Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
58. Kinh Thất Bảo
59. Kinh Tam Thập Nhị Tướng
60. Kinh Tứ Châu
61. Kinh Ngưu Phấn Dụ
62. Kinh Tần-Bệ-Sa-La Vương Nghinh Phật
63. Kinh Bệ-Bà -Lăng-Kỳ
64. Kinh Thiên Sứ
65. Kinh Ô Điểu Dụ
66. Kinh Thuyết Bổn
67. Kinh Đại Thiên Nại Lâm
68. Kinh Đại Thiện Kiến Vương
69. Kinh Tam Thập Dụ
70. Kinh Chuyển Luân Vương
71. Kinh Bệ-Tứ
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

6. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG

68. KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VÆ¯Æ NG[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật du hóa tại thà nh Câu-thi[02], trú trong rừng Sa-la của Hòa-bạt-đơn lực sĩ[03].

Bấy giờ, và o lúc tối hậu, sắp nhập Niết-bà n, Đức Thế Tôn bảo:

“Nà y A-nan, hãy đến giữa hai cây Sa-la song thọ[04] trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc. Như Lai và o giữa đêm nay sẽ nhập Niết-bà n.”

Tôn giả A-nan vâng lời Đức Như Lai, liền đến giữa hai cây song thọ trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc. Sau khi trải chỗ nằm xong, trở lại chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lỠdưới chân Ngà i rồi đứng sang một bên, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đã trải chỗ nằm cho Như Lai, đầu quay về hướng Bắc. Cúi mong Thế Tôn tự biết thời.”

Bấy giờ Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đến giữa hai cây song thọ, xếp tư y uất-đa-la-tăng trải lên chỗ nằm, gấp y tăng-già -lê là m gối. Ngà i nằm nghiêng về hông bên phải, hai chân chồng lên nhau. Đây là lúc tối hậu, Phật sắp Niết-bà n.

Lúc ấy Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật. Tôn giả chắp tay hướng về Đức Phật thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, còn có những thà nh lớn khác. Một là Chiêm-bà , hai là Xá-vệ, ba là Bệ-xá-ly, bốn là Vương xá, năm là Ba-la-nại, sáu là Ca-tỳ-la-vệ[05]. Sao Thế Tôn không nhập Niết-bà n ở các nơi ấy, mà quyết định tại thà nh bằng đất nhỏ hẹp nà y, một thà nh nhỏ hẹp nhất trong các thà nh?”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo:

“Nà y A-nan, ngươi chớ nói rằng đây là thà nh đất nhỏ hẹp, là thà nh nhỏ nhất trong các thà nh. Vì sao? Vì thuở quá khứ, thà nh Câu-thi-na nà y tên là Câu-thi vương thà nh[06], già u có cùng tột, dân chúng đông đúc.

“A-nan, Câu-thi vương thà nh dà i mười hai do-diên, rộng bảy do-diên.

“A-nan, ở đây dựng tháp canh cao bằng một người, hoặc hai, ba, bốn..., cho đến bảy người.

“A-nan, ở chung quanh bên ngoà i Câu-thi vương thà nh, có bảy lớp hà o. Hà o ấy được xây bằng gạch bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy hà o cũng trải cát bằng bốn loại báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

“Nà y A-nan, Câu-thi vương thà nh có bảy lớp tường thà nh bao bọc bên ngoà i. Những lớp tường thà nh ấy cũng được xây bằng gạch bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

“Nà y A-nan, Câu-thi vương thà nh có bảy lớp hà ng cây Đa-la[07] bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh bao bọc xung quanh. Cây Đa-la bằng và ng thì hoa, lá và trái bằng bạc. Cây Đa-la bằng bạc thì hoa, lá và trái bằng và ng. Cây Đa-la bằng lưu ly thì hoa, lá và trái bằng thủy tinh. Cây Đa-la bằng thủy tinh thì hoa, lá và trái bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, ở giữa những cây Đa-la có đà o nhiều hồ sen; hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen đỏ và hồ hoa sen trắng.

