BuddhaSasana Home Page

Vietnamese, with Unicode Times font


THERAVĀDA
Phật Giáo Nguyên Thủy

Lời Vàng Bậc Thánh (2)
Sớ giải Trưởng Lão Ni Kệ

Bhikkhu Kusalapuñño
(Tỳ khưu Thiện Phúc)


   10- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI PAṬĀCĀRĀ
PAṬĀCĀRĀTHERĪGĀTHĀ

Được biết trưởng lão ni Paṭācārā đã nói lên bài kệ rằng:

"Với cây cày, cày ruộng
Gieo hạt giống xuống ruộng
Nông dân thu tài sản
Nuôi dưỡng vợ và con"
"Ta đầy đủ giới hạnh
Hành theo lời Đạo Sư
Không lười, không phóng dật
Sao không chứng níp bàn"
"Khi ta đang rửa chân
Ta chú ý vào nước
Thấy những dòng nước rửa
Chảy chỗ gần, chỗ xa
Nhờ vậy tâm được định
Như ngựa tốt khéo luyện
Rồi ta cầm cây đèn
Bước vào am thất mình
Ta đi đến chiếc giường
Cầm lấy cây then cửa
Kéo tim đèn khỏi dầu
Cùng lúc ấy tâm ta
Thoát khỏi mọi phiền não
Như ngọn đèn tắt vậy".

Trong thời giáo pháp của Đức Thế Tôn chúng ta, nàng tái sanh trong một gia đình trưởng giả.

Khi trưởng thành, nàng đem lòng yêu thương người đầy tớ trong nhà, hay tin cha mẹ sắp gả mình cho một chàng trai môn đăng, nàng bèn lấy một số tiền trốn đi với tình nhân và sống tại một ngôi làng nhỏ hẻo lánh. Khi sắp sanh, nàng nói với chồng rằng:

"Mình ơi! Em sắp sanh rồi mà ở đây chúng ta chẳng có được một người thân để nhờ cậy khi hữu sự, vậy chàng hãy đưa em trở về nhà cha mẹ đi".

Người chồng vì sợ ông bà chủ, nên cứ hẹn lần hẹn lựa, khi biết rằng chàng không muốn đưa mình về, chờ lúc chồng đi vắng, nàng thu dọn gọn những đồ vật trong nhà và nhờ người láng giềng nhắn lại cho chồng là nàng đã trở về nhà cha mẹ.

Về đến nhà hay tin vợ đi rồi, người chồng suy nghĩ: "Vì ta mà nàng trở thành không nơi nương tựa", liền tức tốc đuổi theo và gặp vợ giữa đường. Lúc ấy nàng vừa sanh con xong, nàng suy nghĩ:

"Sanh con rồi, giờ thì không cần thiết trở về nhà cha mẹ nữa".

Rồi nàng bế con cùng chồng quay trở lại nhà của mình.

Khi mang thai lần thứ hai, cũng như lần trước, chỗ khác nhau là vợ chồng tay bồng tay bế cùng nhau trở về làng, đi được một đỗi, dầu sái mùa nhưng chẳng biết gió từ đâu nổi lên, kéo theo những cụm mây đen giăng phủ cả bầu trời rồi mưa như thác đổ trút xuống trắng cả bầu trời, người vợ bị kiệt sức vì mới sanh, làm sao chống chọi trước mưa to gió lớn, nàng bèn nói với chồng:

"Mình ơi! Em và con không thể chịu đựng được nữa, mình đi tìm cành cây về che tạm cho em và con đi".

Người chồng ngó quanh, nhìn thấy một bụi cây gần gò mối, liền đi lại chặt những cành cây ấy, nghe động đậy, một con rắn độc từ gò mối bò ra, cắn người chồng chết tại chỗ.

Chồng đi đã lâu nhưng không thấy trở về, nàng vô cùng hoang mang lo lắng, không có gì để che chắn mưa gió, nàng phải tỳ hai tay và hai đầu gối xuống đất vừa che mưa gió vừa để úm cho con, nàng đã chịu đựng với tư thế ấy suốt đêm.

Trời vừa sáng, nàng một tay bế, một tay dẫn con đi tìm chồng, lần theo con đường chồng đi, nàng nhìn thấy xác chồng nằm chết cạnh gò mối. Nàng đau khổ than khóc vì chồng chết và cũng tự trách mình rằng:

"Chính vì ta mà chàng phải chết".

Gạt những giọt lệ tử biệt, nàng tay bế tay dắt con trở về cha mẹ. Đi được một đỗi, gặp dòng sông nước lớn và chảy xiết do trận mưa đêm qua, nàng không thể cùng một lúc đem hai con qua sông, nàng bèn để đứa lớn bên nầy, ẵm đứa nhỏ qua trước, đến bờ nàng tìm những nhánh cây nhỏ trãi lót, quấn con với một tấm vải cũ và đặt nằm trên những cành lá ấy, rồi quay lại rước đứa lớn, đi được nửa dòng nàng quay lại thăm chừng; một con diều hâu nhìn thấy đứa bé cứ tưởng là cục thịt nó xà xuống xớt lấy bay lên hư không, nhìn thấy con bị diều hâu gắp đi, người mẹ vỗ tay kêu la với ý xua đuổi nhưng vô hiệu quả vì nó đã bay xa.

Đứa lớn ở bên nầy, nghe mẹ vỗ tay kêu lớn, tưởng kêu nó, nó bèn chập chững bước xuống và bị nước cuốn đi.

Chồng bị rắn cắn chết, đứa nhỏ bị diều hâu tha đi, đứa lớn bị nước cuốn trôi khiến nàng vô cùng đau khổ, vừa đi vừa khóc nàng nghĩ rằng:

"Đời ta giờ chẳng còn gì cả, ngoại trừ cha mẹ là nguồn an ủi duy nhất của thôi".

Về gần đến thành Sāvatthī, nàng hỏi thăm tin tức về cha mẹ mới hay trận mưa giông đêm qua làm sập nhà đè chết cha mẹ và đứa em trai của nàng, sáng nay những người láng giềng đã đem cả ba đi thiêu trên cùng một giàn hoả.

Sự vô thường đã liên tục cướp đi từ tay nàng niềm vui và sự sống, cho đến nguồn hy vọng cuối cùng của nàng cũng bị sụp đổ, với tấm thân bé nhỏ làm sao nàng chịu đựng nổi sự đau khổ quá ư to lớn ấy, nàng như điên như dại, không màn đến lớp vải che thân, vừa đi vừa khóc than rằng:

"Hai con ta đã chết
Người chồng cũng mệnh chung
Cha mẹ và em trai
Cùng thiêu chung giàn hoả"

Từ đó nàng có tên là Paṭācārā (kẻ không mặc xiêm y). Một số người gặp nàng, họ xua đuổi, quăng rác lên đầu nàng, họ ném đất, ném cát lên người nàng.

Lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư đang ngự toạ thuyết pháp giữa hội chúng lớn tại Jetavanavihāra (Kỳ viên tịnh xá), từ xa Ngài thấy nàng đang thất tha, thất thểu và biết rằng duyên lành giải thoát của nàng đã chín muồi, với uy lực khiến nàng hướng thẳng về tịnh xá, hội chúng thấy nàng đi đến, nói rằng:

"Hãy ngăn cản, chớ cho bà điên ấy vào đây"

Bậc Đạo Sư phán rằng:

"Chớ có ngăn cản nàng"

Và khi nàng sắp bước vào hội chúng, Ngài phán rằng:

"Hãy tỉnh lại, này thiếu phụ".

Nghe âm giọng từ hoà êm ấm của bậc Đạo Sư rót vào tai, nàng bừng tỉnh, cảm nhận được mình chẳng có mảnh vải che thân, nàng phát sanh hổ thẹn, bèn ngồi sụp xuống, một người thiện nam liền ném cho nàng tấm vải, sau khi khoác tấm vải ấy, nàng tiến đến đảnh lễ ngũ thể đầu địa và thưa rằng:

"Bạch Ngài, xin Ngài hãy là chỗ nương tựa của con, một con diều hâu đã xớt lấy đứa con nhỏ, đứa lớn bị dòng nước cuốn đi, người chồng bị rắn cắn chết, cha mẹ và em trai bị nhà sập đè chết, cùng thiêu chung một giàn hoả, chỉ trong một đêm đến sáng những người thân yêu đã lần lượt bỏ con ra đi, giờ đây con chẳng còn một người thân, chằng còn một chỗ nương tựa nào cả, xin Ngài từ bi là chỗ nương tựa cho con".

Bậc Đạo Sư phán rằng:

"Này Paṭācārā, ngươi chớ có nghĩ rằng chỉ dựa vào sự nương tựa này sẽ làm cho ngươi hết đau khổ, này Paṭācārā từ vô thuỷ luân hồi, nước mắt ngươi đổ xuống vì cha chết, mẹ chết, chồng chết, con chết, quyến thuộc chết, còn nhiều hơn nước trong bốn biển nữa".

Rồi Ngài nói lên bài kệ rằng:

"Nước ở trong bốn biển
Ít hơn nước mắt người
Đổ xuống vì sầu muộn
Thế nên, này tín nữ
Sao ngươi còn dễ duôi".

Sau khi Đức Thế Tôn thuyết giảng về sự luân hồi đầy nước mắt như vậy, sự sầu muộn của nàng được nhẹ dần, thấy tâm nàng đã được lắng dịu phiền muộn và sẵn sàng lãnh hội giáo pháp, bậc Đạo Sư bèn giảng tiếp rằng:

"Này Paṭācārā, một người khi mệnh chung dầu cha mẹ, quyến thuộc có thương yêu đến mấy cũng không thể giúp đỡ, không thể làm chỗ nương tựa được, hiểu như vậy, các bậc hiền trí trau dồi giới đức, thanh lạc ô nhiễm hướng đến níp bàn".

Rồi Ngài nói lên bài kệ rằng:

"Dầu cha mẹ, con cái
Luôn cả các quyến thuộc
Cũng không thể cứu giúp
Khi thân hoại mạng chung
Thấy được sự thật này
Bậc trí thu thúc giới
Thanh lọc, hướng Níp bàn"

Dứt bài kệ Paṭācārā chứng đạt quả Dự Lưu và ngỏ lời xin xuất gia, bậc Đạo Sư đưa nàng đến trú xứ các tỳ khưu ni cho xuất gia.

Sau khi thọ cụ túc giới, nàng nỗ lực tu tập để mong đạt được quả vị cao hơn.

Một hôm, nàng cầm bình múc nước rửa chân, xối lần đầu, nước từ chân nàng chảy được một đoạn ngắn rồi dứt, xối, lần thứ nhì, nước chảy xa hơn, xối lần thứ ba, nước chảy xa hơn một chút rồi dứt. Dựa trên nền tảng nầy, nàng suy tư:

"Cũng vậy, loài hữu tình có một số chết trong buổi sơ niên như nước ta xối lần đầu, một số chết trong buổi trung niên như nước ta xối lần thứ hai, một số chết trong buổi lão niên như nước ta xối lần thứ ba".

Bấy giờ bậc Đạo Sư đang ngự toạ trong hương thất, biết được dòng tư tưởng của nàng, Ngài phóng hào quang như đang đứng trước mặt và dạy rằng:

"Nầy Paṭācārā, như vậy cuộc sống của loài hữu tình, cuối cùng cũng phải chết, thế nên với người thấy được sự sanh diệt của ngũ uẩn, dầu sống chỉ một ngày vẫn quý hơn người sống cả trăm năm mà không thấy được sự thật ấy".

Rồi Ngài nói lên bài kệ rằng:

"Dầu sống chỉ một ngày
Thấy được pháp sanh diệt
Quý hơn sống trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt"

Dứt bài kệ, tỳ kheo ni Paṭācārā chứng đạt quả vị Alahán với tứ tuệ phân tích.

Sau khi chứng quả Alahán, nàng quán lại quá trình tu chứng của mình khi còn là hữu học và nhân duyên đưa đến quả cao, nàng cảm xướng bài kệ rằng:

"Với cây cày, cày ruộng
Gieo hạt giống xuống ruộng
Nông dân thu tài sản
Nuôi dưỡng vợ và con"
"Ta đầy đủ giới hạnh
Hành theo lời Đạo Sư
Không lười, không phóng dật
Sao không chứng níp bàn"
"Khi ta đang rửa chân
Ta chú ý vào nước
Thấy những dòng nước rửa
Chảy chỗ gần, chỗ xa
Nhờ vậy tâm được định
Như ngựa tốt khéo luyện
Rồi ta cầm cây đèn
Bước vào am thất mình
Ta đi đến chiếc giường
Cầm lấy cây then cửa
Kéo tim đèn khỏi dầu
Cùng lúc ấy tâm ta
Thoát khỏi mọi phiền não
Như ngọn đèn tắt vậy".

*

11- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI KHEMĀ
KHEMĀTHERĪGĀTHĀ

Ác ma đến cám dỗ nàng với bài kệ rằng:

"Hỡi nầy nàng Khemā
Nàng vừa trẻ vừa đẹp
Ta đang độ thanh xuân
Với cung đàn năm điệu
Ta cùng nhau tận hưởng"
Nàng nói với ác ma rằng:
"Với thân hôi thối nầy
Mỏng manh, nhiều bệnh hoạn
Ta ghê tởm, nhàm chán
Dục ái được nhổ sạch"
"Các dục như gươm giáo
Các uẩn là thớt chặt
Dục lạc mà ngươi nói
Nay với ta không còn"
"Sự thoả thích trong dục
Đã được ta đoạn trừ
Luôn cả khối si ám
Cũng bị ta phá tan
Nầy ác ma, hãy biết
Ngươi đã bị thất bại"
"Với những người kém trí
Tri kiến bị lệch lạc
Lễ bái các vì sao
Thờ lửa trong rừng sâu
Chúng tưởng rằng thanh tịnh"
"Còn ta, ta đảnh lễ
Bậc Chánh Giác, Thượng Nhân
Thoát khỏi mọi khổ đau
Như vậy được gọi là
Hành lời dạy Đạo Sư".

Ngược dòng thời gian cách nay một trăm ngàn đại kiếp, có vị Chánh Đẳng Giác hồng danh Padumuttara, bậc tỏ ngộ các pháp, sanh lên trong thế gian.

Lúc bấy giờ, ta sanh trong một gia đình trưởng giả giàu có, tại thành Haṃsavatī.

Một hôm, ta đi đến yết kiến bậc Đại Hùng, nghe Ngài giảng Chánh Pháp, ta khởi tâm tịnh tín, xin quy y tam bảo trở thành một tín nữ ngoan đạo. Khi được cha mẹ cho phép, ta đã cung thinh Đức Thế Tôn cùng chư tỳ khưu Tăng về nhà cúng dường thực phẩm suốt bảy ngày.

Đến ngày thứ bảy, nhân sự tùng sự Đức Thế Tôn đã biểu dương một vị tỳ kheo ni thù thắng hơn chư Ni về hạnh trí tuệ. Sau khi nghe những lời ấy, ta lấy làm thoả thích, tiến đến đảnh lễ dưới chân Thế tôn và chú nguyện vị trí ấy.

Bậc Đạo Sư phán với ta rằng:

"Nầy tín nữ, nguyện vọng của ngươi sẽ được thành tựu, trải qua một trăm ngàn đại kiếp, có vị Chánh Đẳng Giác hồng danh Gotama sanh lên trong thế gian, ngươi sẽ trở thành tỳ kheo ni tên là Khemā, sẽ là người thừa tự giáo pháp của Đức Thế Tôn ấy và sẽ trở thành vị đại đệ tử đệ nhất hạnh trí tuệ trong hàng Ni chúng.

Do những thiện nghiệp ấy, sau khi mệnh chung,t a được tái sanh lên cõi Đạo Lợi, mãn thọ cõi Đạo Lợi,t a được sanh lên cõi Dạ Ma, từ bỏ thân cõi Dạ Ma, ta được sanh lên cõi Đâu Xuất, mệnh chung cõi Đâu Xuất, ta tái sanh cõi Hoá Lạc và cuối cùng ta được sanh cõi Tha Hoá Tự Tại, đỉnh cao của các cõi trời dục giới. Cũng do phước nghiệp ấy, trong các tầng trời tái sanh, ta đều được làm hoàng hậu của vị Thiên Vương cõi ấy.

Mạng chung từ thiên giới, sanh xuống cõi người, ta được làm hoàng hậu của Đức Chuyển Luân Vương và được làm hoàng hậu của vị vua quốc độ.

Trong những kiếp luân chuyển giữa hai cõi người trời, ta luôn được an lạc và thọ hưởng đầy đủ những thiên sản, nhân sản cao sang đặc thù.

