trong chú giải kinh Sabhiya – Atthakathasabhiyasutta – nói rằng các câu hỏi này do vị phạm thiên cõi tịnh cư đặt ra). Bấy giờ, Đức Thế Tôn sau khi chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển, Ngài tuần tự du hành đến thành Rājagaha, ngự tại Veḷuvanavihāra (Trúc lâm tịnh xá). Du sĩ Sabhiya hay tin Đức Thế Tôn du hành đến thành Rājagaha và đang ngự tại Veḷuvana liền đi đến tịnh xá, vào yết kiến Đức Thế tôn và nêu lên các câu hỏi ấy. Đức Thế Tôn tuần tự giải đáp như vậy, khiến cho niềm tin trong sạch và lòng hoan hỷ của chàng du sĩ Sabhiya này càng tăng lên và khi Đức Thế Tôn giải đáp vừa dứt 20 câu hỏi ấy, chàng du sĩ liền đến phủ phục dưới chân Thế Tôn xin xuất gia. Sau khi xuất gia thọ cụ túc giới xong, tôn giả Sabhiya chứng đạt quả Alahán, Ngài nói lên bài kệ trong Apadāna rằng: "Khi đang đi trên đường Ta nhìn thấy Thế Tôn Tên Kakusandha Ta trong sạch hoan hỷ Cởi đôi dép của mình Dâng đến Đức Thế Tôn Bậc có đại trí tuệ Phạm hạnh đã viên mãn Chính do thiện nghiệp đó Ta không biết khổ cảnh Và kiếp cuối cùng này Ta thiêu đốt phiền não... Lời Phật dạy làm xong". Sau khi tôn giả trở thành vị Alahán, lúc bấy giờ Devadatta (Đề bà đạt đa) với ác tâm muốn thống lãnh tăng chúng, cố gắng tìm cách chia rẽ tăng chúng, tôn giả Sabhiya khi ban lời giáo giới đến các tỳ khưu theo phe Devadatta (Đề bà đạt đa) bằng bài kệ rằng: "Người khác không hiểu biết Với sự tranh luận này Chúng ta sẽ tan rã Bậc trí khi hiểu biết Ta đến gần Tử thần Thì mọi sự tranh luận Sẽ đi đến tịnh chỉ Những ai không hiểu pháp Tranh luận không thể dứt Với những ai hiểu pháp Giữa những người nhiệt não Họ sẽ không nhiệt não Tranh luận cũng không có Ai sở hành phóng đãng Giới luật bị uế nhiễm Phạm hạnh đáng nghi ngờ Sẽ không được quả lớn Người nào không tôn kính Các vị đồng phạm hạnh Người ấy xa diệu pháp Như trời xa mặt đất". * 22- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO LAKUṆDAKA LAKUṆDAKATHERAGĀTHĀ Được biết trưởng lão Lakuṇḍaka nói lên bài kệ rằng: "Tỳ khưu Bhaddiya Trú tại Ambāṭaka Một nơi thật hữu tình Bên cạnh một khu rừng Đã nhổ tận gốc ái Sống an trú thiền định Một số người cư sĩ Ưa thích tiếng trống lớn Tiếng sáo và trống nhỏ Còn ta thích gốc cây Hoan hỷ lời Phật dạy Nếu Phật ban ân huệ Ta được ân huệ ấy Ta trì thân hành niệm Là pháp nên tu tập Ai chấp vào thân ta Và chấp vào tiếng ta Bị rơi vào tham dục Chúng không biết được ta Người ngu vì phiền não Không biết được phần trong Và không thấy phần ngoài Bị tiếng đời lôi cuốn Dù thấy được phần ngoài Nhưng không biết bên trong Cũng trôi theo tiếng đời Với người không phiền não Biết rõ cả bên trong Và thấy rõ bên ngoài Người ấy sẽ không bị Tiếng đời lôi cuốn được". Trong thời giáo pháp của Đức Thế tôn Padumuttara, trưởng lão tái sanh vào một gia đình bàlamôn trưởng giả, tại thành Haṃsavatī. Một hôm, lúc đến chùa nghe pháp, nhìn thấy Đức Thế Tôn tán dương một vị tỳ khưu có giọng nói êm dịu đệ nhất trong hành tăng chúng, vị bàlamôn này thích được như thế, nên cung thỉnh chư tăng có Đức Phật làm toạ chủ về nhà tạo phước duyên cúng dường rồi quý dưới chân Đức Phật chú nguyện rằng: - Kính bạch Thế Tôn, do phước báu mà con đã trong sạch cúng dường, xin cho con trở thành vị tỳ khưu đệ nhất về giọng nói êm dịu trong thời giáo pháp của Đức Phật vị lai như vị tỳ khưu kia vậy. Đức Thế Tôn dùng Phật nhãn quán xét, thấy nguyện vọng của bàlamôn này sẽ được thành tựu nên Ngài phúc chúc đến vị ấy rồi cùng chư tăng trở về tịnh xá. Vị bàlamôn từ đó tích cực làm các thiện sự, khi mạng chung được tái sanh về thiên giới, luân chuyển giữa cõi người và cõi trời. Đến thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Phussa, Ngài tái sanh làm chim tu hú, có bộ lông cánh tuyệt đẹp. Một hôm, chim tu hú bay vào vườn thượng uyển, nhằm mùa xoài nó tìm được một trái xoài chín ngậm tha