“Nà y A-nan, bờ hồ hoa ấy được đắp bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Ở đáy hồ thì rải cát bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Trong thà nh hồ ấy có thềm cấp bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly, thủy tinh. Thềm cấp bằng và ng thì bậc chân[08] bằng bạc, thềm cấp bằng bạc thì có bậc chân bằng và ng. Thềm cấp bằng lưu ly thì có bậc chân bằng thủy tinh. Thềm cấp bằng thủy tinh thì có bậc chân bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, xung quanh hồ ấy có câu lan[09] bằng bốn báu, lưỡi câu là và ng bạc, lưu ly, thủy tinh. Lan can bằng và ng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng và ng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, hồ ấy được trùm bởi mà n lưới có chuông treo ở giữa. Chuông ấy là m bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng và ng thì quả lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng và ng. Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, trong hồ ấy trồng nhiều loại hoa dưới nước như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng; thường có nước, có hoa, không có người trông giữ ngăn cấm vì thuộc về tất cả mọi người.

“Nà y A-nan, ở bờ hồ ấy có trồng nhiều loại hoa như hoa Tu-ma-na, hoa Bà -sư, hoa Chiêm-bặc, hoa Kiện-đề, hoa Ma-đầu-kiện-đề, hoa A-đề-mâu-đa, hoa Ba-la đầu[10].

“Nà y A-nan, bên các bờ hồ sen ấy, có nhiều người nữ thân thể nõn nà , sạch sẽ, trong sáng, sắc đẹp hơn người, chẳng kém thiên nữ, tư dung đoan chánh, ai nhìn cũng thấy vui thích, được trang sức đầy đủ các loại ngọc báu; những người nữ ấy bố thí tùy theo nhu cầu của mọi người như đồ ăn thức uống, áo, chăn, xe cộ, nhà cửa, giường nệm, đệm lông ngũ sắc, tôi tớ, đèn dầu... đem cung cấp đầy đủ.

“Nà y A-nan, lá cây Đa-la ấy lúc gió thổi thì phát ra âm thanh cực kỳ vi diệu, cũng như năm loại kỹ nhạc được nhạc sư tà i ba tấu lên thì có âm thanh hết sức hà i hòa, tuyệt diệu. Nà y A-nan, lá cây ấy lúc gió thổi cũng lại như vậy.

“Nà y A-nan, trong thà nh Câu-thi ấy giả sử có người tồi tệ thấp hèn hạ, muốn được thưởng thức năm loại kỹ nhạc, nếu cùng đến giữa những cây Đa-la thì đều được thưởng thức thỏa thích.

“Nà y A-nan, Câu-thi vương thà nh thường có mười hai loại tiếng không bao giờ gián đoạn, là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng đi bộ, tiếng tù và , tiếng trống, tiếng trống bạc lạc[11], tiếng trống kỷ[12], tiếng ca, tiếng vũ, tiếng ăn, tiếng bố thí.

“Nà y A-nan, trong thà nh Câu-thi có vua tên là Đại Thiện Kiến[13], là vị Chuyển luân vương thông minh trí tuệ, có bốn loại quân chỉnh trị thiên hạ, tự do tự tại; là vị Pháp vương như pháp, thà nh tựu bảy báu, được bốn đức như ý của con người.

“Nà y A-nan, bấy giờ các Phạm chí, cư sĩ trong Câu-thi vương thà nh mang các loại châu báu, kiềm-bà -la báu[14], chở đến chỗ vua Đại Thiện Kiến, thưa rằng:

“– Tâu Thiên vương, các loại châu báu, kiềm-bà -la báu nà y, mong Thiên vương vì lòng từ mẫn mà nạp thọ.

“Đại Thiện Kiến vương nói với các Phạm chí:

“– Nà y các khanh, các khanh hiến dâng nhưng ta thấy chưa cần thiết, vì ta đã có đủ.