Trong kiếp thứ chín mươi mốt, có vị Chánh Đẳng Giác hồng danh Vipassī sanh lên trong thế gian.

Do thiện căn dẫn dắt, ta đi đến yết kiến bậc Đạo Sư, được nghe diệu pháp nơi Ngài, ta khởi niềm tin trong sạch xin xuất gia. Xuất gia tỳ kheo ni xong, ta tinh cần học tập kinh điển Phật ngôn và thực hành phạm hạnh trong giáo pháp của bậc Đại Hùng ấy đến mười ngàn năm. Do phước duyên quá khứ và sự nỗ lực hiện tại, lúc bấy giờ ta trở thành bậc đa văn, bậc Pháp sư giỏi và là người có trí tuệ sắc bén.

Nhờ phạm hạnh thanh tịnh nên sau khi mệnh chung ta được sanh lên cõi Đâu Xuất.

Cũng trong hiền kiếp nầy, có vị Chánh Đẳng Giác hồng danh Konāgamana sanh lên trong thế gian.

Lúc bấy giờ, ta tái sanh trong một gia đình giàu có, tại thành Bārāṇasī.

Ta cùng với chị Dhanañjānī và chị Sumedhā kiến tạo một dãy Tăng xá thật lớn và một ngôi tịnh xá trang nhã dâng đến Đức Phật cùng Chư Tăng.

Mệnh chung từ kiếp ấy, ta sanh lên cõi Đạo Lợi, trở thành một thiên nữ có uy danh thù thắng hơn các thiên nữ khác.

Trong thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa. Vào thời ấy, đức vua xứ Kāsī, danh hiệu là Kiki, trị vì tại thành Bārāṇasī, là một cận sự nam thuần thành, một đại đàn tín của Đức Thế Tôn Kassapa.

Lúc bấy giờ, ta sanh làm trưởng nữ của đức vua Kiki và tên là Samaṇī. Sau khi nghe được chánh pháp nơi Thế Tôn, ta khởi niềm tin, xin xuất gia nhưng phụ vương không cho.

Mặc dù không được xuất gia, nhưng bảy chị em ta: ta, công chú Samaṇaguttā, công chúa Bhikkhuṇī, công chúa Bhikkhudāsikā, công chúa Dhammā, công chúa Sudhammā và công chúa Saṅghadāsikā, không xao lãng lý tưởng xuất ly, hằng ngày chăm lo hộ độ cúng dường Đức Phật cùng chư Tăng, thọ trì thập giới và sống đời phạm hạnh tại gia suốt hai chục ngàn năm.

Do thiện nghiệp ấy, sau khi mệnh chung, ta được sanh lên cõi Đạo Lợi. Dù sanh ở cõi nào, ta cũng là người đầy đủ về an lạc, đầy đủ về tài sản, đầy đủ về sắc đẹp, đầy đủ về tuỳ tùng và đầy đủ về trí tuệ.

Trong kiếp cuối cùng, ta sanh làm công chúa yêu quý của đức vua Madda tại thành Sāgala. Ngày ta chào đời, cả thành Sāgala đều cộng hưởng sự an lạc.

Do hiện tượng đó, nên phụ vương mới đặt tên cho ta là Khemā (niềm an lạc) khi trưởng thành ta có dung sắc và làn da xinh đẹp, phụ vương đem hiến dâng ta cho đức vua Bimbisāra. Từ đó, ta trở thành hoàng hậu của một quốc độ lớn và cũng là nơi sủng ái của đức vua.

Tự biết mình đẹp, nên hằng ngày ta cứ mân mê trau chuốt thân sắc và không thích nghe những lời chỉ trích về sắc thân nầy.

Lúc bấy giờ, đức vua Bimbisāra vì muốn tiếp độ ta, Ngài cho những ca sĩ ca hát, ca tụng về tịnh xá Trúc Lâm rằng:

"Tịnh xá Trúc Lâm là một nơi khả ái, khả hỷ, có nhiều phong cảnh nên thơ hữu tình, người nào chưa thấy tịnh xá Trúc Lâm cũng như người ấy chưa thấy Nandavana - Hỷ Lâm (một khu rừng khả ái khả hỷ của Thiên Vương Đế Thích và chư thiên cõi Đạo Lợi) người nào nhìn thấy tịnh xá Trúc Lâm cũng như được thấy Nandavana - rừng hoan hỷ của cõi trời Đạo Lợi vậy. Ai viếng thăm tịnh xá Trúc Lâm, tâm người ấy sẽ vui thích lạ thường và chiêm ngưỡng hoài không biết chán".

Nghe những lời ca tụng về tịnh xá Trúc Lâm, khiến lòng ta nôn nao muốn đi đến chiêm ngưỡng, bèn ngỏ lời xin đức vua, đức vua hoan hỷ cho nhiều tuỳ tùng đưa ta đi xem Trúc Lâm với lời phán rằng:

"Này hoàng hậu hữu phước, xin mời nàng hãy đi xem Trúc Lâm cho thoả chí, nơi ấy được tô điểm với hào quang xinh đẹp của Đức Thế Tôn".

Ta thưa rằng:

"Muôn tâu bệ hạ - khi nào Đức Thế Tôn ngự vào thành Rājagaha (Vương Xá) khất thực, khi ấy thần thiếp mới đến chiêm ngưỡng tịnh xá Trúc Lâm".

Nhưng sau đó, ta cũng đi đến Trúc Lâm cùng với các tuỳ tùng, vào đến Trúc Lâm rồi, mới thấy khác hơn những điều ta tưởng. Ta nhìn thấy một vị tỳ khưu trẻ, đang thực hành pháp tinh tấn, ta suy nghĩ rằng:

"Vị tỳ khưu này, đang độ thanh xuân, có thân hình khả ái, lại từ bỏ những thú vui thế tục, vào đây xuất gia, sống đời phạm hạnh, thật đáng thán phục".

Rồi ta nhìn thấy bậc Đạo Sư đang ngồi tự tại, sau lưng có một thiếu nữ xinh đẹp hầu quạt, ta bèn suy nghĩ rằng:

"Thiếu nữ nầy, có màu da sáng như vàng, có đôi mắt đẹp như hoa sen, có bờ môi đỏ như quả chà là chín, chỉ mới thoáng nhìn một chút mà đã khiến cho trái tim nầy, cặp mắt nầy bị cuốn hút vào rồi. Gương mặt nàng thật đẹp, cặp nhũ nàng căng tròn như búp sen, eo nàng thon thả, mông đầy đặn, đồ trang sức, xiêm y của nàng thật lộng lẫy, chiêm ngưỡng hoài không biết chán. Nhìn nàng ta chợt nghĩ:

"Vẻ đẹp của nàng thiếu nữ nầy đặc biệt quá, ta chưa từng thấy bao giờ".

Rồi dần dần nàng thiếu nữ ấy trở thành trung niên, trở thành lão niên với mặt sạm da nhăn, răng rụng, tóc bạc, lưng còm, tay chân run rẩy, nước miếng chảy ra, nhìn thấy cảnh tượng ấy, lòng ta đầy kinh cảm, nghĩ rằng:

"Thân nầy thật bất tịnh, đáng nhàm chán, chỉ có kẻ ngu mới ưa thích.

Lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư với lòng bi mẫn, thấy tâm ta kinh cảm như vậy, Ngài phán lên bài kệ rằng:

"Nầy Khemā hãy nhìn
Tấm thân đầy bịnh hoạn
Bất tịnh và hôi thối
Chỉ kẻ ngu ưa thích
Hãy chuyên tâm tu tập
Với đề mục bất tịnh
Hãy trú thân hành niệm
Hãy nhàm chán trong sắc
Nàng nầy như thế nào
Thân ngươi cũng thế ấy
Thân ngươi như thế nào
Nàng nầy cũng thế ấy
Ngươi hãy mau từ bỏ
Sự say đắm trong thân
Cả bên trong, bên ngoài
Hãy chuyên nhất tu tập
Pháp vô tưởng giải thoát
Hãy đoạn mạn tiềm miên
Ngươi sẽ được an lạc
Do mạn ấy không còn
Những ai đắm say dục
Rơi vào dòng bộc ái
Ví như nhện sa lưới
Do chính mình bủa giăng
Những ai chặt bộc ái
Từ bỏ mọi dục lạc
Sẽ thoát ly thế sự
Sống với hạnh xuất gia".

Biết tâm ta đã sẵn sàng, bậc Đạo Sư bèn thuyết kinh Mahānidāna để dẫn dắt ta, lắng nghe kinh, ta chợt nhớ lại quá khứ, ta đã thọ trì bài kinh nầy nơi Đức Phật Kassapa, lấy bài kinh làm nền tảng, ta phát triển tuệ quán, chứng đạt quả Dự Lưu.

Rồi ta phủ phục dưới chân bậc Đạo Sư với mục đích sám hối ta thưa rằng:

"Kính bạch bậc tỏ ngộ các pháp, con xin đảnh lễ Ngài. Kính bạch bậc Đại Bi, con xin đảnh lễ Ngài. Kính bạch bậc đã vượt qua luân hồi, con xin đảnh lễ Ngài. Kính bạch bậc ban bố pháp bất tử, con xin đảnh lễ Ngài vì si mê tà kiến, vì tham dục chi phối, con không đến yết kiến Ngài, bậc nương nhờ của thế gian, con xin sám hối những lỗi lầm ấy, con là người đam mê trong thân sắc, con nghĩ rằng Ngài không sẵn lòng tiếp độ nên con không đến yết kiến Ngài, bậc đầy lòng từ bi tiếp độ, bậc ban bố pháp cao quý, con xin sám hối lỗi lầm ấy.

Lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư phán với ta rằng:

"Vừa đủ rồi, nầy Khemā".

Rồi ta đảnh lễ, nhiễu quanh Ngài, trở về hoàng cung, ta đi đến đức vua thưa rằng:

"Muôn tâu Bệ Hạ, thật kỳ diệu thay, phương cách hoàn hảo của Bệ Hạ, thiếp muốn chiêm ngưỡng Trúc Lâm và đã chiêm ngưỡng bậc Ẩn Sỹ ly phiền não. Nếu Bệ Hạ hoan hỷ chấp nhận, thì thiếp xin được xuất gia trong giáo pháp của Đức Thế Tôn".

Lúc bấy giờ, đức vua Bimbisāra chấp tay lên nói với ta rằng:

"Nầy hiền muội, huynh chuẩn y lời cầu xin của muội, mong rằng việc xuất gia của muội sẽ được thành tựu như ý".

Xuất gia được bảy tháng, một hôm khi nhìn thấy nguyên nhân sanh diệt của ngọn đèn, dựa trên nền tảng đó ta suy quán thân nầy, khiến ta nhàm chán tất cả hành và chứng quả Alahán.

Ta là người thuần thục trong hoá thông, trong thiên nhĩ thông và tha tâm thông, ta thấu đáo các tiền kiếp, thiên nhãn ta thanh tịnh và đoạn tận các lậu hoặc. Nay sanh hữu không cỏn, trí tuệ ta thấu triệt trong tứ vô ngại giải, thiện xảo trong thất thanh tịnh, lão luyện trong Kāthāvatthu (Ngữ Tông), thông suốt trong Abhidhamma (Vi diệu pháp).

Một hôm, đức vua Pasenadikosala đến hỏi ta, phần vi tế trong Toraṇavatthu ta đã giải đáp cặn kẽ rõ ràng. Rồi đức vua Pasenadi đi đến yết kiến bậc Đạo Sư thuật lại cuộc luận đạo ấy. Bậc Đạo Sư đã xác chứng lời giải đáp của ta.

Do biết rõ hạnh nguyện của ta và kết hợp với nhân hiện tại, bậc Đạo Sư đã biểu dương ta, đệ nhất về trí tuệ trong hàng Ni chúng.

Một hôm, lúc đang ngồi tịnh dưới gốc cây, ác ma hoá thân thành chàng thanh niên, đi đến quyến rũ ta với bài kệ rằng:

"Hỡi nầy nàng Khemā
Nàng vừa trẻ vừa đẹp
Ta đang độ thanh xuân
Với cung đàn năm điệu
Ta cùng nhau tận hưởng"

Ta đã trả lời ác ma với bài kệ như vầy:

"Với thân hôi thối nầy
Mỏng manh, nhiều bệnh hoạn
Ta ghê tởm, nhàm chán
Dục ái được nhổ sạch"
"Các dục như gươm giáo
Các uẩn là thớt chặt
Dục lạc mà ngươi nói
Nay với ta không còn"
"Sự thoả thích trong dục
Đã được ta đoạn trừ
Luôn cả khối si ám
Cũng bị ta phá tan
Nầy ác ma, hãy biết
Ngươi đã bị thất bại"
"Với những người kém trí
Tri kiến bị lệch lạc
Lễ bái các vì sao
Thờ lửa trong rừng sâu
Chúng tưởng rằng thanh tịnh"
"Còn ta, ta đảnh lễ
Bậc Chánh Giác, Thượng Nhân
Thoát khỏi mọi khổ đau
Như vậy được gọi là
Hành lời dạy Đạo Sư".

*

12- KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI MAHĀPAJĀPATĪGOTAMĪ
MAHĀPAJĀPATĪGOTAMĪTHERĪGĀTHĀ

Được biết trưởng lão ni Mahāpajāpatīgotamī đã nói lên bài kệ rằng:

"Kính bạch bậc Giác Ngộ
Con xin đảnh lễ Ngài
Ngài là bậc Tối thượng
Giữa mọi loài chúng sanh
Ngài giải khổ cho con
Cùng rất nhiều người khác"
"Liễu tri mọi đau khổ
Đoạn sạch nhân sanh khổ
Tu tập bát Thánh đạo
Ta chứng đạt pháp tịch diệt"
"Trong quá khứ chúng ta
Từng là mẹ, là con
Từng là anh, là em
Là ông bà của nhau
Không biết sự thật ấy
Ta mới bị luân hồi"
"Nay ta thấy Thế Tôn
Thân nầy thân cuối cùng
Sanh tử được đoạn tận
Kiếp sống mới không còn"
"Xin Ngài hãy nhìn xem
Các vị đệ tử ấy
Sống tinh cần nhất hướng
Luôn kiên trì nỗ lực
Hoà hợp cùng tác chứng
Pháp siêu thế đặc thù
Để cúng dường Đạo Sư"
"Nàng Mahāmāyā
Sanh đức Gotama
Để lợi ích phần đông
Vì Ngài đã giải toả
Khổ uẩn của chúng sanh
Bị già chết tàn phá".

Ngược dòng thời gian cách nay một trăm ngàn đại kiếp, có đức Chánh Đẳng Giác hồng danh Padumuttara, bậc tỏ ngộ các pháp, sanh lên trong thế gian.

Lúc bấy giờ, trưởng lão ni tái sanh trong một gia đình quan đại thần giàu có, uy danh tại thành Haṃsavatī.

Một hôm, nàng và phụ thân cùng các tuỳ tùng đi đến tịnh xá yết kiến bậc Đạo Sư, nhìn thấy bậc Đạo Sư như đức Thiên vương Vāsava, đang làm cho mưa pháp rơi xuống, là bậc không còn lậu hoặc, với hào quang thù diệu chiếu sáng như mặt trời giữa mùa thu, khiến tâm nàng tịnh tín, ngồi lắng nghe diệu pháp của Ngài.

Nàng nhìn thấy bậc chúa tể muôn loài, biểu dương một tỳ kheo ni Mātucchā vị trí là bậc kỳ cựu nhất trong hàng Ni chúng. Thỏa thích với hình ảnh đó, nàng bèn cung thỉnh Đức Thế tôn cùng Tăng chúng về thiết đại lễ cúng dường suốt bảy ngày, đến ngày thứ bảy sau khi Đức Phật cùng chư Tăng thọ thực xong, nàng đến đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, chú nguyện vị trí ấy.

Bậc Đạo Sư sau khi dùng Phật nhãn quán chiếu vị lai, Ngài phán giữa hội chúng rằng:

"Nầy chư tỳ khưu, nàng tín nữ nào với tâm trong sạch cung thỉnh Như Lai cùng Tăng chúng cúng dường suốt bảy ngày, ta tiên đoán người ấy, các ngươi hãy lắng nghe: trải qua một trăm ngàn đại kiếp có vị Chánh Đẳng Giác hồng danh Gotama, là bậc Đạo Sư của thế gian, nàng tín nữ ấy sẽ là người thừa tự giáo pháp, sẽ trở thành đại thinh văn danh xưng Gotamī, sẽ là bậc dì Mẫu nuôi dưỡng sinh mạng của Đức Thế Tôn ấy và sẽ trở thành bậc kỳ cựu nhất trong hàng Ni chúng".