đi, trong khi đang bay nhìn thấy Đức Thế Tôn, nó phát tâm hoan hỷ có ý dâng trái xoài đến Ngài. Đức Phật biết được tâm ý của chim tu hú, Ngài tìm một nơi phải lẽ ngồi xuống ôm bình bát, chim tu hú đặt trái xoài chín vào bát của Đức Phật, Đức Phật dùng trái xoài chín, chim tu hú nhìn thấy Đức Phật thọ dụng trái xoài được dâng cúng, tâm nó tràn ngập niềm hoan hỷ suốt một tuần lễ, nó sống trong trạng thái phỉ lạc thoả thích và do thiện nghiệp ấy nên nó có tiếng hót rất êm tai. Trong thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, chim tu hú tái sanh làm vị tướng quân, khi Đức Thế Tôn níp bàn mọi người hợp lại bàn tính với nhau về kích thước của bảo tháp tôn thờ Xá Lợi, có người đề nghị xây dựng bảo tháp cao bảy do tuần, vị tướng quân này cho rằng bảy do tuần lớn quá, có người đề nghị sáu do tuần, vị tướng quân này cũng lên tiếng rằng: "Như vậy lớn quá". Khi có người nghị năm do tuần, bốn do tuần, ba do tuần, hai do tuần, cuối cùng chiều cao bảo tháp chỉ còn một do tuần. Do nghiệp đó nên vị tướng quân trong mỗi kiếp tái sanh đều có tầm vóc thấp hơn những người khác. Đến thời giáo pháp của Đức Thế Tôn chúng ta, vị tướng quân sanh vào một gia đình đại trưởng giả tại thành Sāvatthī có tên là Bhaddiya, nhưng vì có vóc dáng thấp nên có tên là Lakuṇḍakabhaddiya. Do duyên lành quá khứ chín muồi, nên Lakuṇḍakabhaddiya đi đến tịnh xá nghe pháp, sau khi thính pháp từ nơi Thế Tôn, Bhaddiya khởi dậy niềm tin, xin xuất gia. Thời gian sau, tỳ khưu Bhaddiya trở thành bậc đa văn, là vị pháp sư thuyết pháp với âm giọng rất êm dịu. Một hôm, nhân ngày lễ hội có một nữ nhân cùng đi trên xe với vị bàlamôn, nhìn thấy trưởng lão Bhaddiya với hình tướng thấp, nàng bật cười đến hở răng. Trưởng lão lấy hàm răng của nàng làm đề mục, tu tiến cho thiền chứng phát sanh, rồi lấy thiền chứng làm nền tảng phát triển thiền quán, chứng quả Bất Lai. Từ đó trưởng lão vẫn luôn an trú với đề mục thân hành niệm. Một hôm, trong dịp ngồi nghe vị Tướng quân chánh pháp ban lời giáo huấn, trưởng lão Bhaddiya đã chứng đạt quả Alahán. Như trưởng lão nói bài kệ trong Apadāna rằng: "Kể từ hiền kiếp này Đến một trăm nghìn kiếp Đức Thế Tôn hồng danh Padumuttara Bậc giác ngộ các pháp Bậc dẫn dắt cho đời Sanh lên trong thế gian Lúc ấy ta tái sanh Làm con vị trưởng giả Với tài sản to lớn Trong thành Haṃsavatī Một hôm, ta đi đến Trú xứ của chư tăng Bậc thắp sáng thế gian Trong lúc Ngài thuyết pháp Tán dương một tỳ khưu Đệ nhất tiếng êm dịu Sau khi nghe như thế Ta cảm thấy hoan hỷ Muốn được vị trí đó Nên ta đã cung thỉnh Đức Phật cùng chư tăng Về làm phước cúng dường Sau khi cúng dường xong Ta tiến đến Thế Tôn Đảnh lễ dưới chân Ngài Chú nguyện vị trí ấy Bấy giờ, Đức Thế tôn Bậc dẫn dắt cao thượng Phán giữa chư tăng rằng Đến kiếp 100.000 Có bậc Chánh Đẳng Giác Hồng danh Gotama Sanh lên trong thế gian Khi ấy trưởng giả này Sẽ là người thừa tự Giáo pháp của Thế Tôn Sẽ là vị đệ tử Có tên Bhaddiya Rồi sau khi mạng chung Ta sanh lên Đạo Lợi Trong kiếp thứ 92 Kể từ hiền kiếp này Đức Thế Tôn Phussa Bậc đạo sư tam giới Cao thượng hơn mọi loài Sanh lên trong thế gian Bậc tìm cầu lợi ích Ban hạnh phúc cho đời Bấy giờ ta tái sanh Làm loài chim tu hú Ta trú nơi cây xoài Gần hương thất của Ngài Một hôm, ta nhìn thấy Bậc chiến thắng ma vương Bậc Ứng Cúng cao thượng Đang ngự đi khất thực Khiến tâm ta hoan hỷ Hót lên tiếng dịu êm Rồi bay đến khu vườn Ngậm trái xoài chín mọng Màu vỏ như vàng ròng Mang đến dâng Đức Phật Lúc ấy, bậc chiến thắng Đầy đủ lòng bi mẫn Biết tâm ý của ta Ngài nhận lại bình bát Từ tay vị thị giả Ta vô cùng thoả thích Dâng trái xoài đến Ngài Ta đặt vào trong bát Rồi bay lên cành cây Cất tiếng hót du dương Êm tai và khả hỷ Để cúng dường Đức Phật Rồi bay trở về tổ Bấy giờ, con diều hâu Ác tâm chộp lấy ta Trong lúc ta thoả thích Với hình ảnh Đức