“Nà y A-nan, lại có tám vạn bốn ngà n vị Tiểu quốc vương, đến thưa vua Đại Thiện Kiến rằng:

“– Tâu Thiên vương, chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương.

“Đại Thiện Kiến vương nói với các Tiểu quốc vương:

“– Các khanh muốn xây chánh điện cho ta, nhưng ta thấy chưa cần thiết, vì chánh điện ta đã có.

“Tám vạn bốn ngà n vị Tiểu quốc vương đều chắp tay hướng về Đại Thiện Kiến vương, lặp lại ba lần rằng:

“– Tâu Thiên vương, chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương. Chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương.

“Bấy giờ, Đại Thiện Kiến vương im lặng nhận lời của tám vạn bốn ngà n vua các tiểu quốc. Khi biết vua đã im lặng nhận lời, các Tiểu quốc vương liền bái biệt, đi quanh ba vòng rồi lui ra. Vua nước nà o trở về nước ấy, dùng tám vạn bốn ngà n cỗ xe chất đầy những và ng và các loại tiền, bằng và ng tinh luyện hay chưa tinh luyện[15]. Lại lấy các trụ đều bằng ngọc lớn chở đến thà nh Câu-thi, cách thà nh không xa xây đại chánh điện.

“Nà y A-nan, đại chánh điện ấy dà i một do-diên, rộng một do-diên. Đại chánh điện ấy được xây bằng gạch là m bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

“Nà y A-nan, thềm cấp của đại chánh điện ấy là m bằng bốn loại báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Thềm cấp bằng và ng thì trụ bằng bạc. Tam cấp bằng bạc thì trụ bằng và ng. Thềm cấp bằng lưu ly thì trụ bằng thủy tinh. Thềm cấp bằng thủy tinh thì trụ bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, trong đại chánh điện có tám vạn bốn ngà n cột trụ là m bằng bốn báu là : Và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Cột bằng và ng thì đá tảng bằng bạc. Cột bằng bạc thì đá tảng bằng và ng. Cột bằng lưu ly thì đá tảng bằng thủy tinh. Cột bằng thủy tinh thì đá tảng bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, bên trong chánh điện lại xây tám vạn bốn ngà n lầu là m bằng bốn báu là : Và ng, bạc, lưu ly, thủy tinh. Lầu bằng và ng thì mái lợp bằng bạc. Lầu bằng bạc thì mái lợp bằng và ng. Lầu bằng lưu ly thì mái lợp bằng thủy tinh. Lầu bằng thủy tinh thì mái lợp bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, trong đại chánh điện có thiết trí tám vạn bốn ngà n ngự tòa, cũng là m bằng bốn báu: và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lầu bằng và ng thì thiết trí ngự tòa bằng bạc, trải lên trên các thứ nệm chiếu, đệm lông năm sắc, phủ lên trên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối, trải thảm quý bằng da sơn dương. Cũng vậy, lầu bằng bạc thì thiết trí ngự tòa bằng và ng. Lầu bằng lưu ly thì thiết trí ngự tòa bằng thủy tinh. Lầu bằng thủy tinh thì thiết trí ngự tòa bằng lưu ly, trải lên bằng các thứ nệm chiếu, đệm lông năm sắc, phủ lên bằng các thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương.

“Nà y A-nan, đại chánh điện ấy xung quanh có câu lan bằng bốn báu, và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng và ng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng và ng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, đại chánh điện ấy được che bằng mà n lưới, trong đó treo các thứ chuông lắc. Chuông ấy là m bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng và ng thì quả lắc bằng bạc. Chuông là m bằng bạc thì quả lắc bằng và ng. Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, đại chánh điện ấy sau khi được kiến trúc đầy đủ, bốn vạn tám ngà n vua các tiểu quốc đi ra cách đại chánh điện không xa, xây ao sen lớn.

“Nà y A-nan, ao sen lớn ấy dà i một do-diên; rộng một do-diên.