Sau khi nghe lời tiên đoán của bậc Đạo Sư, nàng ô cùng hoan hỷ, càng tích cực hộ độ Đức Phật và Tăng chúng với tứ vật dụng, thực hành trọn vẹn những phận sự của người tín nữ đối với tam bảo.

Do những thiện nghiệp ấy, sau khi mạng chung, nàng tái sanh lên cõi Đạo Lợi, được hưởng đầy đủ những thiên lạc thù thắng hơn các thiên nữ khác với mười phương diện là sắc, thinh, hương, vị, xúc, tuổi thọ, dung sắc, an lạc, uy danh và sự sáng chói. Nàng được làm hoàng hậu khả ái đáng nhìn của Đức Thiên Vương Đế Thích.

Đến mãn thời kỳ giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, nàng tái sanh trong một ngôi làng của dân nô lệ thành Bārāṇasī. Khi lớn lên, nàng được gả cho người trưởng làng.

Một hôm, có năm vị Phật Độc Giác ngự vào làng khất thực, nhìn thấy quý Ngài với lục căn thanh tịnh, màu da sáng chói, đầy đủ uy nghi chánh hạnh của bậc Sa Môn, nàng phát tâm trong sạch, đặt bát cúng dường. Sau khi khất thực xong, chư Phật Độc Giác đi vào rừng Isipatana.

Lúc bấy giờ, thời tiết đã vào mùa mưa, nàng cùng chồng lãnh đạo năm trăm gia đình nô lệ trong làng, xây dựng năm ngôi tịnh thất, đắp con đường kinh hành, sắp đặt các lu nước cùng đầy đủ các vật dụng cần thiết; sau khi hoàn tất, nàng đã cung thỉnh chư Phật Độc Giác an cư mùa mưa trong các ngôi tịnh thất ấy.

Hằng ngày, nàng tổ chức cho năm trăm phụ nữ trong làng thay phiên nhau cúng dường thực phẩm đến chư Phật Độc Giác và tuần tự như thế suốt ba tháng.

Mãn mùa mưa, nàng đã vận động mỗi gia đình hùn một tấm vải choàng gộp lại may năm bộ tam y, dâng đến năm vị Phật Độc Giác. Chư Phật thọ nhận tam y, nói lời phúc chúc hoan hỷ đến các thí chủ, rồi bay về núi Gandhamādana, trước sự chứng kiến của năm trăm nàng tín nữ ấy.

Do khéo tích trữ nhiều thiện nghiệp, nên sau khi mệnh chung nàng được sanh lên cõi Đạo Lợi, mãn thọ trên cõi ấy, nàng tái sanh vào gia đình trưởng nhóm thợ dệ, trong một làng dệt tại thành Bārāṇasī.

Một hôm, nàng nhìn thấy năm trăm vị Phật Độc Giác (trước kia là thái tử của hoàng hậu Padumavatī) đang ngự đi khất thực, nàng phát tâm tịnh tín, thành kính đảnh lễ Chư Phật và đặt thực phẩm cúng dường. Chư Phật thọ thực xong, bay về núi Gandhamādana.

Trong kiếp cuối cùng, nàng tái sanh trong hoàng tộc của đức vua Mahāsuppabuddha, thành Devadaha. Nàng được đặt tên theo họ là Gotamī và là em của công chúa Mahāmāyā.

Trong ngày lễ đặt tên, các vị bàlamôn xem tướng, tiên đoán rằng:

"Về sau con của hai nàng công chúa nầy sẽ trở thành vị Chuyển Luân Vương".

Khi hai nàng trưởng thành, đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) làm lễ rước cả hai về hoàng cung của mình.

Sau khi bậc Đạo Sư giác ngộ, Ngài chuyển pháp luân tế độ quần sanh, rồi Ngài tuần tự ngự về thành Kapilavatthu tiếp độ phụ vương cùng quyến thuộc, trong dịp nầy, đức vua Tịnh Phạn đã chứng đạt quả vị Vô Sanh và viên tịch Níp bàn ngay sau đó.

Với sự băng hà của đức vua khiến bà Gotamī động tâm mạnh và có ý muốn xuất gia.

Lần đầu, Bà đến xin bậc Đạo Sư nhưng Ngài không chấp thuận. Lần thứ hai, bà tự cắt tóc, đắp y casa và sau khi giảng xong bài kinh Kalahavivāda, Bà cùng với năm trăm công nương dòng Thích Ca đi đến thành Vesālī nhờ Đại đức Ānanda vào năn nỉ xin bậc Đạo Sư. Rồi bà được xuất gia, thọ cụ túc giới cùng tám trọng pháp.

Một hôm, bà đến yết kiến bậc Đạo Sư, đảnh lễ xong, Bà đứng một bên, bậc Đạo Sư đã chỉ dẫn một đề tài thiền quán, Bà tín thọ lời dạy Thế Tôn, rồi nhiệt tâm tinh cần tu tập, không bao lâu Bà cũng được chứng quả Alahán cùng với lục thông và tuệ phân tích. Còn năm trăm vị tỳ khưu ni ấy, sau khi nghe tôn giả Nandaka ban lời giáo giới, tất cả đều chứng đạt lục thông.

Một hôm, nhân dịp Chư Tăng câu hội đông đảo tại Jetavanavihāra (Kỳ Viên Tịnh Xá), ngự toạ giữa tăng chúng, bậc Đạo Sư đã biểu dương Bà là bậc kỳ cựu nhất trong hàng Ni chúng.

Ngày nọ, trong lúc ngồi suy niệm ân đức của bậc Đạo Sư và những thành quả mà mình đạt được, Bà đã hoan hỷ cảm xướng bài kệ rằng:

"Kính bạch bậc Giác Ngộ
Con xin đảnh lễ Ngài
Ngài là bậc Tối thượng
Giữa mọi loài chúng sanh
Ngài giải khổ cho con
Cùng rất nhiều người khác"
"Liễu tri mọi đau khổ
Đoạn sạch nhân sanh khổ
Tu tập bát Thánh đạo
Ta chứng đạt pháp tịch diệt"
"Trong quá khứ chúng ta
Từng là mẹ, là con
Từng là anh, là em
Là ông bà của nhau
Không biết sự thật ấy
Ta mới bị luân hồi"
"Nay ta thấy Thế Tôn
Thân nầy thân cuối cùng
Sanh tử được đoạn tận
Kiếp sống mới không còn"
"Xin Ngài hãy nhìn xem
Các vị đệ tử ấy
Sống tinh cần nhất hướng
Luôn kiên trì nỗ lực
Hoà hợp cùng tác chứng
Pháp siêu thế đặc thù
Để cúng dường Đạo Sư"
"Nàng Mahāmāyā
Sanh đức Gotama
Để lợi ích phần đông
Vì Ngài đã giải toả
Khổ uẩn của chúng sanh
Bị già chết tàn phá".

Trong tập Apadāna đã ghi lại giai thoại về thời níp bàn của trưởng lão ni Mahāpajāpatīgotamī như sau:

Một thời, Đức Thế Tôn ngự tại Kūṭāgāra, rừng Mahāvana (Đại Lâm, thành Vesālī.

Lúc bấy giờ, trưởng lão ni Mahāpajāpatīgotamī, dì mẫu của bậc Đạo Sư, sống an lạc tại tịnh xá tỳ kheo ni cùng với năm trăm vị tôn ni lậu tận.

Trong lúc ngồi yên tịnh, Bà khởi lên tư tưởng như sau:

"Việc Níp-bàn của Đức Thế Tôn, của hai vị thượng thinh văn, của Rāhula, Ānanda và Nanda ta không được chứng kiến vì nay đã đến thời ta níp bàn, ta cần phải đến xin phép bậc Đạo Sư, rồi mới từ bỏ thọ hành níp bàn".

Năm trăm vị tỳ kheo ni ấy cũng có sự suy nghĩ tương tự.

Lúc bấy giờ, quả địa cầu rung động, rung chuyển, trống chư thiên cũng tự nhiên vang tiếng. Các chư thiên ngự tại tịnh xá tỳ kheo ni sầu khổ, than khóc, thật đáng thương vô cùng.

Rồi các tỳ kheo ni cùng các chư thiên ấy đi đến trưởng lão ni, phủ phục dưới chân Bà thưa rằng:

"Kính bạch Ni trưởng, chúng con được thấm nhuần dòng nước bất tử tại tịnh xá nầy, mới đây từ nơi sâu thẳm, quả địa cầu bỗng nhiên rung động, rung chuyển, trống chư thiên cũng tự vang tiếng và chúng con nghe tiếng than khóc. Kính bạch Ni trưởng, phải chăng có nguyên nhân gì phát sanh?".

Trưởng lão Ni Mahāpajāpatigotamī bèn thuật lại dòng tư tưởng của mình; kế đó, các vị tỳ kheo ni cũng lần lượt kể lại sự suy nghĩ của mình, xong chư Ni ấy thưa rằng:

"Kính bạch Ni trưởng, nếu Người muốn níp bàn thì chúng con sẽ níp bàn theo, chúng con sẽ rời khỏi ngôi nhà tam giới, đi đến thành phố thù diệu níp bàn cùng với người".

Trưởng lão Ni nói rằng:

"Khi các con đi níp bàn, thì ta còn biết nói gì".

Rồi Bà rời khỏi tịnh xá cùng với Chư Ni ấy, vừa bước ra cổng, Bà dừng lại nói với các chư thiên ngự tại tịnh xá rằng:

"Hãy hoan hỉ cho ta, đây là lần nhìn cuối cùng nơi tịnh xá Ni nầy, trong chỗ nào không có già, không có chết, không có tạo tác, không có thương yêu, không có xa lìa những vật thương yêu, nơi ấy các bậc hiền trí gọi là Asankhatasathāna (vô vi xứ)".

Nghe những lời ấy các vị còn phàm than thở rằng"

"Thật đáng buồn tủi, chúng ta là những người phước mỏng, tịnh xá Ni nầy từ nay sẽ trống vắng, và nơi đây sẽ không còn những tỳ kheo Ni thanh tịnh như vầy nữa, ví như những vì sao sẽ không còn khi mặt trời xuất hiện".

Trưởng lão Ni Gotamī cùng năm trăm tỳ kheo Ni đi níp bàn ví như dòng song Gaṇgā cùng với năm trăm con sông xuôi về biển cả vậy.

Các tín nữ thấy trưởng lão Ni đang đi trên đường, họ cùng nhau rời khỏi nhà, đến phủ phục dưới chân Bà than rằng:

"Kính bạch Ni trưởng, chúng con tịnh tín nơi Người, giờ Người đành bỏ chúng con để chúng con trở thành người bơ vơ không nơi nương tựa, Ni trưởng ơi! Xin chớ vội níp bàn".

Để giải toả nỗi sầu muộn của các tín nữ ấy, trưởng lão Ni khuyên rằng:

"Chớ có than khóc nầy các con, hôm nay các con cần phải vui mừng, vì sự khổ ta đã biến tri rồi, nguyên nhân sanh khổ ta đã đoạn trừ rồi, sự diệt khổ ta đã tác chứng rồi, và Thánh đạo ta cũng đã tu tập rồi, phận sư đối với bậc Đạo Sư ta đã thực hành rồi, lời Ngài dạy ta cũng đã làm xong, gánh nặng ta đã đặt xuống, ái hữu đã được ta nhổ sạch. Vì mục đích gì, những người rời bỏ nhà xuất gia sống không nhà, mục đích ấy ta đã chứng đạt rồi, mọi kiết sử đã được chấm dứt.

Các con ơi! chớ có sầu muộn vì ta, trưởng lão Koṇḍañña, trưởng lão Ānanda, trưởng lão Nanda vẫn còn, trưởng lão Rāhula cũng vẫn còn, chư Tăng vẫn sống hoà hợp an lạc, sao các con lại buồn.

Các con ơi! ước nguyện nào mà ta đã khởi tập, từ quá khứ xa xưa ước nguyện ấy sẽ thành tựu với ta trong ngày hôm nay, lúc nầy là lúc đánh trống hoan hỷ, những giọt nước mắt của các con sẽ có lợi ích gì? Nếu các con quý mến và biết ơn ta, các con hãy tinh cần an trú trong thiện pháp đi.

Việc ta năn nỉ xin bậc Đạo Sư cho hàng phụ nữ xuất gia và được Ngài chấp thuận, điều đó khiến ta vô cùng hoan hỷ, xin các con hãy tuỳ hỷ theo đi".

Sau khi trưởng lão Ni khuyên nhủ các tín nữ như thế, Bà cùng với chư Ni đi đến chỗ bậc Đạo Sư, đảnh lễ Ngài và thưa rằng:

"Kính bạch bậc Thiện Thệ, con là mẹ của Ngài. Kính bạch bậc Đại Tuệ, Ngài là cha của con. Kính bạch bậc Thế Y, Ngài là người ban an lạc cho con. Kính bạch bậc Đại Sa Môn, Ngài là sanh mẫu của con. Kính bạch Đức Thế Tôn, pháp thể Ngài được tăng trưởng từ những giọt sữa của con, nhờ những giọt sữa nầy mà Ngài đã hết khát trong một lúc, còn tâm con được lớn mạnh từ dòng sữa Chánh Pháp của Ngài, nhờ dòng sữa nầy mà con vĩnh viễn chấm dứt mọi thèm khát. Kính bạch bậc Đại Ẩn Sĩ, được làm mẹ của Chuyển Luân Vương là một vinh hạnh lớn lao của hàng phụ nữ, nhưng mẹ như vậy được gọi là mẹ trong biển luân hồi. Kính bạch Ngài con bị chìm trong biển luân hồi, được Ngài cứu thoát khỏi dòng luân hồi ấy. Đối với phụ nữ muốn làm mẹ của Chuyển Luân Vương đã là khó, nhưng bội bội phần khó hơn là làm Phật mẫu. Kính bạch bậc Đại Hùng, danh xưng Phật mẫu ấy con cũng đã được rồi, sự ước muốn dầu nhỏ hay lớn nay với con đã chấm dứt. Đời sống phạm hạnh mà con đã dầy công thực hành chỉ với mục đích duy nhất là từ bỏ ngũ uẩn níp bàn. Kính bạch bậc Dứt Khổ xin Ngài từ bi chấp thuận cho con, xin Ngài hoan hỷ duỗi hai bàn chân có đầy căm xe và cờ thật mềm mại như hoa sen, con sẽ đảnh lễ bàn chân ấy. Kính bạch bậc Dẫn Dắt, xin Ngài từ bi hiện thân với đầy đủ tướng tốt, sáng chói như khối vàng, sau khi chiêm ngưỡng con sẽ níp bàn".

Bậc Đạo Sư bèn hiển lộ kim thân đầy đủ với ba mươi hai đại nhân tướng, được tô điểm với hào quang xinh đẹp như mặt trời toả ánh sáng êm dịu trong buổi hoàng hôn. Rồi trưởng lão Mahāpajāpatīgotamī với trọn lòng thành kính phủ phục dưới chân Thế Tôn, thưa rằng:

"Con xin đảnh lễ bậc dòng dõi mặt trời, chúa của muôn loài, Ngài là ngọn cờ chiến thắng của dòng dõi mặt trời, con xin quy y Ngài lần cuối cùng, để rồi không còn gặp lại Ngài nữa. Kính bạch bậc Cao Quý của thế gian, thông thường các phụ nữ gây nên những lỗi lầm rồi mệnh chung, nếu con có lỗi lầm gì, xin Ngài từ bi xá những lỗi lầm ấy cho con.

Lại nữa, con đã cố nài nỉ Ngài cho hàng phụ nữ xuất gia. Kính bạch bậc Thượng Nhân, nếu đây là một lỗi lầm, thì xin Ngài từ bi xá lỗi ấy cho con. Kính bạch bậc Đại Hùng, các tỳ kheo Ni đồ chúng của con, nếu có phạm lỗi gì, xin Ngài từ bi tha thứ.

Đức Thế Tôn phán rằng:

"Nầy Gotamī người trang điểm với đức hạnh, làm sao có lỗi lầm với người sắp níp bàn, Như Lai sẽ nói gì, khi Tăng chúng của Ta thanh tịnh không khiếm khuyết".

Lúc bấy giờ năm trăm vị tỳ kheo Ni, đi nhiễu quanh Đức Thế Tôn, ví như các vì sao di chuyển quanh Tu di sơn vương vậy. Còn trưởng lão Ni, sau khi phủ phục dưới chân Thế Tôn, Bà đứng lên, hướng nhìn Ngài thưa rằng:

"Mắt của chúng con không bao giờ biết no đủ khi ngắm nhìn Ngài, tai của chúng con không bao giờ biết no đủ với kim ngôn của Ngài, tâm của chúng con duy nhất được no đủ với vị pháp của Ngài.