Phật Sau khi ta mạng chung Sanh lên cõi Đâu xuất Đến thời kỳ giáo pháp Thế Tôn Kassapa Thuộc dòng dõi phạm thiên Bậc có đại uy danh Sanh lên trong thế gian Đem ánh sáng chánh pháp Phủ trùm các ngoại đạo Dẫn dắt loài hữu tình Đạt đến bờ giác ngộ Sau khi Ngài níp bàn Những cư sĩ tín thành Cũng nhau vân tập lại Dự tính xây bảo tháp Tôn thờ Xá lợi Phật Họ bàn tính nhau rằng Sẽ cùng nhau kiến tạo Bảo tháp bậc Đại sĩ Cao khoảng bảy do tuần Trang hoàng bằng bảy báu Bấy giờ ta được làm Tướng quân vua Kāsī Có tên là Kīkī Đã nói lời hạ giảm Kích thước của bảo tháp Mọi người đã ưng thuận Làm theo ý của ta Xây dựng ngôi Bảo tháp Cao được một do tuần Trang hoàng các báu vật Chính do thiện nghiệp đó Cùng với sự tác ý Sau khi ta mạng chung Được sanh lên Đạo lợi Cho đến kiếp cuối cùng Ta sanh trong gia đình Trưởng giả, tài sản lớn Tại thành Sāvatthī Ta nhìn thấy Thế Tôn Đang ngự đi vào thành Và ta đã nghe pháp Từ nơi Bậc Đạo sư Ta tịnh tín xuất gia Không lâu, được chứng quả Alahán, vô lậu Do nghiệp làm hạ giảm Kích thước của bảo tháp Nên vóc dáng của ta Thấp bé, bị khinh thường Ta đã cúng dường Phật Tiếng hót nghe êm dịu Nên ta được trở thành Đệ nhất tiếng êm dịu Do việc cúng dường xoài Và niệm ân đức Phật Nên ta được tái sanh Đầy đủ sa môn quả Ta không còn lậu hoặc Phiền não được thiêu đốt... Lời Phật dạy làm xong. Về sau, khi xác chứng Alahán quả của mình, trưởng lão nói lên ba bài kệ rằng: "Tỳ khưu Bhaddiya Trú tại Ambāṭaka Một nơi thật hữu tình Bên cạnh một khu rừng. Đã nhổ tận gốc ái Sống an trú thiền định
Một số người cư sĩ Ưa thích tiếng trống lớn Tiếng sáo và trống nhỏ Còn ta thích gốc cây Hoan hỷ lời Phật dạy
Nếu Phật ban ân huệ Ta được ân huệ ấy Ta trì thân hành niệm Là pháp nên tu tập" * 23- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO SUBHUTA| SUBHUTATHERAGĀTHĀ Được biết trưởng lão Subhūta nói lên bài kệ rằng: "Khi muốn làm công việc Với công việc không hợp Nhưng vẫn cứ cố làm Sẽ không có quả tốt Bởi việc không hợp ấy Không có chơn tướng thiện".
"Người nào chưa bứng được Gốc rễ của đau khổ Lại từ bỏ một pháp Người ấy như kẻ hèn Nếu từ bỏ các pháp Người ấy như kẻ mù Vì không thấy được pháp An tịnh, không an tịnh".
"Khi làm như thế nào Hãy nói như thế ấy Điều không làm, không nói Bậc hiền trí hiểu biết Người chỉ nói, không làm".
"Như bông hoa tươi đẹp Có sắc lại không hương Cũng vậy lời khéo nói Không làm, không kết quả Như bông hoa tươi đẹp Có sắc và có hương Cũng vậy lời khéo nói Kết quả đến người làm". Trong thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, vị trưởng lão này tái sanh trong một gia đình tộc trưởng danh tiếng tại thành Bārāṇasī. Một hôm, do lòng hiếu kỳ, chàng tháp tùng cùng các cư sĩ Phật tử đến chùa nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp, dứt thời pháp, chàng phát tâm tịnh tín, quy y tam bảo và trở thành người Phật tử nhiệt thành nơi tam bảo. Khi hương thất của Đức Thế Tôn Kassapa được xây dựng, chàng tộc trưởng cho thoa phết hương thất của Ngài với bốn loại bột thơm như bột chiên đàn đỏ, bột trầm hương... Và cứ thoa phết như thế mỗi tháng tám lần. Do thiện nghiệp đó, trong mỗi kiếp sanh ra thân thể chàng luôn toả mùi thơm, đến thời giáo pháp Đức Thế Tôn của chúng ta, chàng sanh vào một gia đình tộc trưởng tại xứ Magadha có tên là Subhūta. Khi trưởng thành, thanh niên Subhūta không thích sự ràng buộc gia đình, thích đời sống phóng khoáng tự tại nên xuất gia làm du sĩ, sau một thời gian sống đời sống du sĩ, chàng không tìm thấy được sự huyền diệu nào cả. Chàng được biết rằng có nhiều samôn, bàlamôn như Upatissa (Xá Lợi Phất), Kolita (Mục Kiền Liên), Sela... sau khi xuất gia trong giáo pháp của samôn Gotama, những người này đạt được sự tịnh lạc trong giáo pháp ấy. Chàng du sĩ khởi lòng tin xin xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, xuất