“Nà y A-nan, ao sen lớn ấy được đắp gạch bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy ao được rải cát bốn thứ báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

“Nà y Na-nan, ao sen lớn ấy có thềm cấp bằng bốn thứ báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Tầng cấp bằng và ng thì thềm bằng bạc. Tầng cấp bằng bạc thì thềm bằng và ng. Tầng cấp bằng lưu ly thì thềm bằng thủy tinh. Tầng cấp bằng thủy tinh thì thềm bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, chung quanh ao sen lớn có câu lan bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng và ng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng và ng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, ao sen lớn ấy được che bởi mà n lưới, trong đó treo các thứ chuông lắc. Chuông ấy là m bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng và ng thì quả lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng và ng. Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, trong ao sen lớn ấy có nhiều loại thủy hoa như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen trắng, hoa sen đỏ, thường có nước ở hoa, có người gìn giữ, không thuộc về tất cả mọi người.

“Nà y A-nan, trong ao sen lớn ấy có nhiều loại lục hoa, như hoa Tu-ma-na, hoa Bà -sư, hoa Chiêm-bặc, hoa Tu-kiền-đề, hoa Ma-đầu-kiẹân-đề, hoa A-đề-mâu-đa, hoa Ba-la-lại.

“Nà y A-nan, sau khi kiến trúc đại điện và hồ hoa lớn đầy đủ như thế, tám vạn bốn ngà n vua các tiểu quốc đi ra cách điện không xa, thiết lập vườn Đa-la[16].

“Nà y A-nan, vườn Đa-la ấy dà i một do-diên, rộng một do-diên. Trong vườn Đa-la trồng tám vạn bốn ngà n cây Đa-la, đều dùng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Cây Đa-la bằng và ng thì lá, hoa, quả bằng bạc. Cây Đa-la bằng bạc thì lá, hoa, quả bằng và ng. Cây Đa-la bằng lưu ly thì lá, hoa, quả bằng thủy tinh. Cây Đa-la bằng thủy tinh thì lá, hoa, quả bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, chung quanh vườn Đa-la ấy có lan can lưỡi câu bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng và ng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng và ng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, vườn Đa-la ấy được che bằng lưới báu, có chuông treo lơ lửng ở khoảng giữa. Chuông ấy là m bằng bốn báu là và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng và ng thì quả lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng và ng. Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.

“Nà y A-nan, sau khi kiến trúc đại điện, ao hoa và vườn Đa-la đầy đủ như thế, tám vạn bốn ngà n Tiểu quốc vương cùng đến chỗ vua Đại Thiện Kiến thưa rằng:

“– Tâu Thiên vương, xin biết cho rằng, đại điện, ao hoa và vườn cây Đa-la, tất cả đã kiến trúc đầy đủ. Mong Thiên vương sử dụng tùy thích.

“Nà y A-nan, bấy giờ vua Đại Thiện Kiến nghĩ rằng: ‘Ta không nên lên đại điện nà y trước. Nếu có bậc Thượng tôn Sa-môn, Phạm chí ở thà nh Câu-thi vương nà y, ta nên mời tất cả tụ tập ngồi ở đại điện nà y, soạn các thức ăn ngon là nh, mỹ diệu, đầy đủ thức nhai và nuốt, tự tay bưng hầu khiến các ngà i ăn no. Ăn xong, dọn bát và dùng nước rửa, rồi mời các ngà i trở về’.

“Nà y A-nan, sau khi vua Đại Thiện Kiến nghĩ như vậy, liền mời tất cả các bậc Thượng tôn Sa-môn, Phạm chí đang trú tại thà nh Câu-thi vương ấy tụ tập trên đại chánh điện. Tất cả tụ tập và an tọa xong, vua thân hà nh lấy nước rửa rồi đem các thức ăn ngon là nh, mỹ diệu, đầy đủ các thức nhai và nuốt, tự tay bưng hầu khiến các ngà i ăn no. Sau khi ăn, dọn bát, đem nước rửa và nhận lời cầu chúc, rồi vua mời các ngà i trở về.