Kính bạch bậc Cao Cả của muôn loài, khi Ngài tuyên thuyết Chánh Pháp để diệt trừ phiền não cho hội chúng, những người nào được diện kiến Ngài, những người ấy gọi là người có phước. Kính bạch bậc Thượng Đức, những người nào đảnh lễ dưới chân Ngài, những người ấy gọi là người có phước.

Kính bạch bậc Thượng Nhân, những người nào được nghe pháp âm vi diệu của Ngài có công năng ly khổ đắc lạc, những người ấy gọi là người có phước".

Kế đó, trưởng lão Ni trình bạch về việc níp bàn của mình trước chư tỳ khưu Tăng, xong Bà đến đảnh lễ tôn giả Rāhula, tôn giả Ānanda, tôn giả Nanda và nói như vầy:

"Các con ơi! Mẹ nhàm chán xác thân nầy, xác thân nầy như là chỗ ở của rắn độc, chỗ ngụ của bệnh hoạn, ngôi nhà của khổ, hành xứ của già và chết, đầy dẫy những bụi phiền, yếu đuối phải dựa vào người khác, chính vì vậy, Mẹ mới mong níp bàn. Các con ơi! Hãy hiểu cho Mẹ".

Tôn giả Nanda và tôn giả Rāhula là bậc ly sầu, vô lậu, kiên cố bất động, trí tuệ, tinh cần, suy nghĩ rằng:

"Cả tam giới nầy, do duyên tạo tác không vững chắc, không có lõi ví như cây chuối, như trò ảo thuật hay như bào ảnh, trưởng lão Ni Mahāpajāpatīgotamī, người nuôi dưỡng Đức Phật, rồi cũng không thể tránh khỏi cái chết, các pháp hữu vi là vô thường".

Lúc bấy giờ, tôn giả Ānanda còn là bậc hữu học, Ngài không chịu nổi cảnh biệt ly như thế, ràn rụa nước mắt, thật đáng thương tâm.

Thấy tôn giả Ānanda sầu não như thế, Bà đến an ủi rằng:

"Con ơi! Ai cũng đều phải chết, con không nên sầu muộn vì sự chết của Mẹ nhờ vào lời cầu xin của con, Mẹ mới được bậc Đạo Sư cho phép xuất gia. Con ơi! Con chớ bi ai, con hãy gắng gìn giữ giáo pháp, Mẹ nhìn con lần nầy là lần cuối cùng. Với người đi trong hướng nào để không xuất hiện nữa thì Mẹ sẽ đi trong hướng ấy".

Rồi Đức Thế Tôn nói với trưởng lão Ni rằng:

"Nầy Gotamī, những kẻ ngu nào hoài nghi sự giác ngộ của chúng sanh, ngươi hãy hiển thị thần thông, để cho những kẻ ngu ấy từ bỏ tà kiến".

Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, trưởng lão Ni bay lên hư không, biểu diễn thần thông, theo sự cho phép của Bậc Đạo Sư, Bà hoá hiện một thân thành nhiều thân, nhiều thân thành một thân, làm cho xuất hiện, làm cho biến mất, đi xuyên qua vách tường, vách núi như đi nơi chỗ trống, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên mặt nước không bị chìm xuống như trên đất liền, bay lên hư không như loài chim, tự thân bay đến cõi phạm thiên, trưởng lão Ni dùng thần thông lực biến hoá đủ loại, rồi thưa rằng:

"Kính bạch bậc Đại Hùng, con hành theo lời dạy của Ngài, đã chứng đạt lợi ích, con xin đảnh lễ dưới chân của Ngài".

Trưởng lão Ni bèn ngự xuống từ hư không, đảnh lễ bậc Đạo Sư, xong Bà ngồi một nơi phải lẽ, thưa rằng:

"Kính bạch Đại Ẩn Sĩ, nay con thọ được một trăm hai mươi tuổi, với chừng ấy cũng vừa đủ, con xin từ biệt níp bàn".

Lúc bấy giờ, năm trăm tỳ kheo Ni đồ chúng của trưởng lão Ni, cùng nhau bay lên hư không với uy lực thần thông các tôn Ni sáng chói như những vì sao di hành chung nhau, chư tôn Ni ấy đã hoá hiện nhiều loại thần thông như những thợ vàng thuần thục chế biến nhiều loại trang sức vậy.

Sau khi hoá hiện nhiều loại thần thông, các tỳ kheo Ni ấy, hạ xuống từ hư không, đảnh lễ bậc Đạo Sư, rồi ngồi một nơi phải lẽ, thưa rằng:

"Kính bạch bậc Đại Hùng, trưởng lão Ni Gotamī, là người tiếp độ chúng con, nay chúng con đã tỏ ngộ giáo pháp, chấm dứt các lậu hoặc, thiêu đốt mọi phiền não, nhổ tận gốc sanh hữu, chặt đứt mọi kiết sử như người thợ chặt dây. Việc chúng con đi đến với Thế Tôn là việc đến tốt đẹp, tam minh chúng con đã chứng đạt, lời Phật dạy làm xong. Chúng con thuần thục trong hoá thông và thiên nhĩ thông. Kính bạch Đại Ẩn Sĩ, chúng con thuần thục tha tâm thông, chứng ngộ túc mạng minh, thiên nhãn được thanh tịnh, đoạn tận các lậu hoặc, sanh hữu mới không còn. Kính bạch bậc Đại Hùng, chúng con có trí tuệ thấu triệt trong tứ vô ngại giải, trí ấy phát sanh từ chỗ của Ngài. Kính bạch Đại Ẩn Sĩ, xin Ngài hoan hỷ cho phép chúng con níp bàn".

Bậc Đạo Sư phán rằng:

"Nầy các Tỳ khưu Ni, khi các ngươi ngỏ lời xin Niết Bàn, Như lai còn gì để nói, nay các ngươi hãy làm những gì, nghĩ là hợp thời".

Rồi Trưởng lão Ni cùng chư Ni ấy, đãnh lễ bậc Đạo Sư, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, Đức Thế Tôn cùng hội chúng tiễn Trưởng lão Ni đến tận cổng. Trưởng lão Ni cùng chư Ni phủ phục dưới chân bậc Đạo Sư thưa rằng:

"Đây là lần đảnh lễ cuối cùng của chúng con và lần diện kiến nầy cũng là lần diện kiến sau cuối, để rồi chúng con sẽ không con gặp lại Ngài nữa, vì lát nữa đây chúng con sẽ Niết Bàn".

Kế đó, Trưởng lão Ni cùng chư Ni đi về Tịnh xá của mình an tọa trên chỗ ngồi,

Lúc bấy giờ, các tín nữ trong kinh thành, nghe tin về Trưởng lão Ni, cùng nhau đi đến Tịnh xá, đảnh lễ dưới chân bà, rồi than van khóc lóc thật đáng thương, với tâm trạng đầy sầu muộn, họ thưa rằng:

"Kính bạch Ni trưởng, người là chỗ nương tựa của chúng con, xin người đừng bỏ chúng con mà Niết bàn, chúng con khấu đầu cúi xin người".

Trưởng lão Ni xoa đầu một tín nữ là người có niềm tin, có trí tuệ, là bậc huynh trưởng của các bậc tín nữ ấy, khuyên như vầy:

"Các con ơi! Khi sầu muộn có nghĩa rơi vào cạm bẩy của ác ma, như vậy thật không nên, các pháp hữu vi là vô thường, mỗi con người cuối cùng rồi cũng phải biệt ly, các con chớ có sầu muộn làm gì".

Nói xong, Trưởng lão Ni tuần tự nhập Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, nhập thiền không vô biên xứ, , nhập thiền thức vô biên xứ, nhập thiền vô sở hữu xứ, nhập thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi, nhập thiền theo chiều xuôi, Trưởng lão Ni bèn nhập thiền theo chiều nghịch, rồi nhập trở lại từ sơ thiền cho đến tứ thiền, xuất tứ thiền bà viên tịch Niết bàn ví như ngọn đèn hết dầu rồi tắt vậy.

Năm trăm vị Tỳ khưu Ni ấy, cũng đồng lượt Niết bàn với Ni turởng Gotamī.

Lúc bấy giờ, quả địa cầu rung chuyển, sấm chớp vang trời, trống chư thiên cũng tự vang tiếng, các chư thiên nhỏ lệ mưa hoa từ hư không rơi xuống, ngọn Tu Di sơn vương cũng rung chuyển, đại dương cũng nổi sống. Các hàng chư thiên, Long vương, Atula và Phạm thiên đều đồng tâm kính tiếc tự thốt lên lời rằng:

"Các pháp hữu vi là vô thường, ví như Trưởng lão Ni nầy cuối cùng cũng hoại diệt, tất cả chúng sanh hợp nhau rồi tan là chỗ cuối cùng, mạng sống nầy cũng đi theo qui luật ấy".

Bậc Đạo Sư phán gọi Tôn giả Ānanda đến dạy rằng:

"Nầy Ānanda, người hãy đi thông bào cho chư Tăng biết việc Niết bàn của trưởng lão Ni".

Lúc ấy, tôn giả Ānanda với tâm trạng sầu thảm, đôi mắt ứa lệ, cất tiếng rằng:

"Xin chư Tỳ trong hướng đông, hướng nam, hướng tây và hướng bắc, hãy đến vân tập, vị trưởng Ni, người đã làm cho thân cuối cùng của bậc D9aọ Sư lớn lên bằng sữa, với danh xưng Mahāpajāpatigotamī đã Niết bàn, ví như vì sao mặt trời mọc vậy, xin quý Ngài hãy tạo sự tôn trọng đối với Phật mẫu đi".

Chư Tỳ khưu nghe lời bố cáo ấy, vội vã đi đến, có một số vị đến bằng Phật lực, có một số vị thiện xảo trong thần thông, cùng đến bằng thần thông rồi cùng nhau đưa linh sàng của trưởng lão Ni Gotamī, an trú trong hỏa đài cao quí, đặc biệt được làm toàn bằng vàng rất đẹp, bốn vị Thiên vương đưa vai tiếp nhận hỏa đài, đức Đế Thích cùng các chư thiên cũng đến tiếp nhậc hỏa đài, tổng cộng có năm trăn hỏa đài do Thiên tử Vissukamma hóa tạo, có màu sắc rực rở như mặt trời giữa mùa thu, các vị chư thiên tuần tự khiêng linh sàng của năm trăm tôn Ni an trú vào hỏa đài. Các bệ hỏa đài được trải đầy hoa, các chư thiên cúng dường bông hoa vật thơm và ca múa, nhóm long cung, Atula và phạm thiên cũng đến cúng dường Phật mẫu.

Dẫn đầu đoàn tang lễ là nhân loại, chư thiên, long vương, Atula và phạm thiên, kế là năm trăn hỏa đài an trí nhục thể của năm trăm vị tôn Ni, tiếp theo là hỏa đài của trưởng lão Ni Gotamī, sau cùng là Đức Phật cùng chư Tăng.

(Đây là một lễ tang vô cùng tôn nghiêm, long trọng và hi hữu, với sự tham dự của Đức Thế Tôn và nhiều vị đại Thinh văn).

Tang lễ của Đức Phật không được đầy đủ như thế, khi Đức Thế Tôn Niết bàn, không có mặt hai vị chí thượng thinh văn và một số vị đại Thinh văn.

Mọi người giúp nhau làm bệ hỏa đài thành tựu bằng vật thơm và rãi đầy bột thơm, rồi thiêu nhục thể chư tôn Ni trên bệ ấy, lửa thiêu đốt tất cả chỉ còn lại Xá - lợi.

Nhìn quanh cảnh ấy, tôn giả Ānanda than rằng:

"Trưởng lão Ni Gotamī đã viên tịch Niết bàn, nhục thể của bà cũng bị thiêu đốt hết, rồi không bao lâu nữa Thế Tôn cũa sẽ Niết bàn".

Sau đó, bậc Đạo Sư dạy tôn giả Ānanda nhặt Xá -lợi của trưởng lão Ni Gotamī đặt vào bát của bà, rồi dâng lên Đức Phật. Bậc Đạo sư cầm bát đựng Xá - lợi phán rằng:

"Vì hữu vi là thực tánh vô thường nên dù trưởng lão Ni Gotamī, là bậc Ni trưởng trong hàng Ni chúng cũng phải Niết bàn, ví như thân cây lớn có lõi rắn chắc, dù to lớn nhưng rồi cũng bị hư hoại. Hãy nhìn nầy Ānanda, Phật mẫu Niết bàn chỉ còn lại Xá - lợi, cũng không có sự sầu bi nào cả".

Tôn giả Ānanda thưa rằng:

"Thật vi diệu thay là mẹ của ta, bà Niết bàn chỉ còn lại Xá - lợi, không có sự sầu bi nào cả".

Đức Thế Tôn phán rằng:

"Trường lão Ni Gotamī đã vượt qua biển luân hồi, đã đoạn trừ nhân khiến cho nhiệt não, trở thành bậc an tịnh, Gotamī là bậc hiền trí, bậc đa tuệ, bậc quãng tuệ và là bậc kỳ cựu nhất trong hàng Ni chúng".

Nầy chư Tỳ khưu, các người hãy thọ trì như vầy Gotamī là bậc thuần thục trong hóa thông, thiên nhĩ thông và tha tâm thông, đã chứng ngộ túc mạng minh, thiên nhãn được thanh tịnh và đoạn tận các lậu hoặc, sanh hữu mới không còn, với trí tuệ thấu triệt tứ vô ngại giải, vì vậy không nên sầu muộn đến Gotamī ấy. Hành tướng (gati) của lửa khi bị dập tắt, không ai biết được như thế nào, hành tướng của người thoát khỏi phiền não, thoát khỏi bộc lưu, chứng đạt pháp bất động cũng không ai biết được dường thế ấy. Do vậy, các ngươi hãy tự mình làm chỗ nương tựa, lấy niệm xứ làm con đường đi, khi các ngươi tu tập thất giác chi thì sẽ chấm dứt mọi khổ đau.

*

13- BÀI KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI UPPALAVAṆṆĀ
UPPALAVAṆṆĀTHERĪGĀTHĀ

Được biết trưởng lão Ni Uppalavaṇṇā đã nói lên bài kệ rằng:

"Cả hai mẹ và con
Cùng có chung một chồng
Cảnh ngộ thật hy hữu
Khiến ta động tâm mạnh
Với lông tóc dựng ngược"
"Khả ố thay các dục
Đầy bất tịnh hôi thối
Nhiều gai gốc phiền muộn
Tại đấy mẹ và con
Làm vợ chung một chồng"
"Thấy các dục nguy hại
Thấy xuất ly an lạc
Ta rời bỏ xuất gia
Sống cuộc đời không nhà"
"Chứng tri túc mạng minh
Thiên nhãn ta thanh tịnh
Trí tuệ biết tâm người
Cùng thiên nhĩ trong sạch"
"Ta chứng đạt hóa thông
Đoạn tân các lậu hoặc
Tác chứng sáu thắng trí
Lời phật dạy làm xong"
"Với uy lực thần thông
Ta hóa xe tứ mã
Đảnh lễ dưới chân Phật
Bậc nương tựa của đời".

Một hôm ác ma đi đến lung lạc nàng với bài lệ rằng:

"Nàng đi đến gốc cây
Đang nở hoa xin đẹp
Nàng đứng chỉ một mình
Đơn độc không bạn hữu
Chứ bộ nàng không sợ
Cám dỗ, kẻ làng chơi".
Trường lão Ni đáp:
"Trăm ngàn kẻ làng chơi
Đến vây quanh cám dỗ
Mảy lông ta không động
Hỡi nầy ác ma kia
Chỉ với một mình ngươi
Sẽ làm gì được ta"
"Ta có thể biến mất
Vào bụng ngươi cũng được
Hay đứng giữa lông mày
Nhưng ngươi chằng thấy ta"
"Vì tâm ta thuần thục
Thần túc khéo tu tập
Tác chứng sáu thắng trí
Lời Phật dạy làm xong".
"Các dục như gươm giáo
Các uẩn là thớt chặt
Các dục mà người gọi
Là lạc thú cuộc đời
Nay những dục lạc ấy
Với ta không còn nữa"
"Luôn cả khối si ám
Cũng bi ta phá tan
Hỡi này, ác ma kia
Ngươi hãy biết như vậy
Ngươi đã bị bại trận".

Trong thời Giáo Pháp của Đức Tôn Padumuttara, vị Trởng lão Ni nầy tái sanh trong một gia đình trưởng giả giáu có, tại thành Haṃsavatī.