gia xong tôn giả Subhūta thực hành đầy đủ các bổn phận của mình đối với thầy giáo thọ và thầy tế độ. Sau khi đã làm cho các vị ấy hoan hỷ, tôn giả học một đề tài thiền quán, rồi tìm một trú xứ thanh vắng sống viễn ly, nhiệt tâm tinh cần tu tập, không bao lâu tôn giả Subhūta chứng quả Alahán, tôn giả nói lên bài kệ trong Apadāna rằng: "Bấy giờ, Đức Thế Tôn Hồng danh Kassapa Thuộc dòng dõi Phạm thiên Bậc có đại uy đức Cao thượng hơn muôn loài Sanh lên trong thế gian Đầy đủ với tướng phụ Cùng các đại nhân tướng Có hào quang bao phủ Khiến muôn loài hoan hỷ Ví như mặt trăng rằm Chiếu sáng như mặt trời Làm mát mẻ như mưa Là nguồn sanh phước đức Ví như là biển cả Có giới như mặt đất Định như Hy mã sơn Có tuệ như hư không Không vướng mắc như gió Bấy giờ, ta tái sanh Trong một dòng tộc lớn Có tài sản sung túc Nơi tích trữ báu vật Tại thành Bārāṇasī Ta đến yết kiến Phật Bậc dẫn dắt thế gian Đang ngồi giữa đại chúng Ta nghe pháp bất tử Khiến nội tâm hân hoan Bậc Chánh Đẳng Giác ấy Có tâm đầy bi mẫn Ân đức như đại dương Ngài là chỗ nương tựa Của các loài hữu tình Ví như quả địa cầu Là ẩn sĩ tối thượng Thế gian không thấm nhiễm Như sen không thấm nước Ngài như vị lương y Tẩy trừ độc phiền não Trang điểm bằng giới đức Như núi Gandhamādana Ngài chiến thắng ác ma Và đội quân của chúng Như chiến sĩ vĩ đại Với chiến thắng đặc thù Ngài thắp sáng thế gian Được nhân thiên tôn kính Như mặt trời chiếu sáng Cho tất cả muôn loài Ngài thuyết pháp đoạn đầu Đến các hội chúng rằng Người sẽ được tài sản Do cần lao làm việc Sẽ đi đến nhàn cảnh Do gìn giữ giới hạnh Sẽ dập tắt phiền não Do nhiệt tâm tu tập Hội chúng nghe pháp ấy Phát sanh sự hân hoan Toàn hảo ở đoạn đầu Đoạn giữa và đoạn cuối Chỉ một vị duy nhất Đó là vị bất tử Sau khi ta nghe pháp Toàn hảo và khéo thuyết Ta phát tâm tịnh tín Trong giáo pháp của Ngài Xin quy ngưỡng tam bảo Cho đến trọn cuộc đời Sau đó ta đã lấy Cả bốn loại vật thơm Thoa phết lên hương thất Của bậc đại ẩn sĩ Với mỗi tháng tám lần Và chú nguyện cho thân Luôn luôn có mùi thơm Lúc ấy Đức Thế Tôn Nhìn thấu cả vị lai Ngài tuyên bố lời rằng Người nào lấy vật thơm Thoa phết lên hương thất Do quả của nghiệp ấy Trong mỗi kiếp tái sanh Thân luôn có mùi thơm Người ấy sẽ tăng trưởng Với hương của đức hạnh Đạt vô lậu níp bàn Và do thiện nghiệp ấy Ta sau khi mạng chung Được sanh về Đạo Lợi Đến kiếp cuối cùng này Ta sanh trong gia đình Có tài sản sung túc Khi ta còn trong thai Mẹ luôn có mùi thơm Khi ta rời thai bào Cả thành Sāvatthī Ngào ngạt với hương thơm Ví như xông mùi thơm Lúc ấy có mưa hoa Từ cõi trời rơi xuống Với mùi thơm đặc biệt Lan toả khắp mọi nơi Ta sanh tại nhà nào Tại nhà ấy, chư thiên Rải hương hoa vật thơm Với mùi thơm thù diệu Khi duyên lành chín muồi Bậc Điều ngự trượng phu Đến thành Savatthī Cùng đại chúng tỳ khưu Ta thấy uy đức Ngài Ta hoan hỷ xuất gia Ta tu tập bốn pháp Giới, Định, Tuệ, giải thoát Các lậu hoặc đoạn tận Trong lúc ta xuất gia Trong lúc được chứng quả Và lúc sắp níp bàn Có mưa thơm rơi xuống Hương thơm từ thân ta Lấp áp hương chiên đàn Hoàng lan cùng hoa sen Khi ta đến chỗ nào Các hương ấy thua kém Nay là kiếp cuối cùng Ta thiêu đốt phiền não... Lời Phật dạy làm xong". Sau khi chứng quả Alahán nhớ lại sự đau khổ lúc tu khổ hạnh và sự an lạc từ thiền định trong giáo pháp của bậc Đạo sư và để xác chứng quả vị Alahán của mình, trưởng lão nói lên bốn bài kệ rằng: "Khi muốn làm công việc Với công việc không hợp Nhưng vẫn cứ cố làm Sẽ không có quả tốt Bởi việc không hợp ấy Không có chơn tướng thiện".
"Người nào chưa bứng được Gốc rễ của đau khổ Lại từ bỏ một pháp Người ấy như kẻ hèn Nếu từ bỏ các pháp Người ấy như kẻ mù Vì không thấy được pháp An tịnh, không an tịnh".
"Khi làm như thế nào Hãy nói như thế ấy Điều không làm, không nói Bậc hiền trí hiểu biết Người chỉ nói, không làm".