“Nà y A-nan, vua Đại Thiện Kiến lại nghĩ: ‘Nay ta không nên và o đại chánh điện để hưởng dục lạc. Ta nên đem độc nhất một người hầu lên ở tại đại chánh điện’.

“Nà y A-nan, sau đó vua Đại Thiện Kiến đem người hầu lên đại chánh điện, đi và o lầu bằng và ng, ngồi ở ngự tòa bằng bạc, được trải lên bằng những thứ nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly các pháp ác bất thiện; có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục sanh, tiến và o Sơ thiền, thà nh tựu và an trú.

“Từ lầu bằng và ng đi ra, lại đi và o lầu bằng bạc, ngồi và o ngự sà ng bằng và ng được trải các thứ nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục sanh, tiến và o Sơ thiền, thà nh tựu và an trú.

“Từ lầu bằng bạc đi ra, lại đi và o lầu bằng lưu ly, ngồi và o ngự sà ng bằng tủy tinh được trải các thứ nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục sanh, tiến và o Sơ thiền, thà nh tựu và an trú.

“Từ lầu bằng lưu ly đi ra, lại và o lầu bằng thủy tinh, ngồi và o ngự sà ng bằng lưu ly được trải các thứ nệm chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng những thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ và lạc do ly dục sanh, tiến và o Sơ thiền, thà nh tựu và an trú.

“Nà y A-nan, bấy giờ tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu quá lâu không thấy vua Đại Thiện Kiến, ai cũng nhớ mong, khao khát muốn thấy. Lúc đó, tám vạn bốn ngà n phu nhân cùng nhau đi đến nữ báu thưa thỉnh rằng:

“– Thiên hậu, nên biết rằng, từ lâu không được hầu cận Thiên vương. Thiên hậu, chúng tôi nay muốn cùng nhân dân đến yết kiến Thiên vương.

“Nữ báu nghe xong, liền bảo Tướng quân:

“– Ngươi nay nên biết rằng, chúng tôi từ lâu không được hầu cận Thiên vương, nay muốn đến yết kiến Thiên vương.

“Tướng quân nghe vậy, liền đưa tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu đến đại chánh điện. Tám vạn bốn ngà n thớt voi, tám vạn bốn ngà n con ngựa, tám vạn bốn ngà n cỗ xe, tám vạn bốn ngà n lính bộ, tám vạn bốn ngà n tiểu vương cũng cùng hộ tống, đi đến đại chánh điện. Lúc cả đoà n đang đi, âm thanh ấy vang dội chấn động mạnh mẽ. Vua Đại Thiện Kiến nghe được âm thanh vang dội chấn động mạnh mẽ ấy. Nghe xong, nhà vua liền hỏi người đứng hầu bên cạnh:

“– Đó là tiếng gì mà vang dội chấn động mạnh mẽ thế?

“Người hầu thưa:

“– Tâu Thiên vương, đó là do tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu, hôm nay tất cả cùng đến đại chánh điện; tám vạn bốn ngà n thớt voi, tám vạn bốn ngà n con ngựa, tám vạn bốn ngà n cỗ xe, tám vạn bốn ngà n lính bộ, tám vạn bốn ngà n Tiểu vương lại cùng nhau đến chánh điện, cho nên âm thanh ấy vang dội, chấn động mạnh mẽ.

“Nghe xong, vua Đại Thiện Kiến bảo người hầu cận:

“– Ngươi mau xuống khỏi đại điện, đến chỗ đất trống, trải nhanh giường bằng và ng rồi trở lại cho ta hay.

“Người hầu cận vâng lời, liền từ điện đi xuống, đến chỗ đất trống, trải giường bằng và ng một cách nhanh chóng, liền trở lại thưa rằng:

“– Con đã trải giường bằng và ng ở chỗ đất trống cho Thiên vương, xin tùy ý Thiên vương.

“Nà y A-nan, vua Đại Thiện Kiến cùng với người hầu từ điện đi xuống, ngự trên giường bằng và ng và ngồi kiết già .