Một hôm, nàng cùng với đại chúng đi đến Tịnh xá nghe pháp, nhìn thấy bậc Đạo Sư biểu dương một vị Tỳ khưu Ni đệ nhất về thần thông trong hàng Ni chúng. Thỏa thích với hình ảnh đó, nàng cung kỉnh bậc Đạ Sư cùng chư Tăng về cúng dường trai phạn suốt bảy ngày và cúng dường y, xong nàng cúi đầu dưới chân bậc Đạo Sư, chú nguyện như vầy:

"Kính bạch bậc Đại Hùng, do phước báu nào mà con đã trong sạch cúng dường thực phẩm và y đến Ngài cùng chư Tăng, cầu xin cho con được thành tựu vị trí như tôn Ni kia vậy".

Lúc bấy giờ, bậc Đạo Sư phán với nàng rằng:

"Nầy tín nữ, người có tấm lòng cao quí, trong tương lai trải qua 100 ngàn đại kiếp có vị Chánh Đẳng Giác hồng danh Gotama, là bậc Đạo Sư của thế gian, ngự sanh lên. Ngươi sẽ trở thành người thừa tự Giáo pháp của Đức Thế Tôn ấy, là người có đại thắng trí, hành theo lời dạy của bậc đạo Sư, chấ, dứt các lậu hoặc và trờ thành đại Thinh văn đệ nhất về thần thông, với danh xưng là Uppalavaṇṇā.

Sau khi nghe lời tiên đoán của bậc Đạo Sư, nàng vô cùng hoan hỷ, từ đó nàng cácng tích cực hơn trong các thiện sự, an trú trong giới hạnh của người cư sĩ, sống từ bi bác ái đối với mọi loài và hết lòng hộ độ Đức Phật cùng Tăng chúng.

Nhờ các thiện nghiệp ấy nên sau khi mệnh chung, nàng được sanh lên cõi Đạo Lợi.

Trong kiếp thứ chín mươi mốt, có vị Chánh Đặng Giác hồng danh Vipassī, bậc tỏ ngộ các pháp, sanh lên trong thế gian.

Vào thời ấy, nàng tái sanh trong một gia đình triệu phú tại thành Bārāṇasī, xứ Kāsī.

Do thiện duyên đời trước, nên từ nhỏ nàng được hấp thụ ánh sáng Chánh pháp, và trở thành một tìn nữ ngoan đạo.

Nàng thường xuyên hộ độ cúng dường tứ sự đến Đức Phật cùng Tăng chúng, do muốn được dung sắc xinh đẹp nên nàng luôn cúng dường hoa sen đến Đức Phật và chú nguyện cho mình có một dung sắc xinh đẹp như hoa sen.

Trong thời Giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, nàng sanh làm công chúa thứ hai của đức vua Kiki tại thành Bārāṇasī, xứ Kāsī và tên là Samanagutta.

Phụ vương của nàng là một cận sự nam sùng kính Tam bảo và là một đại đàng tín của Đức Phật Kassapa, nhờ vậy mà từ nhỏ nàng luôn có cơ hội đặt bát cúng dường Đức Phật cùng chư Tăng.

Khi lớn lên, nàng được thấm nhuần hương vị Chánh pháp từ nơi Đức Phật, nàng thỏa thích đời sống xuất gia, nhưng phụ vương không cho.

Mặc dầu không được xuất gia, nhưng bảy chị em nàng vẫn không xao lãng ý tưởng xuất ly thọ trì thập giới, tinh tấn thực hành phạm hạnh suốt 20 ngàn năm.

Do những phước lành ấy, sau khi mệnh chung, nàng được sanh lên cõi Đạo Lợi.

Mãng thọ từ cõi trời, nàng tái sanh trong một gia đình nghèo, tại ngôi làng của dân lao động.

Một hôm, trên đường đi ra đồng gặt lúa, nàng nhìn thấy đóa sen mới nở dưới ao nước bên vệ đường, bèn lội xuống ao, hái lá sen và vài lá sen.

Khi ra đến chồi, nàng ngồi rang cốm và gối 500 hạt cốm vào những lá sen.

Lúc bấy giờ, tại núi Gandhamādana có một vị Độc Giác Phật vừa xuất thiền diệt, Ngài ôm bát ngự đi khất thực, không xa chòi lá của nàng, nhìn thấy Đức Độc Giác với những bước chân từ tốn thoát tục, nàng phát tâm trong sạch, cầm lấy gói cốm cùng đóa sen rời khỏi chòi lá, đến đặt vào bát của Ngài.

Khi Ngài vừa bước đi, nàng suy nghĩ rằng:

"Thông thừơng, các bậc xuất gia không cần hoa, vậy ta hãy nhận lại đóa hoa để trang điểm cho mình".

Nghĩ vậy nàng bèn đến lấy đóa hoa sen từ tay đức Độc Giác, cầm đóa sen trên tay, nàng chợt nghĩ:

"Nếu Ngài không cần dùng hoa, thì Ngài sẽ ngăn không nhận, vậy là Ngài thật sự cần dùng".

Nàng bèn đặt đóa sen trên bát và xin sám hối Ngài. Sau khi sám hối xong, nàng thành tâm chú nguyện rằng:

"Kính bạch Ngài, do phước mà con trong sạch cúng dường những hạt cớm, xin cho con có được những đứa con trai bằng với số lượng hạt cớm ấy và do quả phước cúng dường hoa sen, xin cho hoa sen hãy mọc lên dưới mỗi bước chân của con".

Đức Độc Giác nói lời tùy hỷ phúc chúc rồi bay về núi Gandhamādana trước sự chứng kiến của nàng. Ngài bèn lấy đóa sen đặt nơi bậc thang để làm vật chùi chân cho chư Phật Độc Giác và thọ dụng những hạt cớm.

Với thiện sự ấy, sau khi mệnh chung nàng được sanh lên thiên giới và có hoa sen mọc lên đỡ lấy những bước chân của nàng. Mãng thọ từ thiên giới, nàng tái sanh trong hoa sen, tại một ao sen gần chân núi, cạnh chân núi này có một vị đạo sĩ nương trú.

Vào buổi sáng, đạo sĩ lần xuống ao rửa mặt, nhìn thấy hoa sen ấy có vẻ khác thường, ông thầm nghĩ:

"Hoa sen này to hơn những đóa kia, nhưng những đóa kia đã nở hết rồi, sau đó hoa này vẫn còn búp, chắc là có nguyên nhân trong đóa sen ấy".

Nghĩ vậy, vị đạo sĩ bèn lội xuống nước hái lấy đóa sen ấy, khi bàn tay đạo sĩ vừa chạm vào, tức thì những cánh sen nở ra, đạo sĩ nhìn thấy một cô bé nằm trong đóa sen, vừa thấy đứa bé từ trong lòng đạo sĩ đã dâng lên một mối tình phụ tử thiêng liêng, ông liền bê đóa sen ấy về am thất của mình và đặt trên giường.

Do phước báu của đứa bé, mỗi khi nó khát sữa, mút tay, thì có một dòng sữa phát sanh từ đầu ngón tay của bé khiến nó không bao giờ bị đối khát.

Khi đóa hoa ấy héo, vị đạo sĩ bèn hái một đóa mới về thay, khi đứa bé biết đi, có hoa sen mọc lên đỡ lấy mỗi bước đi. Càng lớn, làn da và dung sắc của đứa bé càng trở nên tươi sáng và xinh đẹp, khi đạo sĩ vào rừng hái trái, đứa bé phải ở lại một mình trong am thất.

Khi nàng trường thành, theo thường mỗi buồi sáng vị đạo sĩ vào rừng hái trái.

Một hôm, sau khi vị đạo sĩ rời am thất vào rừng, tình cờ có một người thợ săn đi ngang qua am thất, nhìn thấy nàng, đầy kinh ngạc, ông ta nghĩ rằng:

"Nếu nàng ấy là người, sau lại có một dung sắc đặc thù như thế".

Nghĩ vậy, người thợ săn bèn núp vào một góc cây chờ vị đạo sĩ trở về. Khi đạo sĩ trở về, nàng bước ra tiếp nhận gánh trái cây và bình đựng nước.

Thấy vậy, người thợ săn biết chắc nàng là người, bèn đi đến đạo sĩ. Vị đạo sĩ lấy khoai củ, trái cây và nước uống mời người thợ săn rồi hỏi rằng:

"Nầy ông bạn, ông định nghĩ lại đây hay sẽ đi".

Người thợ săn đáp:

- Tôi sẽ đi bạch Ngài.

Vị đạo sĩ nói:

- Những gì ông đã thấy, sau khi rời khỏi nơi đây, xin ông đừng tiếc lộ với bất cứ ai được chăng?

Người thợ săn đáp:

- Nếu Ngài không muốn, thì tôi sẽ không nói đâu. Mặc dầu hứa với đạo sĩ như vậy, nhưng người thợ săn vẫn làm dấu nơi gốc cây, nơi con đường với ấy định sẽ quay lại.

Người thợ săn đi đến thánh Bārāṇasī, vào yết kiến đức vua, đức vua phán hỏi rằng:

"Khanh đến có chuyện chi chăng?"

Người thợ săn thưa:

"Muôn tâu Hoàng thượng, thần là thợ săn của Ngài, thần đã gặp một thiếu nữ thật đặc biệt ở gần chân núi, nên đến báo tin cho Hoàng thượng".

Rồi thuật lại mọi chuyện cho đức vua, sau khi nghe xong đức vua vội vã đi đến chân núi, dựng lều trại một chỗ không xa, rồi cùng với người thợ săn và một số vệ quân ngự đến am thất.

Lúc bấy giờ, vị đạo sĩ vừa thọ thực xong, đang ngồi nghĩ, đức vua tiến đến xá chào vấn an đạo sĩ, rồi ngồi xuống một nơi phải lẽ, đặt những vật dụng dành cho bậc xuất gia cạnh chân của đạo sĩ và phán rằng:

"Trẩm có một vài công việc cần phải giải quyết tại đây - Bạch đạo trưởng"

Đạo sĩ thưa rằng:

"Xin Đại vương cứ nói"

Đức vua phán: - Trẩm được người trình báo rằng, tại vùng này có một số kẻ ác, chúng có thể gây bất lợi cho Đạo trưởng, xin đạo trưởng hãy đi cùng với trẩm.

Đạo trưởng thưa: - Muôn tâu bệ hạ, đối với tâm tư con người thật khó khiến cho vừa ý, bần đạo có đứa con nuôi, nó sinh ra và lớn lên tại chốn hoang liêu cô tịch nầy, chẳng biết nó sẽ sống ra sao giữa chốn phồn hoa đô hội.

Đức vua phán: - Nếu Trẩm thương yêu nàng, trẩm sẽ hết lòng bảo bộc và đặt nàng ở ngôi vị cao quí nhất.

Nghe Đức vua nói vậy, đạo sĩ bèn gọi:

"Này Padumavatī thân yêu – Con hãy ra đây"

Nàng từ trong am thất bước ra vái chào, đạo sĩ nói với nàng:

"Này con thân, con đã trở thành thiếu nữ rồi, nơi đây không còn thích với con nữa, con hãy đi theo đức vua".

Nàng đáp: - Lành thay! – Thưa cha.

Rồi quỳ xuống bái biệt người cha thân yêu cùng với những giọt nước mắt.

Đức vua thấy vậy an ủi rằng:

"Nàng hãy yên tâm, trẩm sẽ bảo bộc cha của nàng, rồi đức vua đặt một số tiền vàng, ngay phía trước để làm nghi lễ rước nàng về hoàng cung.

Từ khi đức vua được nàng, Ngài không quan tâm đến những cung phi khác, chỉ vui vầy hoang lạc với riêng nàng, khiến các cung phi ấy sanh lòng ganh ghét muốn hãm hại nàng.

Một hôm, họ đi đến đức vua thưa rằng:

"Muôn tâu bệ hạ, người phụ nữ nầy, chẳng phải là loài người đâu, bệ hạ có từng thấy hoa sen mọc lên trên đường đi chăng, nàng nầy chắc chắn là Dạ xoa, xin bệ hạ hãy trục xuất nó khỏi kinh thành đi".

Nghe xong, đức vua im lặng.

Sau đó, tại vùng biên địa dấy loạn, đức vua nghĩ rằng:

"Hoàng hậu Padumavatī sắp đến ngày khai hoa, ta không thể đem nàng theo" đức vua đành để hoàng hậu ở lại kinh thành thống lĩnh sĩ tướng ra nơi biên địa.

Khi biết Hoàng hậu Padumavatī sắp đến ngày sanh nở, do lòng ganh ghét ngắm ngằm từ lâu, các cung phi bèn đút lót các tỳ nữ của Hoàng hậu và dặn rằng:

"Khi nào Hoàng hậu hạ sanh ngươi hãy mang đứa bé đi và lấy một khúc gổ thoa máu lên thay vào đó" không lâu sau, Hoàng hậu hạ sanh một vị Thái tử, vị Thái tử nầy sanh từ thai bào, còn 499 vị Thái từ còn lại, sanh từ thấp sanh.

Sau khi sanh xong, Hoàng hậu bị hôn mê, người nữ tỳ biết tình trạng của nàng, bèn thoa máu lên khúc gổ đem vào thay, rồi thông báo cho các cung phi, 500 cung phi mỗi người nhận một vị Thái tử gởi đến ngôi làng của người thợ tiện và đặt mỗi vị trong một cái hộp gổ phía ngoài có làm dấu.

Khi Hoàng hậu thức tỉnh, bèn gọi nữ tỳ đến hỏi rằng:

"Ta sanh rồi chưa?"

Nữ tỳ đáp:

"Thưa nương nương, nương nương chẳng có sanh một đứa bé nào cả", rồi đặt khúc gổ thoa máu trước mặt nàng thưa rằng:

"Đây là đứa con sanh ra từ thai bào của nương nương".

Nhìn khúc gổ, nàng vô cùng đau khổ, bảo đứa tỳ nữ rằng:

"Ngươi hãy chẻ khúc gổ ấy và đem quăng bỏ, ta sẽ phải hổ thẹn nếu có người biết chuyện này".

Nữ tỳ vâng lệnh Hoàng hậu chẻ khúc gổ và quăng vào lò lửa.

Nói về Đức vua từ biên cương trở về, do tin vào giờ lành, Ngài phán truyền cho nghĩ ngoài cổng thành.

Lúc bấy giờ, các cung phi hay tin bèn đi ra tiếp đoán đức vua và thưa rằng:

"Muôn tâu bệ hạ, có lẽ bệ hạ không tin những lời của bọn thiếp, nếu vậy xin bệ hạ cho gọi nữ tỳ của Hoàng hậu đến tra hỏi, Hoàng hậu của Ngài hạ sanh một khúc gổ".

Đức vua chưa kịp tra xét sự việc lại quả quyết rằng:

"Nàng nầy chắc chắn không phải là loài người, bèn đuổi nàng ra khỏi Hoàng cung. Khi nàng rời khỏi Hoàng cung những đóa sen cũng tự biến mất, đồng thời làn da trên thân thể của nàng cũng tái nhợt đi, nàng một mình thơ thẩn trên đường".

Lúc ấy, có một bà cụ nhìn thấy nàng, tự nhiên trong lòng bà phát sanh một tình thương như là con của mình, bèn cất tiếng hỏi rằng:

"Nầy con, con sẽ đi về đâu?"

Nàng đáp: - Thưa bà, tôi là người lữ hành đang đi tìm quán trọ.

Bà lạo nói: - Con hãy đến chổ nầy.

Rồi dẫn nàng đến một phước xá sắp đặt vật thực nuôi nàng và nhận nàng làm con nuôi. Nàng đã tạm ở chổ đó với đời sống như vậy.

Sau khi Hoàng hậu Padumavatī ra đi, 500 cung phi đi đến đức vua thưa rằng:

"Muôn tâu bệ hạ, khi bệ hạ xua quân đi dẹp loạn, chúng thiếp có khấn nguyện rằng: - Nếu bệ hạ chiến thắng trở về, chúng thiếp sẽ làm lễ tạ ơn chư thiên tại dòng sông Gaṅgā, cúi xin bệ hạ hãy ân chuẩn lời thỉnh cầu của chúng thiếp".

Đức vua hoan hỷ chấp thuận lời thỉnh cầu ấy, và cùng ngự đến bờ sông Gaṅgā. Các cung phi mang theo những hộp gổ được phủ kín vải. Khi đến bờ sông, các nàng ôm những hộp gổ ấy nhảy xuống nước và thả trôi các chiếc hộp. Những chiếc hộp trôi đi một đoạn bị dính vào lưới.

Các quan lính kéo lưới lên, thấy những chiếc hộp, đem đến trình với đức vua. Đức vua quan sát những chiếc hộp phán hỏi rằng:

"Nầy các khanh cái gì ở trong những chiếc hộp ấy?".

- Muôn Tâu Hoàng thượng, chúng thần không biết.