"Như bông hoa tươi đẹp Có sắc lại không hương Cũng vậy lời khéo nói Không làm, không kết quả
Như bông hoa tươi đẹp Có sắc và có hương Cũng vậy lời khéo nói Kết quả đến người làm". * 24- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO GIRIMĀNANDA GIRIMĀNANDATHERAGĀTHĀ Được biết trưởng lão Girimānanda nói lên bài kệ rằng: "Mưa rơi tiếng êm ả Giống như điệu nhạc ru Am thất ta khéo lợp Có cửa đóng kín chặt Ta an tịnh trong thất Nếu muốn, hãy mưa đi Mưa rơi tiếng êm ả Giống như điệu nhạc ru Am thất ta khéo lợp Có cửa đóng kín chặt Tâm an tịnh trong thất Nếu muốn, hãy mưa đi ... ly tham trú trong thất... ... ly sân trú trong thất... ... ly si trú trong thất... Nếu muốn, hãy mưa đi Trong thời giáo pháp của Đức Thế tôn Sumedha, trưởng lão sanh vào một gia đình nghèo, phải làm lụng vất vả mới đủ sống. Khi trưởng thành, cha mẹ cưới cho chàng một thôn nữ và sanh cho chàng một đứa con trai, không bao lậu vơ con bị bệnh qua đời. Chàng vô cùng đau khổ, tinh thần khủng hoảng như điên như dại, đi lang thang vào rừng. Đức Thế tôn Sumedha thấy được duyên lành của chàng, Ngài ngự đến chỗ ấy, thuyết pháp nhổ lên mũi tên sầu muộn để tế độ chàng. Chàng như tỉnh cơn mê, khởi lòng tin trong sạch, quỳ đảnh lễ dưới chân Đức Thế tôn, cúng dường hương hoa và tán thán ân đức của Ngài. Do thiện nghiệp đó, chàng luân chuyển trong cõi trời và cõi người suốt một thời gian dài đến thời giáo pháp của Đức Thế Tôn chúng ta, chàng sanh vào gia đình vị đại thần của vua Bimbisāra (Bình Sa Vương), tại thành Rājagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Girimānanda. Khi Đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Girimānanda nhìn thấy uy nghi của Ngài, khởi niềm tin xin xuất gia. Sau khi xuất gia, tôn giả Girimānanda đi đến một ngôi làng xa kinh thành để hành pháp. Thời gian sau tôn giả trở về kinh thành Rājagaha để yết kiến Đức Thế tôn. Đức vua Bimbisāra hay tin tôn giả trở về bèn ngự đến vấn an và có lời thỉnh rằng: - Kính bạch tôn giả! Xin tôn giả hãy ở lại đây an cư mùa hạ, trẫm sẽ hộ độ tứ vật dụng đến tôn giả và dâng Ngài một am thất. Trưởng lão im lặng nhận lời, Đức vua sau khi biết tôn giả nhận lời, đảnh lễ Ngài rồi cáo từ trở về triều. Khi về triều, Đức vua vì bận rộn nhiều công việc nên quên xây dựng am thất cho tôn giả Girimānanda, tôn giả phải ngụ ngoài trời. Bấy giờ, đã đến mùa mưa, các vị chư thiên vì thấy tôn giả ở ngoài trời như thế, ngăn không cho mưa, khiến trời khô hạn, dân tình than oán, tới tai vua. Đức vua xem xét duyên cớ, sau khi hiểu được, bèn cho xây dựng am thất dâng tôn giả. Do được trú xứ thích hợp, tôn giả Girimānanda tinh cần phát triển thiền quán và chứng quả Alahán, như trong Apādana tôn giả nói lên bài kệ rằng: Vợ của ta đã chết Con ta ngoài mộ địa Mẹ cha và anh ta Cùng thiêu chung giàn hoả Với sự sầu muộn đó Luôn đốt cháy tâm ta Thân thể ta tiều tuỵ Tâm trở thành cuồng động Ta lang thang vào rừng Ăn quả rừng đỡ dạ Thế tôn Sumedha Bậc đoạn tận đau khổ Ngài muốn tiếp độ ta Đã ngự đến chỗ ấy Nghe tiếng chân Thế Tôn Bậc tìm cầu cao thượng Ta ngoái đầu nhìn lại Bậc đại hùng ngự đến Ta phát sanh phỉ lạc Bấy giờ, ta thấy Ngài Bậc Đạo sư thế gian Tâm ta hết cuồng động Ta ức niệm trở lại Dâng một nắm lá cây Thế Tôn bèn ngự toạ Trên những lá cây ấy Giảng pháp đến ta rằng Những người đã mất ấy Không mời họ tự đến Không cho họ tự đi Họ tự đến, tự đi Ngươi sầu bi làm gì Với sự chết của họ Như những loài có chân Khi cơn mưa đổ xuống Tự tìm nơi trú ẩn Khi hạt mưa đã dứt Cũng đi theo ý mình Cha mẹ ngươi cũng thế Ngươi sầu bi làm gì Với sự chết của họ Ví như người lữ khách Đến một lúc rồi đi Cha mẹ người cũng thế Người sầu bi làm gì Với sự chết của họ Như rắn bỏ da cũ Để được một thân mới Cha mẹ ngươi cũng thế Ngươi sầu bi làm gì Với sự