“Nà y A-nan, bấy giờ tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu cùng nhau đến trước vua Đại Thiện Kiến.

“Nà y A-nan, từ xa, vua Đại Thiện Kiến trông thấy tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu, liền đóng kín các căn. Tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu thấy vua đóng kín các căn, liền nghĩ: ‘Thiên vương nay chắc không dùng đến chúng ta nữa. Vì sao? Vì Thiên vương vừa thấy chúng ta, liền đóng kín các căn’.

“Nà y A-nan, khi đó nữ báu đi đến trước vua Đại Thiện Kiến. Đến rồi thưa rằng:

“– Tâu Thiên vương, xin biết cho, tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu nà y hoà n toà n thuộc về Thiên vương. Mong Thiên vương thương tưởng đến chúng tôi cho đến lúc mạng chung và tám vạn bốn ngà n thớt voi, tám vạn bốn ngà n con ngựa, tám vạn bốn ngà n cỗ xe, tám vạn bốn ngà n lính bộ, tám vạn bốn ngà n tiểu vương cũng hoà n toà n thuộc về Thiên vương, mong Thiên vương tưởng đến tất cả cho đến lúc mạng chung.

“Bấy giờ vua Đại Thiện Kiến nghe những lời ấy xong, bảo nữ báu rằng:

“– Nà y hiền muội, các người luôn luôn xúi dục ta là m ác, mà không khuyến khích ta là m là nh. Nà y hiền muội, từ nay về sau nên khuyến khích ta là m là nh, chớ xúi dục ta là m ác.

“Nà y A-nan, tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu ấy liền ngồi qua một bên, nước mắt trà n ra, khóc lóc bi thảm, thưa rằng:

“– Chúng tôi chẳng phải là em của Thiên vương, mà nay Thiên vương gọi chúng tôi là hiền muội.

“Nà y A-nan, tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu ấy, mỗi người dùng áo lau nước mắt, lại đến trước vua Đại Thiện Kiến thưa rằng:

“– Tâu Thiên vương, chúng tôi là m thế nà o để khuyến khích Thiên vương là m là nh, không là m ác?

“Vua Đại Thiện Kiến đáp:

“– Các hiền muội, hãy nói với ta như thế nà y: ‘Tâu Thiên vương, ngà i biết không, mạng người ngắn ngũi, rồi sẽ đi qua đời sau, nên phải tu phạm hạnh. Do đó sự sanh không thể chấm dứt. Thiên vương nên biết, pháp ấy chắc chắn đến, không thể ái niệm, không thể hoan hỷ, hoại diệt tất cả, người đời gọi là ‘sự chết’. Cho nên, tâu Thiên vương, đối với tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu, nếu có ái niệm, có dục thì mong Thiên vương đoạn trừ, xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung vẫn chớ niệm tưởng. Đối với tám vạn bốn ngà n thớt voi, tám vạn bốn ngà n con ngựa, tám vạn bốn ngà n cỗ xe, tám vạn bốn ngà n lính bộ, tám vạn bốn ngà n tiểu vương, tâu Thiên vương, nếu có ái niệm, có dục thì mong Thiên vương đoạn trừ, xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung vẫn chớ niệm tưởng’. Nà y các hiền muội, các hiền muội hãy khuyến khích ta là m là nh, chớ xúi dục ta là m ác, đúng như thế.

“Nà y A-nan, tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu ấy thưa rằng:

“– Tâu Thiên vương, chúng tôi từ nay về sau sẽ khuyến khích Thiên vương là m là nh, chớ không xúi dục Thiên vương là m ác, như thế nà y: ‘Tâu Thiên vương, mạng người ngắn ngũi, rồi sẽ đi qua đời sau. Pháp ấy chắc chắn đến, cũng không thể ái niệm, cũng không thể hoan hỷ, hoại diệt tất cả, người đời gọi là ‘sự chết’, cho nên, tâu Thiên vương, đối với tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu, nếu có niệm có dục thì mong Thiên vương hãy đoạn trừ, xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung cũng không niệm tưởng’.