Đức vua bèn cho mở các hộp ấy ra xem, chiếc hộp của Thái tử Mahāpaduma được mở đầu tiên, trong thời gian, các Hoàng tử ở trong hộp do quả phước từ nơi đầu ngón tay của các vị phát sanh dòng sữa, khi các Hoàng tử đói nút ngón tay của mình như được mẹ cho bú vậy, và đức trời Đế Thích cho khắc chữ bên trong hộp để đức vua tin chắc rằng: các cậu bé này được sanh từ bào thai của Hoàng hậu Padumavatī và là Hoàng tử của đức vua Bārāṇasī.

Lúc bấy giờ, 500 cung phi kẻ thù hãm hại Hoàng hậu Padumavatī, xin đức vua tra xét kỹ việc này, vừa mở hộp đức vua nhìn thấy đứa bé và dòng chữ, từ nơi sâu thẳm của trái tim nói với đức vua rằng: - Đây chính là Hoàng tử của Ngài. Đức vua vui mừng bế Hoàng tử lên phán truyền rằng:

"Các khanh chuẩn bị ngựa, hôm nay trẩm sẽ đi vào thành, Đức vua ngự lên tòa lâu đài đặt một ngàn đồng tiền vàng trên cổ voi, cho đánh trống báo tin với mọi người rằng:

"Người nào gặp Hoàng hậu Padumavatī, người ấy sẽ được thưởng 1000 đồng tiền vàng này", sau khi nghe lời bố cáo ấy Padumavatī nói với mẹ rằng:

"Thưa mẹ, xin mẹ hãy đến nhận 1000 đồng tiền vàng ấy đi".

Bà lão đáp: "Sao mẹ có thể nhận số tiền ấy được?"

Lần thứ hai…, lần thứ ba, nàng nói với bà… bà bèn hỏi rằng:

"Mẹ sẽ nói như thế nào để nhận số tiền ấy".

Nàng đáp: "mẹ cứ nói con gái tôi đã gặp Hoàng hậu Padumavatī rồi nhận tiền".

Bà lão nghĩ thầm: "Sự việc này chẳng biết hư thật ra sao?".

Nghĩ vậy nhưng rồi bà cũng đế chổ nhận thưởng, quan lính tại đấy hỏi bà rằng:

"Có phải bà đã gặp Hoàng hậu Padumavatī chăng? – Thưa bà".

Bà lão đáp: "tôi chưa từng gặp, nhưng con gái tôi đã gặp".

Các quan lính hỏi: "Thưa bà, con gái bà hiện ở đâu?".

Bà lão đáp: - Con tôi đang ở nhà và dẫn quan lính đến gặp con mình vừa thấy Hoàng hậu, các quan lính quỳ mọp xuống.

Lúc bấy giờ, bà lão mới biết rằng cô con nuôi của mình chính là Hoàng hậu Padumavatī, bà bèn nói:

"Hoàng hậu của vua mà không được sự bảo vệ, như vậy thật không xứng đáng".

Các quan lính vội vã quét dọn căn nhà sạch sẽ, cho treo màn chung quanh và cho lính bảo vệ nơi cổng, rồi trở về Hoàng cung trình với đức vua.

Đức vua gởi kiệu vàng đến rước nàng, Hoàng hậu truyền lịnh đến quan lính rằng:

"Ta sẽ không tởr về bằng cách nầy, khi nào đức vua cho trải vải đặc biệt từ đây cho đến Hoàng cung, cho căn vải phía trên và gửi đầy đủ các vật trang sức đến ta, sau khi trang điểm xong ta sẽ đi bộ về triều bằng cách ấy dân chúng trong kinh thành vinh quang của ta".

Đức vua truyền lịnh rằng:

"Các khanh hãy làm theo ý của Hoàng hậu".

Sau đó, Hoàng hậu Padumavatī trang điểm với nhiều loại trang sức và ngự trở về Hoàng cung, lúc ấy mỗi bước chân của Hoàng hậu đều có hoa sen mọc lên đỡ bàn chân của nàng. Sau khi phô bài sự vinh quang của mình đến đại chúng, Hoàng hậu ngự về Hoàng cung và ban tặng vải trải cùng nhiều phẩm vật đến người mẹ nuôi của mình.

Nói về đức vua truyền gọi 500 cung phi đến đến trước mặt Hoàng hậu và phán rằng:

"Này ái hậu, trẩm ban tăng 500 cung phi này cho nàng để làm nô tỳ".

Hoàng hậu đáp: "Lành thay, tâu bệ hạ", xin bệ hạ cho thông báo khắp thành rằng: "bệ hạ đã ban 500 cung phi ấy đến cho thiếp".

Đức vua bèn cho đánh trống bố cáo rằng: "500 kẻ thù của Hoàng hậu Padumavatī, ta đã ban cho nàng để làm nô tỳ".

Khi Hoàng hậu biết rằng khắp thành mọi người đều biết các cung phi ấy đã trở thành nô tỳ, nàng bèn hỏi đức vua rằng:

"Tâu bệ hạ, thiếp muốn trả tự do cho các nô tỳ ấy được không?".

Đức vua phán: "này ái hậu, nếu nàng muốn thì được".

Hoàng hậu thưa: Tâu bệ hạ, vậy cầu xin bệ hạ đánh trống cho báo tin rằng:

"500 cung phi đức vua ban tặng cho Hoàng hậu để làm nô tỳ, nay Hoàng hậu đã trả tự do cho các người ấy".

Sau khi trả tự do cho 500 cung phi, Hoàng hậu bèn giao cho 499 vị Hoàng tử, cho các phụ nữ ấy nuôi dưỡng, còn nàng chỉ nuôi một mình Hoàng tử Mahāpaduma.

Khi các vị Hoàng tử đến độ tuổi chơi đùa, đức vua cho xây dựng một khu vui chơi trong vườn Thượng Uyển dành cho các Hoàng tử.

Khi được 16 tuổi tất cảc các Hoàng ử đều thích chơi đùa dưới ao Maṅgala có đầy hoa sen trong vườn Thượng Uyển.

Một hôm, nhìn thấy những hoa sen mới nở tươi thắm, và những hoa sen cũ bị rơi rụng từng cánh, các Hoàng tử suy tư rằng:

"Đây chính là trạng thái già, những hoa sen này tuy không có tâm thức, nhưng nó vẫn bị sự biến hoại, thế nên chúng ta không nên hoài công nghĩ rằng sự già sẽ không đến với thân thể chúng ta, thật vậy thân này rồi cũng đi theo định luật ấy".

Rồi các vị Hoàng tử lấy hình ảnh đó làm đề tài thiền quán, phát triển trí tuệ chứng đạt quả vị Độc Giác và ngự tọa trong tư thế thiền định trên các cánh hoa sen.

Sau đó, nhóm quan quân tùy tùng của các Hoàng tử, thấy trời đã xế chiều bèn thưa rằng:

"Giờ đã đến thời, xin thỉnh quý Ngài hồi cung".

Các vị Hoàng tử im lặng, nhóm tùy tùng về trình với đức vua rằng:

"Muôn tâu Hoàng thượng, quý Hoàng tử ngồi trên những cánh sen, khi chúng thần thỉnh về các vị không chịu lên tiếng".

Đức vua truyền rằng: "các khanh hãy để cho các Hoàng tử ngồi như thế".

Các vị Hoàng tử vẫn tịnh tọa suốt đêmm dưới sự bảo vệ của nhóm tùy tùng cho đến khi trời sáng.

Các quan lính tùy tùng thấy vậy thưa rằng:

"Thưa quý Hoàng tử, trời đã sáng, xin quý Ngài hãy biết như vậy".

Các Hoàng tử đáp: "chúng tôi không phải là Hoàng tử, chúng tôi là Độc Giác".

Nhóm tùy tùng thưa rằng: "thưa quý Hoàng tử, theo bọn thần biết, thông thường đức Độc Giác không phải như vầy, là Phật Độc giác phải cạo râu tóc và có tám vật phụ tùng trên mình".

Các vị Hoàng tử bèn đưa tay phải lên vuốt đầu, tức thì hình tướng cũ biến mất, trên người có đầy đủ tám vật phụ tùng.

Kế đó quý Ngài bay về núi Nandamūlaka trước tầm mắt của đại chúng.

Hoàng hậu Padumavatī hay tin đó, nàng sầu muộn than thở rằng:

"Trước ta có nhiều con, giờ trở thành người không có con".

Do sự sầu muộn đó, khiến nàng mệnh chung và tái sanh trong một gia đình nghèo gần cổng thành Rājagaha.

Lớn lên, nàng được một chàng trai cùng làng cưới về.

Một hôm, đem cơm ra đồng cho chồng, nhìn thấy tám vị Phật Độc gáic trong số 500 người con của nàng kiếp trước từ núi bay xuống để đi khất thực, nàng bèn nói với chồng rằng:

"Thưa phu quân, chàng hãy nhìn xem đó là chư Phật Độc giác, chúng ta thỉnh quý Ngài đến cúng dường nha".

Người chồng đáp: "Thông thường các vị Sa môn chim nầy, phi hành như vậy ở nơi khác, các vị Sa môn chim ấy không phải là đức Độc giác đâu".

Chư Phật Độc giác bèn ngự xuồng không xa chổ của hai vợ chồng, người vợ phát tâm trong sạch dâng phần cơm của mình đến chư Phật và thỉnh rằng:

"Sáng mai con xin thỉnh tám vị hoan hỷ đến nhận thực phẩm".

Chư Độc giác đáp: "Lành thay, này tín nữ, mong rằng sự trong sạch thành kính của ngươi hãy có trong sáng mai, tám tọa cụ cũng hãy có, cho dù ngươi thấy có nhiều vị Độc giác khác, nhưng ngươi nên giữ tâm của mình cho tịnh tín hoan hỷ".

Sáng hôm ấy, nàng trải tám tấm tọa cụ và sắp đặt những lễ vật cúng dường, rồi ngồi chờ.

Tám vị Độc giác nhận lời mời, bèn thông báo cho chư Độc giác khác rằng:

"Hỡi các bậc dứt khổ, hôm nay xin quý Ngài chớ đi nơi khác, quý Ngài hãy đến tiếp độ mẹ của mình đi".

Khi chư Phật ngự đến, mặc dầu số lượng rất đông, nhưng nàng vẫn không có một sự lúng túng nào, nàng vô cùng hoan hỷ cung thỉnh quý Ngài vào nhà, an tọa trên chổ ngồi, nàng chỉ sắp đặt có tám tọa cụ, nhưng kỳ diệu thay tọa cụ vẫn tiếp tục phát sanh cho vị thứ chín, thứ mười và cuối cùng là vị thứ 500. Ngôi nhà của nàng tín nữ cũng tự nới rộng ra vừa với số lượng 500 vị.

Sau khi chư Phật an vị xong, nàng bèn dâng những thực phẩm đã được chuẩn bị cho tám vị Phật Độc giác và rồi thực phẩm cũng tự phát sanh đầy đủ để nàng cúng dường đến toàn thể chư Độc giác.

Cúng dường thực phẩm xong, nàng cầm tám nắm hoa sen đến đặt cạnh chân chư Độc giác và thành tâm chú nguyện rằng:

"Kính bạch quý Ngài, do phước báu mà con đã trong sạch cúng dường hoa sen, trong kiếp vị lai xin cho thân thể của con có màu giống như những đóa sen nầy vậy".

Chư Độc giác sau khi nói lời tùy hỷ phúc chúc, quý Ngài bay về núi Gandhamādana.

Mệnh chung từ kiếp ấy, nàng được sanh lên thiên giới. Đến thời Đức Phật hiện tại, nàng tái sanh trong gia đình trưởng giả giàu có, tại thành Sāvatthī. Vì nàng có làn da giống như màu hoa sen nên cha mẹ đặt tên là Uppalavaṇṇā.

Khi lớn lên, nàng trở thành một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, nghe danh tiếng của nàng nhiều vị vua trong cõi Diêm phù cùng nhau gửi sứ thần đến nhà trưởng giả xin cưới nàng.

Vị trưởng giả suy nghĩ: "Ta không thể đáp ứng sự mong muốn của các vị vua ấy được, với cách duy nhất nầy mới mong ổn thỏa cho tất cả".

Ông bèn gọi con gái đến hỏi rằng: "này con thân yêu! Hoàn cảnh của gia đình ta như vậy, con xuất gia được chăng?".

Mặc dù là một tiểu thơ xinh đẹp, đài các, nhưng do thiện duyên giải thoát chín mùi, căn cơ thuần thục, nên khi nghe cha hỏi vậy, nàng không do dự nhận lời rằng:

"Thưa cha con sẽ xuất gia".

Vị trưởng giả bèn đưa nàng đến trú xứ Tỳ khưu Ni cho xuất gia.

Sau khi xuất gia không lâu, trong một dịp quét dọn Chánh điện, nàng lấy ánh lửa ngọn đèn làm cảnh, chú niện đề mục lửa (Tejokasina) chứng được ngũ thiền, lầy thiền làm nền tảng, nàng phát triển thiền quán chứng quả Alahán với lục thông và tứ vô ngại giải.

Một lần nọ, Đức Thế Tôn ngự đến vườn xoài của gia chủ Gaṇḍa gần cổng thành Sāvatthī để thực hiện song thông.

Lúc bấy giờ, trưởng lão Ni Uppalavaṇṇā đi đến yết kiến bậc Đạo Sư, sau khi đảnh lễ Ngài, bèn thưa như vầy:

"Kính bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép con sẽ thực hiện song thông".

Khi được bậc Đạo Sư chấp thuận, trưởng lão Ni đã rống lên tiếng rống con sư tử với loại song thông.

Nhân sự việc đó, trong việc hội hợp của chư tỳ khưu Tăng tại Kỳ viên Tịnh xá, bậc Đạo Sư ngự tọa giữa Tăng chúng đã tán dương trưởng lão Ni Uppalavaṇṇā là vị đệ nhất về thần thông trong hàng Ni chúng.

Trưởng lão Ni sống an lạc trong thiền định, trong thánh quả.

Một hôm, trong lúc ngồi suy quán đến sự nguy hiểm, sự hạ liệt và sự uế nhiễm của các dục xuyên qua sự kiện hai mẹ con có chung một chồng, nàng bèn xướng lên ba bài kệ của một Tỳ khưu Ni đồng trú:

"Cả hai mẹ và con
Cùng có chung một chồng
Cảnh ngộ thật hy hữu
Khiến ta động tâm mạnh
Với lông tóc dựng ngược".
"Khả ố thay các dục
Đầy bất tịnh hôi thối
Nhiều gai gốc phiền muộn
Tại đấy mẹ và con
Làm vợ chung một chồng"
"Thấy các dục nguy hại
Thấy xuất ly an lạc
Ta rời bỏ xuất gia
Sống cuộc đời không nhà"
.

Tương truyền rằng: Tại thành Sāvatthī, có hai vợ chồng thương buôn sống với nhau thời gian, nhưng người vợ không biết mình có thai.

Một hôm, người chồng mua sắm nhiều hàng hóa chắt đầy lên cổ xe, đi đến thành Rājagaha (Vương Xá) để bán.

Thời gian trôi qua bào thai lớn dần và gần đến ngày khai hoa, người mẹ chồng thấy vậy nói với nàng rằng:

"Con trai ta vằng nhà đã lâu, giờ nàng lại có thai, có phải nàng đã làm điều xấu chăng?"

Nàng dâu đáp:

"Thưa mẹ, ngoài con trai của mẹ, con không hề biết người đan ông nào khác".

Người mẹ chồng không tin lời nàng và đã đuổi nàng ra khỏi nhà.

Rời khỏi nhà, nàng đi tìm chồng lần hồi nàng cũng đến thành Rājagaha. Bất chợt nàng chuyển bụng, nàng ghé vào ngôi phước xá vệ đường và hạ sanh một bé trai với dung sắc như vàng, nàng đã để con nằm trong phước xá rồi ra ngoài tìm nước.

Lúc bấy giờ, có một người thương buôn đi ngang qua phước xá, nghe tiếng trẻ thơ khóc, ông ta dừng lại nhìn thấy đứa bé nằm bơ vơ, ông nghĩ rằng:

"Có lẽ đứa bé này là con của người đàn bà không chồng, nên mới bỏ rơi nó, ta sẽ nhận nó về làm con", bèn bế đứa bé ấy đem giao cho người vú.

Mẹ của đứa bé, sau khi xong công việc quay lại phước xá không thấy con, nàng vô cùng đau khổ và nàng không ghé vào thành Rājagaha mà vẫn tiếp tục đi.

Một tên tướng cướp gặp nàng đem lòng yêu thương và lấy nàng làm vợ. Sống với tên tướng cướp một thời gian, nàng sanh một đứa con gái.