chết của họ Sau khi nghe Phật thuyết Mọi sầu muộn của ta Được bứng lên tất cả Khiến hân hoan phát sanh Ta đảnh lễ Thế Tôn Bậc tối thượng muôn loài Ta đã cúng dường Ngài Bậc Mahānāga Hồng danh Sumedha Bậc đạo sư thế gian Sau khi cúng dường xong Ta chấp tay lên trán Niệm tưởng ân đức Phật Rồi tán thán như vầy Kính bạch Đại ẩn sĩ Ngài là bậc Toàn Giác Bậc đạo sư thế gian Sau khi được giải thoát Ngài dẫn dắt chúng sanh Bằng trí tuệ của mình Kính bạch đại Ẩn sĩ Ngài đã tự chặt đứt Tất cả mọi nghi hoặc Tự làm cho Thánh đạo Phát sanh bằng trí tuệ Đã thành tựu ứng cúng Đã đạt được lục thông Các thinh văn đoanh vây Các thinh văn của Ngài Nổ như những đoá sen Khi mặt trời vừa mọc Như đại dương vô lượng Không có chi sánh bằng Khó có thể vượt qua Cũng vậy Đức Thế Tôn Đầy đủ với trí tuệ Vô lượng, dường thế ấy Ta đảnh lễ Thế tôn Bậc chiến thắng thế gian Với khắp cả bốn hướng Rồi ta trở về nhà Trong các kiếp chuyển sanh Dù lúc vào thai mẹ Lúc rời khỏi bụng mẹ Lúc từ bỏ xuất gia Ta chánh niệm, biết mình Là người có tinh cần Có tuệ, có viễn ly Ta trú trong tinh cần Khiến đạo sư hoan hỷ Ta thoát khỏi phiền não Như trăng thoát khỏi mây Ta tìm cầu viễn ly Tịch tịnh, không sanh y Các lậu hoặc không còn Trong kiếp 30.000 Kể từ hiền kiếp này Với sự cúng dường nào Chính do thiện sự ấy Ta không biết khổ cảnh Nay là kiếp cuối cùng Ta thiêu đốt phiền não... Lời Phật dạy làm xong". Quả vị Alahán phát sanh cùng lúc với cơn mưa bắt đầu đổ hạt, hoan hỷ với quả chứng của mình và tiếng mưa rơi, trưởng lão nói lên năm bài kệ rằng: "Mưa rơi tiếng êm ả Giống như điệu nhạc ru Am thất ta khéo lợp Có cửa đóng kín chặt Ta an tịnh trong thất Nếu muốn, hãy mưa đi Mưa rơi tiếng êm ả Giống như điệu nhạc ru Am thất ta khéo lợp Có cửa đóng kín chặt Tâm an tịnh trong thất Nếu muốn, hãy mưa đi ... ly tham trú trong thất... ... ly sân trú trong thất... ... ly si trú trong thất... Nếu muốn, hãy mưa đi * 25- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO VAKKALI VAKKALITHERAGĀTHĀ Đức Thế Tôn phán hỏi trưởng lão rằng: "Bị bệnh gió bức bách Lại sống trong rừng sâu Dược phẩm tìm khó khăn Thân thể bị ốm gầy Tỳ khưu sẽ làm gì? Trưởng lão Vakkali thưa rằng "Thân con được tràn ngập Với hỷ lạc toả rộng Dầu có bị ốm gầy Con sẽ sống trong rừng". "Tu tập bốn niệm xứ Năm quyền và năm lực Tu tập bảy giác chi Con sẽ sống trong rừng" "Vì thấy bạn đồng tu Sống hoà hợp, dũng mãnh Luôn kiên trì tinh tấn Con sẽ sống trong rừng" "Tuỳ niệm ân đức Phật Bậc tối thượng điều ngự Ngày đêm không biếng nhác Con sẽ sống trong rừng". Trong thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Padumuttara, trưởng lão tái sanh vào một gia đình bàlamôn tại thành Haṃsavatī. Một hôm, chàng thanh niên bàlamôn này cùng với các cận sự nam đi đến tịnh xá thính pháp từ Đức Thế Tôn, chàng trông thấy Đức Thế Tôn xiển dương một vị tỳ khưu đệ nhất về hạnh Đức tin, chàng thoả thích với hình ảnh đó, nên cung thỉnh Đức Phật cùng đại chúng tỳ khưu về nhà trai tăng cúng dường suốt bảy ngày, rồi quỳ dưới chân Thế Tôn chú nguyện rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Do phước báu mà con đã trong sạch cúng dường thực phẩm suốt bảy ngày, xin cho con được vị trí tối thắng về hạnh Đức tin trong giáo pháp Đức Chánh Đẳng Giác vị lai. Đức Thế Tôn dùng Phật nhãn quán chiếu vị lai, Ngài thấy nguyện vọng của bàlamôn này sẽ thành tựu, nên Ngài tiên đoán và phúc chúc an lành đến chàng. Sau một thời gian dài luân chuyển giữa cõi trời cùng cõi người, đến thời giáo pháp của Đức Thế Tôn chúng ta, Ngài tái sanh vào một gia đình bàlamôn tại thành Sāvatthī và được đặt tên là Vakkali. Khi trưởng thành, công tử Vakkali học nằm lòng tam phệ đà và thành tựu các học nghệ của bàlamôn. Một hôm, Vakkali nhìn thấy Đức Thế Tôn, chàng say mê đắm đuối