“Nà y A-nan, vua Đại Thiện Kiến thuyết pháp cho tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho những người ấy, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ xong, nhà vua bảo họ trở về.

“Nà y A-nan, biết vua đã ra lệnh, tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu mỗi người đều đến bái biệt nhà vua rồi trở về.

“Nà y A-nan, tám vạn bốn ngà n phu nhân và nữ báu ấy trở về chưa bao lâu, vua Đại Thiện Kiến cùng người hầu cận trở lên đại điện, và o lầu bằng và ng, ngồi trên ngự sà ng bằng bạc, được trải bằng các thứ nệm, chăn, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các thứ gấm, lụa, the, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán như thế nà y: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siỠm, dối trá, lừa gạt, nói láo, vô lượng các pháp ác bất thiện đến đây là cuối cùng. Tâm cùng với từ tương ưng, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương trên và dưới phổ biến cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh, bao la rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thà nh tựu và an trú’.

“Từ lầu bằng và ng đi ra, nhà vua lại và o lầu bằng bạc, ngồi trên ngự sà ng bằng và ng, được trải lên bằng các chăn nệm, đệm lông năm sắc, được trải lên bằng các thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán tưởng rằng: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siỠm, dối trá, lừa gạt, nói láo,... vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là cuối cùng, tâm cùng với bi tương ưng, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương, tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thà nh tựu an trú’.

“Từ lầu bằng bạc đi ra, nhà vua lại và o lầu bằng lưu ly, ngồi trên ngự tòa bằng thủy tinh, đượïc trải bằng các thứ chăn nệm, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn nệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán thế nà y: ‘Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghéùt nhau, dua siỠm, dối trá, lừa gạt, nói láo, vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là cuối cùng, tâm cùng với hỷ tương ưng, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương, tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thà nh tựu và an trú’.

“Từ lầu bằng lưu ly đi ra, nhà vua và o lầu bằng thủy tinh, ngồi trên ngự tòa bằng lưu ly, được trải lên bằng các thứ chăn nệm, đệm lông năm sắc, được phủ lên bằng các thứ gấm, the, lụa, sa trun, có chăn nệm lót hai đầu để gối và trải thảm quý bằng da sơn dương. Ngồi xong, quán thế nà y: “Ta đến đây là cuối cùng. Niệm dục, niệm nhuế, niệm hại, đấu tranh, ghét nhau, dua siỠm, dối trá, lừa gạt, nói láo,... vô lượng các pháp ác bất thiện, đến đây là cuối cùng, tâm cùng với xả tương ưng, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trú. Cũng như thế, hai, ba, bốn phương, tứ duy, phương trên và phương dưới, phổ biến cùng khắp, không kết không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cùng khắp thế gian, thà nh tựu và an trú.”

“Nà y A-nan, Vua Đại Thiện Kiến và o giờ phút cuối cùng, chết với một cảm giác đau phơn phớt.

“Cũng giống như cư sĩ hoặc con của cư sĩ, ăn món ăn mỹ diệu, cảm thấy một chút khó chịu.

“Nà y A-nan, vua Đại Thiện Kiến và o giờ phút cuối cùng chết với một cảm giác đau phơn phớt cũng lại như vậy.

“Nà y A-nan, bấy giờ vua Đại Thiện Kiến tu bốn Phạm thất[17], sau khi xả niệm dục, nhờ đó khi mạng chung, sanh và o cõi Phạm thiên.

“Nà y A-nan, vua Đại Thiện Kiến thuở xưa ấy ông cho là ai khác chăng? Chớ nghĩ như vậy, nên biết rằng vị ấy chính là Ta vậy.

“Nà y A-nan, lúc bấy giờ Ta là m lợi ích cho mình, cũng là m lợi ích cho kẻ khác, là m lợi ích cho mọi người. Ta thương xót thế gian, mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn và khoái lạc cho trời và người. Bấy giờ Ta thuyết pháp không đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh. Vì không rốt ráo phạm hạnh nên khi ấy không lìa khỏi sự sanh, tuổi già , bệnh tật, sự chết, khóc lóc, áo não, cũng chưa thoát khỏi mọi khổ đau.