Một hôm, trong lúc đứng bế con nàng tranh cãi với chồng, vì cơn tức giận nàng quăng đứa con lên giường, đầu đứa bé chạm vào thành bị rách da chảy máu, vì sợ chồng nàng đành bỏ trốn đến thành Rājagaha.

Lúc bấy giờ, con trai của nàng đã trưởng thành, không biết nàng là mẹ mình, bèn lấy nàng làm vợ.

Sau đó, con gái của tên tướng cướp cũng lớn lên trở thành thiếu nữ, do nhân duyên xui khiến chàng thành niên đã gặp và cưới con gái tên tướng cướp về làm vợ.

Thế là chàng thanh niên đã cưới bà mẹ và người em khác cha cùng làm vợ.

Đến một hôm, trong lúc ngồi bắt chí cho cô vợ bé của chồng, nhìn thấy vết sẹo, nàng nghĩ rằng:

"Chẳng biết nàng nầy có phải là con gái của ta chăng?", bèn hỏi quê quán, cha mẹ, sau khi biết được sự thật nàng bị động tâm mạnh, bèn đi đến Tịnh xá Tỳ khưu ni xin xuất gia.

Sau khi xuất gia, trong lúc ngồi yên tịnh, nàng quán lại cuộc đời của mình và nói lên ba bài kệ trên.

*

14- BÀI KỆ NGÔN CỦA TRƯỞNG LÃO NI SUMEDHĀ
SUMEDHĀTHERĪGĀTHĀ

Được biết trưởng lão ni Sumedhà đã nói lên các bài kệ như vậy:

"Ta sanh làm công chúa
Của đức vua Koñ ca
Tại Manāvatī
Tên gọi Sumedhā"
"Sumedhā có giới
thuyết giảng pháp lưu thoát
Và là bậc Đa văn
Nương lời dạy Đạo Sư
Rồi ta đến yết kiến
Phụ vương cùng mẫu hậu
Cung kính ta thưa rằng:"
"Kính thưa cha và mẹ
Xin lắng nghe lời con
Con thỏa thích Niết Bàn
Dầu sanh làm chư thiên
Cũng không được bền vững
Huống hồ các dục lạc
Rỗng không vị ngọt ít
Nguy hại lại rất nhiều"
"Các dục thật cay đắng
Ví như nọc rắn độc
Chỉ kẻ ngu tham đắm ấy
Sau khi thân mạng chung
Chúng rơi vào khổ cảnh
Chịu đau khổ lâu dài"
"Đối với những kẻ ngu
Không thu thúc thân khẩu(ý)
Chồng chất các ác nghiệp
Khiến khổ đọa triền miền"
"Với những kẻ ngu ấy
Thiếu trí, thiếu tác ý
Bị khổ, tập che phủ
Khi được nghe Chánh Pháp
Cũng không thể giác ngộ"
"Kính thưa cha và mẹ
Những ai chưa giác ngộ
Pháp được phật khéo thuyết
Chúng hoan hỉ tái sanh
ước muốn sanh thiên giới"
"Các cõi là vô thường
Và sinh mạng chư thiên
Cũng không được bền vững
Nên các kẻ ngu ấy
Phải tiếp tục sanh tử"
"Chúng sanh trong khổ cảnh
Không có sự an lạc
Cỏi trời và cỏi người
Có được sự an lạc
Khi rơi vào khổ cảnh
Sự xuất gia không có"
Xin phụ vương mẫu hậu
Cho phép con xuất gia
Trong pháp luật Thế Tôn
Con sẽ sống thiểu dục
Tinh cần đoạn sanh tử"
"Sẽ có lợi ích gì
Với tấm thân đầy tội
Trống rỗng, không có lõi
Chỉ kẻ nhu ưa thích
Xin hoan hỉ chấp thuận
Cho con được xuất gia
Con sẽ quyết đoạn trừ
Ái tham trong sanh hữu"
"Nay thời phật ra đời
Phi thời đã đi qua
Thời cơ con đã đến
Cho đến suốt cuộc đời
Con sẽ không tổn hại
Giới luật và phạm hạnh"
"Rồi ta lại quỳ thưa
Với cha mẹ như vầy
Nếu còn là cư sĩ
Cho dù phải mệnh chung
Con quyết không ăn uống"
"Mẹ sầu muộn khóc than
Cha nước mắt đầy mặt
Cố thuyết phục ta rằng"
"Con ơi! Hãy đứng dậy
Có gì để khổ đau
Khi con được cả nuớc
Vāranavatī
Và vua AniKa
Đẹp trai xứng với con"
"Con sẽ là hoàng hậu
Của vua AniKa
Nầy con, thật khó thay
Đời sống bậc xuất gia
Gìn giữ các giới luật
Và sống đời phạm hạnh"
"Danh, vị và quyền lực
Sản nghiệp và hạnh phúc
Đang dang rộng chờ con
Con vẫn còn son trẻ
Hãy thọ hưởng dục lạc
Hãy nhận lời cầu hôn"
"Sau khi nghe lời ấy
Ta quỳ thưa như vầy
Thưa phụ vương mẫu hậu
Danh, vị và các thứ
Thật sự chẳng có chi
Vì rằng thế gian nầy
Là giả tạm, trống rỗng
Ở đây tu hoặc chết
Sẽ có đến cho con
Con không nhận cầu hôn"
"Thân này đầy uế trược
Bất tịnh và ôi thối
Đáng ghê tởm nhàm chán
Như bao da đựng xác
Trong thân luôn chảy ra
Những hôi hám nhơ nhớp
Kẻ ngu lại bám chấp"
"Con biết thân xác ấy
Ví như vật khả ố
Tô đắp bằng máu thịt
Chỗ ở của vòi bọ
Thực phẩm của cầm thú
Thế nên sao con lại
Ban nó cho hẻ khác"
"Không lâu thân thể này
Cũng xa rời tri thức
Các quyến thộc ghê tởm
Quăng bỏ nơi mô địa
Làm mồi cho cầm thú
Chúng ghê tởm trở về
tắm gội thân sạch sẽ
quyến thuộc còn như vậy
Huống chi là người khác"
"Phần đông đều mê chấp
Nơi thân giả tạm này
Được gân xương kết dính
Là tấm thân hôi thối
Đầy nước miếng nước mắt
Đầy phẩn và nước tiểu"
"Nếu thân được mổ sẽ
Lộn nội phần ra ngoài
Dù mẹ cũng ghê tởm
Không chịu nổi mùi hôi"
"Các bậc thiện trí thức
Đã khéo phân tích rằng
Chính do uẩn, xứ, giới
Tác thành tấm thân này
Với sanh tử khổ đau
Thế nên, sao còn lại
Mong muốn việc hôn nhân"
"Mỗi ngày trăm ngọn giáo
Đâm thấu vào thân này
Dầu bị suốt trăn năm
Như vậy còn tốt hơn
Vì khổ ấy cuối cùng
Rồi cũng được chấm dứt"
"Những ai vào qui ngưỡng
Trong pháp luật Đức Phật
Sống với hạnh thiểu dục
Tinh cần đoạn sinh tử
Sẽ chứng ngộ Niết Bàn"
"Thưa Phụ vương, hôm nay
Con quyết chí xuất gia
Của cải có ích gì
Thứ rỗng không, tạm bợ
Con ghe tởm các dục
Như vật nôn của chó
Như thốt nốt đứt đọt"
"Lúc bấy giờ, Đức vua
Anikaratta
Hôn phu của công chúa
Vây quanh với tùy tùng
Ngự đến rước công chúa
Theo như giờ đã định"
"Khi hay tin Đức vua
Anika ngự đến
Ta dùng con dao bén
Cắt mái tóc đen mịn
Đóng kín tòa cung điện
Và chứng được Sơ thiền"
"An trú trong thiền định
Rồi vua A-ni-ka
Tuần tự ngự vào thành
Tại cung ta tu tập
Đề mục tưởng bất tịnh"
"Khi ta đang tu tập
Đức vua Anika
Trang điểm với vàng ngọc
Bước lên tầng cung điện
Chấp tay ta van rằng"
"Này nàng Sumedhā
Trẫm xin trao cho nàng
Danh vị và uy quyền
Sản nghiệp và hạnh phúc
Nàng hãy còn son trẻ
Xin hãy hưởng dục lạc
Thật khó kiếm ở đời"
"Trẩm giao nàng vương quốc
Nàng tùy ý thọ hưởng
Và làm các công đức
Nàng chớ có buồn chán
Khiến cha mẹ khổ tâm"
"Ta đáp lời vua rằng
Hiện này Sumedhā
Không mong cầu dục lạc
Đã viễn ly si mê
Xin chớ vui thích dục
Hãy thấy dục nguy hiểm"
"Đức vua Madhātu
Vị chúa tể bốn châu
Hưởng dục lạc tột đỉnh
Nhưng đến khi mạng chung
Cũng chưa được thỏa lòng"
"Dầu có mưa bảy báu
Đầy khắp cả mười phương
Tuy vậy cũng không làm
Tâm con người thỏa mãn
Và chết trong khát vọng"
"Các dục như gươm giáo
Dục như đầu rắn hổ
Dục như bó đuốc cháy
Ví như khúc xương khô"
"Các dục là vô thường
Không bền, cay đắng nhiều
Sự nguy hiểm càng nhiều
Là nguồn gốc đau khổ
Kết quả là đau khổ
Như hòn sắt cháy đỏ"
"Các dục như trái độc
Như miếng thịt (hư thối)
Các dục như huyển mộng
Dục như của vay mượn"
"Các dục như gươm giáo
Là bịnh tật, ung nhọt
Là khổ lao, vất vả
Dục như hố than hừng
Là cội nguồn đau khổ
Là hiểm họa, đao phủ"
"Như vậy, dục khổ nhiều
Và là pháp chướng ngại
Xin Ngài hãy quay về
Tôi không thể yêu thương
Trong vòng xoay của khổ"
"Ai giúp gì cho tôi
Khi đầu tôi đang cháy
Khi già, chết đeo đuổi
Tôi cần phải nổ lực
Thiêu hủy già và chết"
"Rồi ta thấy mẹ cha
Cùng vua Anika
Ngồi ngoài cửa than khóc
Ta bèn thưa như vầy"
"Từ vô thỉ luân hồi
Kẻ ngu luôn than khóc
Vì cha chết mẹ chết
Vì anh chết em chết
Vì chính mình phải chết"
"Từ vô thỉ luân hồi
Nước mắt, máu chúng sanh
Tuôn chảy không dừng nghỉ
Và xương của chúng sanh
Chất cao thành đồi núi"
"Nước mắt, máu chúng sanh
Đổ xuống trong luân hồi
Như nước trong bốn biển
Và xương trong một kiếp
Bằng núi Vipula"
"Lấy cả đất Diêm phù
Nắn thành từng hạt táo
Như vậy sẽ rất nhiều
Nhưng cũng không nhiều bằng
Số lượng cha và mẹ
Từ vô thỉ luân hồi"
"Cỏ cây và cành lá
Trên khắp cõi Diêm phù
Cũng không thể sánh bằng
Số lượng cha và mẹ
Từ vô thỉ luân hồi"
"Như khúc gỗ bị bọng
Trôi lênh đênh trên biển
Khó thay để rùa mù
Đưa đầu vào bọng cây
Tuy vậy còn dễ hơn
Được tái sanh làm người"
"Hãy suy nghiệm thân nầy
Rỗng không như bọt nước
Hãy suy quán các uẩn
Là vô thường biến hoại
Hãy suy niệm địa ngục
Đầy nhục hình thống khổ"
"Nước bất tử sẵn có
Sao còn lại mong cầu
Với năm loại cây nóng
Khi hoan hỉ các dục
Ta sẽ bị cay nóng
Hơn năm loại cây nóng"
"Nước bất tử sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Với các dục nhiệt não
Khi người vui thích dục
Người sẽ bị thiêu đốt
Tâm xao động, nhiệt não"
"Pháp xuất ly sẵn có
Sao còn lại mong cầu
Với các dục thù địch
Các dục đầy lo sợ
Là kẻ thù nguy hiểm"
"Pháp giải thoát sẵn có
Sao còn lại mong cầu
Với các dục giết trói
Những ai ham thích dục
Dục là vật giết trói
Sẽ cảm thọ khổ đau"
"Dục ví như bó đuốc
Sẽ đốt cháy người cầm
Sẽ đốt cháy những ai
Không chịu buông bó đuốc"
"Chớ bỏ hạnh phúc lớn
Do nhân dục lạc nhỏ
Chớ như cá nuốt câu
Phải đau khổ về sau"
"Chớ quanh quẩn trong dục
Ví như chó bị xích
Dục lạc khiến cho như
Kẻ nô lệ đói khát
Bị con chó làm hại"
"Với người đắm trong dục
Sẽ khổ đau khôn xiết
Hãy từ bỏ các dục
Rỗng không, không thường hằng"
"Pháp không già sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Dục chất chứa sự già
Khi tái sanh có mặt
Già chết sẽ ngự trị"
"Niết Bàn – không có già
Niết Bàn – không có chết
Niết Bàn – không già chết
Không có sự sầu muộn
Không bị kẻ thù hại
Không lệch lạc, sợ hãi
Không có sự nhiệt não"
"Chính pháp Niết Bàn nầy
Được nhiều người tác chứng
Những ai có Chánh cần
Sẽ đạt được bất tử
Với người không tinh cần
Thì không thể chứng đạt"
"Đức vua Anika
Đứng dậy chắp hai tay
Cầu xin Phụ vương rằng
Xin đại vương chấp thuận
Cho công chúa xuất gia
Vì nàng đã tỏ ngộ
Chân lý và giải thoát"
"Khi cha mẹ cho phép
Ta xuất gia tu tập
Thoát khỏi mọi sầu muộn
Chứng đạt sáu thắng trí"
"Pháp vi diệu Niết Bàn
Rồi cũng được phát sanh
Cho nàng Sumedhā
Trước giờ phút Niết Bàn
Tôn ni Sumedhā
Thuật lại tiền kiếp mình
Với các bài kệ sau"
"trong thời Đức Thế Tôn
Ko – nā – ga – ma – na
Ta cùng với hai bạn
Là Dhanañjanī
Và tín nữ Khemā
Xây dựng ngôi Tịnh xá
Cúng dường đến Tăng chúng
Chính do công đức ấy
Ta được sanh thiên giới
Làm Hoàng hậu Thiên vương
Có uy lực to lớn
Khi sanh xuống cõi người
Ta được làm Hoàng hậu
Nữ báu Chuyển Luân Vương
Việc xây dựng Tăng xá
Là nhân, là nguồn sanh
Cho thiên sản, nhơn sản
Là nền tảng, là duyên
Của việc đến Giáo pháp
Của việc dập tắt khổ
Đối với người mến pháp"
"Những ai có lòng tin
Hiểu lời dạy Thế Tôn
Sẽ nhàm chán sanh hữu
Khi đã nhàm chán rồi
Tất sẽ được ly tham".

Trong thời Giáo pháp của Đức Thế Tôn Konāgamana, nàng tái sanh trong một gia đình Bà la môn giàu có, do quá khứ tích trữ nhiều duyên lành nên từ nhỏ nàng đã có tâm trong sạch hoan hỉ với Tam bảo và trở thành một tín nữ ngoan đạo.

Khi lớn lên nàng thường xuyên đến chùa nghe pháp và chăm lo hộ độ cúng dường đến Đức Phật cùng Chư tăng.

Một hôm, nàng cùng với hai người bạn là Dhanañjanī và Khemā, cả ba phát tâm trong sạch xây dựng một ngôi Tănh xá thật trang nhã, sắp đặt đầy đủ các thứ cúng dường đến Chư Tăng có Đức Phật làm tọa chủ.

Do phước lành ấy, sau khi mệnh chung, nàng được sanh lên cõi Đạo Lợi, mệnh chung cõi Đạo Lợi nàng được sanh lên cõi Dạ Ma, mãn thọ cõi Dạ Ma nàng sanh lên cõi Đâu Xuất, chết từ cõi Đâu Xuất, nàng sanh lên cõi Hóa lạc, mệnh chung cõi Hóa lạc nàng được sanh lên cõi Tha Hóa Tự Tại.

Nàng đã tuần tự tái sanh trong năm cõi trời dục giới và trong những tầng trời ấy nàng đều được làm Hoàng hậu của đức Thiên vương cõi ấy.

Đến thời Giáo Pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, nàng tái sanh trong một gia đình trưởng giả rất giàu có.

Lúc bấy giờ, tại xứ Kāsī thành Bāraṇasī có một vị Hoàng đế rất nhân hậu hiền đức, danh hiệu là Kiki. Ngài là một thiện na sùng đạo và cũng là một đại đàn tín của Thế Tôn Kassapa.