thân hình tuyệt vời của Thế Tôn và đi theo nhìn Ngài không biết chán. Khi trở về nhà, Vakkali suy nghĩ rằng: "nếu ta còn tại gia, ta không thể ngắm nhìn Ngài thoả thích được, vậy ta sẽ xuất gia". Rồi Vakkali đi đến xuất gia nơi Thế Tôn, ngoại trừ lúc ăn uống và tắm rửa, tôn giả Vakkali dành hết thời gian để chiêm ngưỡng Đức Phật. Đức Thế Tôn chờ đợi duyên lành của tôn giả đến khi chín muồi, trải qua một thời gian dài mặc cho tôn giả Vakkali ngắm nhìn thoả thích, Ngài không lên tiếng. Đến một ngày nọ, Đức Thế Tôn phán rằng: - Này Vakkali! Lợi ích gì cho ngươi với việc ngắm nhìn tấm thân bất tịnh này? Này Vakkali, người nào thấy pháp người ấy thấy Như Lai, người nào thấy Như Lai người ấy thấy pháp. Vì rằng thấy pháp tức thấy Như Lai và thấy Như Lai tức thấy pháp. Mặc dầu Đức Thế Tôn nói như thế, nhưng tôn giả Vakkali cũng không thể từ bỏ việc chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn và rời khỏi chỗ đó được. Đức Thế Tôn nghĩ rằng: "Vị tỳ khưu này nếu không làm xúc động mạnh, sẽ không thức tỉnh". Vào ngày an cư mùa mưa, Đức Thế Tôn bảo Vakkali rằng: - Này Vakkali! Hãy đi đi. Tôn giả Vakkali bị Thế Tôn đuổi không thể tiếp tục ở kề cận Đức Thế Tôn, suy nghĩ rằng: "Đời ta có ý nghĩa gì nếu không được gặp Thế Tôn". Tôn giả leo lên núi Gijjhakūṭa (Linh Hưu), định gieo mình xuống vực, Đức Thế Tôn biết được ý định của tôn giả Vakkali, Ngài nghĩ rằng: - Tỳ khưu Vakkali khi không được nhìn thấy Như Lai sẽ tự phá hoại duyên lành đạo quả của mình, Như Lai sẽ tế độ cho vị ấy. Ngài phóng hào quang hiện thân ra trước mặt tôn giả Vakkali và nói lên bài kệ rằng: "Tỳ khưu nhiều hân hoan Tịnh tín giáo pháp Phật Chứng đạt pháp tịch tịnh Tịnh chỉ hành, an lạc". Ngài đưa cánh tay ra nói rằng: - Hãy đến này Vakkali! Tôn giả Vakkali nghĩ rằng: - Ta đã thấy bậc đạo sư rồi và Ngài gọi ta đến. Tôn giả phát sanh hỷ lạc, bất kể việc đi đến ra sao, cứ từ trên hư không hướng về Đức Thế Tôn đi xuống, do hỷ lạc phát sanh sung mãn từ tâm tịnh tín nên thân Ngài nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, khi bước chân vừa chạm lên mặt đất, cùng lúc đó tôn giả ngẫm lại bài kệ của Thế Tôn, tự mình ngăn phỉ lạc, phát triển tuệ quán chứng quả Alahán cùng với tuệ phân tích. Như đã trình bày trong chú giải Tăng chi bộ và chú giải Pháp cú kinh. Trong đoạn này, một số vị giáo thọ sư nói rằng: "Bậc Đạo sư đã nói với tôn giả Vakkali rằng: "Này Vakkali! Ngươi sẽ được lợi ích gì với hành động như thế?". Rồi tôn giả Vakkali ở trên núi bắt đầu phát triển thiền quán, nhưng vì tôn giả nặng về đức tin nên tuệ quán không tiến triển xuyên suốt được. Đức Thế Tôn biết sự vướng mắc của tôn giả, Ngài giúp gội rửa cho thanh tịnh, nhưng tôn giả cũng không thể làm cho tuệ quán đạt đến đỉnh cao. Về sau, tôn giả bị bệnh do ảnh hưởng vật thực, Đức Thế Tôn biết tôn giả bị bệnh gió hoành hành, Ngài ngự đến chỗ ấy, phán hỏi rằng: "Bị bệnh gió bức bách Lại sống trong rừng sâu Dược phẩm tìm khó khăn Thân thể bị ốm gầy Tỳ khưu sẽ làm gì? Tôn giả sau khi nghe những lời ấy mới nói lên bốn bài kệ rằng: "Thân con được tràn ngập Với hỷ lạc toả rộng Dầu có bị ốm gầy Con sẽ sống trong rừng". "Tu tập bốn niệm xứ Năm quyền và năm lực Tu tập bảy giác chi Con sẽ sống trong rừng" "Vì thấy bạn đồng tu Sống hoà hợp, dũng mãnh Luôn kiên trì tinh tấn Con sẽ sống trong rừng" "Tuỳ niệm ân đức Phật Bậc tối thượng điều ngự Ngày đêm không biếng nhác Con sẽ sống trong rừng". Tôn giả sau khi nói như thế liền phát triển thiền quán, chứng quả Alahán. Như trong Apadāna, tôn giả nói lên bài kệ rằng: "Kể từ hiền kiếp này Đến 100.000 kiếp Có vị Chánh Đẳng Giác Padumuttara Sanh lên trong thế gian Hồng danh Ngài như vậy Vì gương mặt của Ngài Đẹp như đoá hoa sen Có làn da mịn màng Vô cấu như hoa sen Vô nhiễm với thế gian Như sen không dính nước Là bậc đại trí tuệ Có quyền (căn) như lá sen Khả ái như đoá sen Và bờ môi thơm tho Như hương của cánh sen Do vậy Ngài có tên Padumuttara Ngài là bậc cao cả Hơn thế gian muôn loài Với uy nghi an tịnh Là chỗ giữ đức hạnh Chỗ tiếp nhận trí tuệ Dù bất cứ lúc nào Bậc đại ẩn sĩ ấy Là người mà chư thiên Phạm thiên, Atula Lễ bái và cúng dường Là bậc thắng cao thượng Giữa các hàng chiến thắng Trải khắp cả nhân thiên Với chất giọng ngọt ngào Với pháp âm vi diệu Ngài khiến cho hội chúng Hoan hỷ hưởng niềm tin Rồi Ngài đã biểu dương Vị Thinh văn ấy rằng Với các vị tỳ khưu khác Giải thoát khỏi phiền não Bằng niềm tin trí tuệ Tìm cách chiêm ngưỡng ta Như Vakkali này Sẽ không thể có được Bấy giờ, ta tái sanh Con trai bàlamôn Tại thành Haṃsasvatī Sau khi nghe Phật ngôn Thoả thích vị trí ấy Nên ta thỉnh Đức Phật Bậc viễn ly bụi trần Cùng đại chúng tỳ khưu Cúng dường suốt bảy ngày Cùng với y càsa Rồi ta khấu đầu xuống Trong đại dương ân đức Của bậc Thiện tuệ ấy Lòng tràn đầy phỉ lạc Ta phát nguyện như vầy Kính bạch đại ẩn sĩ Do phước báu mà con Đã trong sạch cúng dường Trong suốt bảy ngày qua Xin cho con được như Vị có tín giải thoát Mà Ngài đã tán dương Tối thắng hạnh đức tin Trong giáo pháp của Nài Khi ta phát nguyện xong Bấy giờ, đại ẩn sĩ Bậc tinh cần dũng mãnh Có tri kiến vô ngại Giữa hội chúng phán rằng Hãy nhìn thanh niên này Mặt vải vàng trơn láng Thân do phước kết thành Giống như khối vàng ròng Thu hút mắt và tâm Của phần đông pháp hội Nối tiếp trong vị lai Thanh niên này sẽ thành Thinh văn của Thế tôn Hồng danh Gotama Thù thắng hơn chư tăng Về hạnh tín giải thoát Dù làm người hay trời Cũng ly sự khổ não Luân chuyển trong an lạc Trong 100.000 kiếp Kể từ hiền kiếp này Có vị Chánh Đẳng Giác Hồng danh Gotama Sanh lên trong thế gian Chàng thanh niên này sẽ Là người thừa tự pháp Của Đức Thế Tôn ấy Tên là Vakkali Chính do thiện nghiệp đó Sau khi ta mạng chung Được sanh cõi Đạo lợi Rồi cuối cùng ta sanh Gia đình bàlamôn Tại thành Sāvatthī Mẹ ta vì lo sợ Từ ma quỷ uy hiếp Nên tinh thần hốt hoảng Bấy giờ, ta yếu ớt Giống như cục bơ đặc Mềm mại như lá non Bà đem ta đặt xuống Dưới chân Đức Thế Tôn Nói với Thế Tôn rằng Kính bạch đấng Thế Y Xin Ngài hãy từ bi Tiếp nhận đứa bé này Con dâng nó đến Ngài Kính bạch đấng Thế Y Xin Ngài hãy trở thành Chỗ nương tựa của nó Lúc ấy, bậc ẩn sĩ Bậc nương nhờ muôn loài Ngài đã tiếp nhận ta Với bàn tay mềm mại Ta được Phật che chở Thoát khỏi mọi bệnh tật Luôn sống trong an lạc Lớn lên ta xuất gia Ta không biết no đủ Với sự chiêm ngưỡng Phật Lúc ấy, Thế Tôn biết Ta thoả thích thân Ngài Ngài phán dạy ta rằng Chớ nên! Vakkali Lợi ích gì cho ngươi Với thân khả ố này Người nào thấy diệu pháp Người ấy thấy Như Lai Người không thấy diệu pháp Sẽ không thấy Như lai Thân này rất nguy hiểm Ví như cây có độc Là chỗ trú của bệnh Chỗ hội tụ của khổ Vậy ngươi hãy nhàm chán Trong xác thân ô trược Quán chiếu sự sanh diệt Của cả thảy các uẩn Mới có thể đoạn tận Tất cả các phiền não Sau khi nghe giáo huấn Bậc dẫn dắt thế gian Ta lên núi Linh thứu Ngắm nhìn một khe núi Đức Thế Tôn ngự đến Đứng một bên triền núi Với ý khích lệ ta Ngài đã phán gọi rằng Hỡi này Vakkali Ta nghe tiếng Thế Tôn Tâm hân hoan thoả thích Ta phóng xuống triền núi Cao nhiều trăm thân người Do nhờ oai lực Phật Ta bình an vô sự Rồi Ngài đã thuyết pháp Ta thâm nhập pháp ấy Chứng đạt Alahán Sau đó Đức Thế Tôn Bậc có đại trí tuệ Giữa đại chúng Thinh văn Ngài biểu dương ta rằng Tỳ khưu Vakkali Thù thắng hơn chư tăng Về hạnh tín giải thoát Trong 100.000 kiếp Kể từ hiền kiếp này Với sự cúng dường nào Chính do thiện nghiệp ấy Ta không biết khổ cảnh Nay là kiếp cuối cùng Ta thiêu đốt phiền não... Lời Phật dạy làm xong". -ooOoo- Ðầu trang | 01 | 02 | 03 | Mục lục |