Đức vua Kiki có bảy người con, bảy cô công chúa nầy đều là những tín nữ thuần thành với Tam Bảo.

Nàng tiểu thư con nhà trưởng giả là thân hữu thiện hữu của bảy cô công chúa ấy, họ đã cùng nhau tu tập, giữ giới và chăm lo hộ độ cúng dường tứ sự đến Đức Phật cùng Tăng chúng.

Do khéo gìn giữ phạm hành cùng các thiện sự cúng dường, nên sau khi mệnh chung, nàng được sanh lên cõi Đạo Lợi.

Đến thời Giáo pháp của Đức Thế Tôn chúng ta, nàng tái sánh làm công chúa của đức vua Koñca, tại kinh thành Mantāvatī, và được đặt tên là Sumedhā.

Khi công chúa trưởng thành, phụ vương cùng mẫu hậu hứa gã nàng cho đức vua Anikaratta trị vì tại thành Vāraṇavatī. Nhưng khi còn bé nàng đã thường cùng với các công chúa trang lứa và các nữ tỳ đi đến Tịnh xá tỳ kheo ni nghe pháp, do thấm nhuần Giáo pháp và do duyên lành giải thoát đã tròn đủ nên tâm tư nàng luôn hướng đến một đời sống xuất ly không ưa thích dục lạc. Vì vậy khi nghe phụ vương cùng mẫu hậu bàn tính việc hôn lễ của mình, nàng thưa rằng:

"Thưa phụ vương và mẫu hậu, con không thích đời sống tại gia cư sĩ, con chỉ muốn xuất gia".

Đức vua cùng hoàng hậu không chấp nhận việc xuất gia của công chúa, bằng nhiều phương cách hai vị đã cố gắng nài nỉ thuyết phục nàng, nhưng cũng không làm cho nàng xiêu lòng chuyển ý.

Lúc bấy giờ, công chúa suy tính tìm một giải thoát để khiến cho cha mẹ chấp thuận cho nàng xuất gia, nàng nghĩ rằng:

"Chỉ với cách nầy cha mẹ mới ưng thuận cho ta xuất gia".

Rồi nàng tự cầm dao tự cắt tóc mình, lấy những sợi tóc ấy làm đề mục, nàng chú tâm đến bất tịnh tướng và chứng được sơ thiền tại chỗ ấy.

Sau khi chứng đạt sơ thiền, nàng đã khiến cho những người tại đấy gồm có đức vua hoàng hậu, vị hôn phu của nàng, vua Anikaratta cùng các tùy tùng đều phát khởi niềm tin trong Giáo pháp.

Rồi cha mẹ đã chấp thuận cho nàng xuất gia, nàng rời bỏ hoàng cung, đi đến tịnh xá tỳ kheo Ni xin xuất gia.

Xuất gia không bao lâu, nhờ duyên lành giải thoát chín muồi cùng với sự nhiệt tâm tinh cần tu tập, nàng đã chứng đạt quả vị Alahán với tứ tuệ phân tích.

Sau khi chứng quả Alahán, trưởng lão ni Sumedhā nhìn lại cuộc đời của mình, nàng đã cảm xướng lên các bài kệ như vầy:

"Ta sanh làm công chúa
của đức vua Koñca
Tại Mantāvatī
Tên gọi Sumedhā"
"Sumedhā có giới
Thuyết giảng pháp lưu loát
Và là bậc Đa văn
Nương lời dạy Đạo sư
Rồi ta đến yết kiến
Phụ vương cùng mẫu hậu
Cung kỉnh ta thưa rằng":
"Kính thưa cha vè mẹ
Xin lắng nghe lời con
Con thỏa thích Niết Bàn
Dầu sanh làm chư thiên
Cũng không được bền vững
Huống hồ các dục lạc
Rỗng không, vị ngọt ít
Nguy hại lại rất nhiều"
"Các dục thật cay đắng
Ví như nọc rắn độc
Chỉ kẻ ngu tham đắm
Do tâm tham đắm ấy
Sau khi thân mạng chung
Chúng rơi vào khổ cảnh
Chịu đau khổ lâu dài"
"Đối với những kẽ ngu
Không thu thúc thân khẩu (ý)
Chồng chất các ác nghiệp
Khiến khổ đọa triền miên"
"Với những kẽ ngu ấy
Thiếu trí, thiếu tác ý
Bị khổ, tập che phủ
Khi được nghe Chánh pháp
Cũng không thể giác ngộ"
"Kính thưa cha và mẹ
Những ai chưa giác ngộ
Pháp được Phật khéo thuyết
Chúng hoan hỉ tái sanh
Ước muốn sanh thiên giới"
"Các cõi là vô thường
Và sinh mạng chư thiên
Cũng không được bền vững
Nên các kẽ ngu ấy
Phải tiếp tục sanh tử"
"Chúng sanh trong khổ cảnh
Không có sự an lạc
Cõi trời và cõi người
Có được sự an lạc
Khi rơi vào khổ cảnh
Sự xuất gia không có"
"Xin phụ vương mẫu hậu
Cho phép con xuất gia
Trong Pháp luật Thế Tôn
Con sẽ sống thiểu dục
Tinh cần đoạn sanh tử"
"Sẽ có lợi ích gì
Với tấm thân đầy tội
Trống rỗng, không có lõi
Chỉ kẻ ngu ưa thích
Xin hoan hỷ chấp thuận
Cho con được xuất gia
Con sẽ quyết đoạn trừ
Ái tham trong sanh hữu"
"Nay thời Phật ra đời
Phi thời đã đi qua
Thời cơ con đã đến
Cho đến suốt cuộc đời
Con sẽ không tổ hại
Giới luật và phạm hạnh"
"Rồi ta lại quỳ thưa
Với cha mẹ như vầy
Nếu còn là cư sĩ
Cho dù phải mệnh chung
Con quyết không ăn uống"
"Mẹ sầu muộn khóc than
Cha nước mắt đầy mặt
Cố thuyết phục ta rằng"
"Con ơi! Hãy đứng dậy
Có gì để khổ đau
Khi con được cả nước
Vāranavatī
Và vua Anika
Đẹp trai xứng với con"
"Con sẽ là Hoàng hậu
Của vua Anika
Nầy con, thật khó thay
Đời sống bậc xuất gia
Gìn giữ các giới luật
Và sống đời phạm hạnh"
"Danh, vị và quyền lực
Sản nghiệp và hạnh phúc
Đang dang rộng chờ con
Con vẫn còn son trẻ
Hãy thọ hưởng dục lạc
Hãy nhận lời cầu hôn"
"Sau khi nghe lời ấy
Ta quỳ thưa như vầy
Thưa phụ vương mẫu hậu
Danh, vị và các thứ
Thật sự chẳng có chi
Vì rằng thế gian nầy
Là giả tạm, trống rỗng
Ở đây, tu hoặc chết
Sẽ có đến cho con
Con không nhận cầu hôn"
"Thân nầy đầy uế trược
Bất tịnh và hôi thối
Đáng ghê tởm nhàm chán
Như bao da đựng xác
Trong thân luôn chảy ra
Những hôi hám nhơ nhớp
Kẻ ngu lại bám chấp"
"Con biết thân xác ấy
Ví như vật khả ố
Tô đắp bằng máu thịt
Chỗ ở của vòi bọ
Thực phẩm của cầm thú
Thế nên sao con lại
Ban nó cho kẻ khác"
"Không lâu thân thể này
Cũng xa rời tri thức
Các quyến thuộc ghê tởm
Quăng bỏ nơi mộ địa
Như khúc gỗ vô dụng"
"Thân ấy quăng mộ địa
Làm mồi cho cầm thú
Chúng ghê tởm trở về
Tắm gội thân sạch sẽ
Quyến thuộc còn như vậy
Huống chi là người khác"
"Phần đông đều mê chấp
Nơi thân giả tạm này
Được gân xương kết dính
Là tấm thân hôi thối
Đầy nước miếng nước mắt
Đầy phẩn và nước tiểu"
"Nếu thân được mổ xẻ
Lộn nội phần ra ngoài
Dù mẹ cũng ghê tởm
Không chịu nổi mùi hôi"
"Các bậc thiện trí thức
Đã khéo phân tích rằng
Chính do uẩn, xứ, giới
Tác thành tấm thân này
Với sanh tử khổ đau
Thế nên, sao con lại
Mong muốn việc hôn nhân"
"Mỗi ngày trăm ngọn giáo
Đâm thấy vào thân này
Dầu bị suốt trăm năm
Như vậy còn tốt hơn
Vì khổ ấy cuối cùng
Rồi cũng được chấm dứt"
"Những ai vào qui ngưỡng
Trong Pháp luật Đức Phật
Sống với hạnh thiểu dục
Tinh cần đoạn sanh tử
Sẽ chứng ngộ Niết Bàn"
"Thưa phụ vương, hôm nay
Con quyết chí xuất gia
Của cải có ích gì
Thứ rỗng không, tạm bợ
Con ghê tởm các dục
Như vật nôn của chó
Như thốt nốt đứt đọt"
"Lúc bấy giờ, đức vua
Anikaratta
Hôn phu của công chúa
Vây quanh với tùy tùng
Ngự đến rước công chúa
Theo như giờ đã định"
"Khi hay tin đức vua
Anika ngự đến
Ta dùng con dao bén
Cắt mái tóc đen mịn
Đóng kín tòa cung điện
Và chứng được sơ thiền"
"An trú trong thiền định
Rồi vua A – ni – ka
Tuần tự ngự vào thành
Tại cung ta tu tập
Đề mục tưởng bất tịnh"
"Khi ta đang tu tập
Đức vua Anika
Trang điểm với vàng ngọc
Bước lên tầng cung điện
Chấp tay van ta rằng"
"Này nàng Sumedhā
Trẫm xin trao cho nàng
Danh vị và uy quyền
Sản nghiệp và hạnh phúc
Nàng hãy còn son trẻ
Xin hãy hưởng dục lạc
Thật khó kiếm ở đời"
"Trẫm giao nàng vương quốc
Nàng tùy ý thọ hưởng
Và làm các công đức
Nàng chớ có buồn chán
Khiến cha mẹ khổ tâm"
"Ta đáp lời vua rằng
Hiện nay Sumedhā
Không mong cầu dục lạc
Đã viễn ly si mê
Xin chớ vui thích dục
Hãy thấy dục nguy hiểm"
"Đức vua Mandhātu
Vị chúa tể bốn châu
Hưởng dục lạc tột đỉnh
Nhưng đến khi mạng chung
Cũng chưa được thỏa lòng"
"Dầu có mưa bảy báu
Đầy khắp cả mười phương
Tuy vậy cũng không làm
Tâm con người thỏa mãn
Và chết trong khát vọng"
"Các dục như gươm giáo
Dục như đầu rắn hổ
Dục như bó đuốc cháy
Ví như khúc xương khô"
"Các dục là vô thường
Không bền, cay đắng nhiều
Sự nguy hiểm càng nhiều
Là nguồn gốc đau khổ
Kết quả là đau khổ
Như hòn sắt cháy đỏ"
"Các dục như trái độc
Như miếng thịt (hư thối)
Các dục như huyển mộng
Dục như của vay mượn"
"Các dục như gươm giáo
Là khổ lao vất vả
Dục như hố than hừng
Là cội nguồn đau khổ
Là hiểm họa, đao phủ"
"Như vậy, dục khổ nhiều
Và là pháp chướng ngại
Xin Ngài hãy quay về
Tôi không thể yêu thương
Trong vòng xoay của khổ"
"Ai giúp gì cho tôi
Khi đầu tôi đang cháy
Khi già, chết đeo đuổi
Tôi cần phải nổ lực
Thiêu hủy già và chết"
"Rồi ta thấy mẹ cha
Cùng vua A-ni-ka
Ngồi ngoài cửa than khóc
Ta bèn thưa như vầy"
"Từ vô thỉ luân hồi
Kẽ ngu luôn than khóc
Vì cha chết mẹ chết
Vì anh chết em chết
Vì chính mình phải chết"
"Từ vô thỉ luân hồi
Nước mắt, máu chúng sanh
Tuôn chảy không dừng nghỉ
Và xương của chúng sanh
Chất cao thành đồi núi"
"Nước mắt, máu chúng sanh
Đổ xuống trong luân hồi
Như nước trong bốn biển
Và xương trong một kiếp
Bằng núi Vipula"
"Lấy cả đất Diêm phù
Nắn thành từng hạt táo
Như vậy sẽ rất nhiều
Nhưng cũng không nhiều bằng
Số lượng cha và mẹ
Từ vô thỉ luân hồi"
"Cỏ cây và cành lá
Trên khắp cõi Diêm phù
Cũng không thể sánh bằng
Số lượng cha và mẹ
Từ vô thỉ luân hồi"
"Như khúc gỗ bị bọng
Trôi lênh đênh trên biển
Khó thay để rùa mù
Đưa đầu vào bọng cây
Tuy vậy còn dễ hơn
Được tái sanh làm người"
"Hãy suy nghiệm thân nầy
Rỗng không như bọt nước
Hãy suy quán các uẩn
Là vô thường biến hoại
Hãy suy niệm địa ngục
Đầy nhục hình thống khổ"
"Nước bất tử sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Với năm loại cay nóng
Khi hoan hỉ các dục
Ta sẽ bị cay nóng
Hơn năm loại cay nóng"
"Nước bất tử sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Với các dục nhiệt não
Khi nguờ vui thích dục
Người sẽ bị thiêu đốt
Tâm xao động, nhiệt não"
"Pháp xuất ly sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Với các dục thù địch
Các dục đầy lo sợ
Là kẻ thù nguy hiểm"
"Pháp giải thoát sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Với các dục giết trói
Dục là vật giết trói
Những ai ham thích dục
Sẽ cảm thọ khổ đau"
"Dục ví như bó đuốc
Sẽ đốt cháy người cầm
Sẽ đốt cháy những ai
Không chịu buông bó đuốc"
"Chớ bỏ hạnh phúc lớn
Do nhân dục lạc nhỏ
Chớ như cá nuốt câu
Phải đau khổ về sau"
"Chớ quanh quẩn trong dục
Ví như chó bị xích
Dục lạc khiến cho như
Kẽ nô lệ đói khát
Bị con chó làm hại"
"Với người đắm trong dục
Sẽ khổ đau khôn xiết
Hãy từ bỏ các dục
Rỗng không, không thường hằng"
"Pháp không già sẵn có
Sao lại còn mong cầu
Dục chất chứa sự già
Khi tái sanh có mặt
Già chết sẽ ngự trị"
"Niết Bàn không có già
Niết Bàn không có chết
Niết Bàn không già chết
Không có sự sầu muộn
Không bị kẻ thù hại
Không lệch lạc, sợ hãi
Không có sự nhiệt não"
"Chính pháp Niết Bàn này
Được nhiều người tác chứng
Những ai có chánh cần
Sẽ đạt được bất tử
Với người không tinh cần
Thì không thể chứng đạt"
"Đức vua Anika
Đứng dậy chắp hai tay
Cầu xin phụ vương rằng
Xin đại vương chấp thuận
Cho công chúa xuất gia
Vì nàng đã tỏ ngộ
Chân lý và giải thoát"
"Khi cha mẹ cho phép
Ta xuất gia tu tập
Thoát khỏi mọi sầu muộn
Chứng đạt sáu thắng trí"
"Pháp vi Diệu Niết Bàn
Rồi cũng được phát sanh
Cho nàng Sumedhā
Trước giờ phút Niết Bàn
Tôn ni Sumedhā
Thuật lại tiền kiếp mình
Với các bài kệ sau"
"Trong thời Đức Thế Tôn
Ko-nā-ga-ma-na
Ta cùng với hai bạn
Là Dhanañjānī
Và tín nữ Khemā
Xây dựng ngôi Tăng xá
Cúng dường đến Tăng chúng
Chính do công đức ấy
Ta được sanh thiên giới
Làm hoàng hậu thiên vương
Có uy lực to lớn
Khi sanh xuống cõi người
Ta được làm hoàng hậu
Nữ báu Chuyển Luân Vương
Việc xây dựng Tăng xá
Là nhân, là nguồn sanh
Cho thiên sản, nhân sản
Là nền tảng, là duyên
Của việc đến Giáo pháp
Của việc dập tắt khổ
Đối với người mến pháp"
"Những ai có lòng tin
Hiểu lời dạy Thế Tôn
Sẽ nhàm chán sanh hữu
Khi đã nhàm chán rồi
Tất sẽ được ly tham"

-Hết-

-ooOoo-

 Ðầu trang | 01 | 02 | Tập 1


Chân thành cám ơn Tỳ khưu Chánh Minh đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 10-2005).


[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 14-10-2005