“Nà y A-nan, nay Ta xuất hiện ở đời là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Nay Ta đã là m lợi ích cho mình, cũng là m lợi ích cho kẻ khác, là m lợi ích cho mọi người. Ta thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, cầu sự an ổn và khoái lạc cho trời và người. Nay Ta thuyết pháp đến chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Rốt ráo phạm hạnh nên nay Ta lìa khỏi sự sanh, tuổi già , tật bệnh, sự chết, khóc lóc, áo não. Ta nay đã thoát khỏi mọi sự đau khổ.

“Nà y A-nan, từ thà nh Câu-thi-la, từ rừng Sa-la của Hòa-bạt-đơn Lực sĩ, từ sông Ni-liên-nhiên[18], từ sông Bà -cầu[19], từ Thiên Quang tự, từ chỗ trải chỗ nằm cho Ta hôm nay, trong khoảng thời gian giữa đó, Ta đã bảy lần xả thân. Trong bảy lần ấy, sáu lần là m Chuyển luân vương, nay là lần thứ bảy thà nh Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Nà y A-nan, Ta không thấy ở đâu trong thế gian nà y, Trời hay Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ trời đến người mà Ta sẽ xả thân thêm lần nữa, vì điều đó không có thể có.

“Nà y A-nan, nay đây là sự sanh cuối cùng của Ta, là sự hữu cuối cùng, là thân cuối cùng, là bẩm hình cuối cùng. Ta nói đây là chỗ tận cùng của khổ.

Đức Phật thuyết như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết xong, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Pāli: D.17. Mahā-Sudassana-suttanta. Tham chiếu, No.1(2) “Kinh Du hà nh”; No.5 Phật Bát-nê-hoà n Kinh, quyển hạ, Bạch Pháp Tổ dịch; No.6 Bát-nê-hoà n kinh, khuyết danh dịch; No.7 Đại Bát-niết-bà n kinh, Nghĩa Tịnh dịch; No.2026 Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sự quyển 37, Nghĩa Tịnh dịch.
[02] Câu-thi thà nh 拘 尸 城. Pāli: Kusinārā, thủ phủ của bộ tộc Mallā; Đức Phật nhập Niết-bà n tại đây.
[03] Hòa-bạt-đơn lực sĩ 惒 跋 單 力 士. Pāli: Upavattana-Mallā, bộ tộc Mallā ở Upavattana.
[04] Song Sa-la thọ 雙 裟 ç¾ æ¨¹. Pāli: yamaka-sālā, cây Sa-la sinh đôi, mọc thà nh cặp; Sa-la song thọ.
[05] Chiêm-bà (Pāli: Campā). Xá-vệ (Sāvatthi), Bệ-xá-ly (Vesali), Vương xá (Rājagaha), Ba-la-nại (Bārānasi), Ca-duy-la-vệ (Kapilavatthu). Bản Pāli kể hơi khác, thay Bệ-xa-ly và Ca-duy-la-vệ bằng Sāketa và Kosambī.
[06] Câu-thi vương thà nh 拘 尸 王 城. Pāli: Kūsavati. No.1 (2) Câu-xá-bà -đề.
[07] Đa-la thọ 多 ç¾ æ¨¹. Pāli: tāla, một giống cây cọ, tên khoa học Borassus flabelliformis.
[08] Hán: đặng 蹬; bản Tống: tranh 橙. Có lẽ là 磴.
[09] Hán: câu lan 鉤 欄, lan can theo hình thế nhà , cao thấp, quanh co (Từ nguyên). Pāli không đề cập chi tiết nay, nhưng từ Pāli tương đương là vedikā: lan can, lan thuẫn hay câu lan.
[10] Các loại hoa: hoa Tu-ma-na ä¿® 摩 那 (Pāli: sumanā, thiện ý), loại hoa là i cánh lớn; hoa Bà -sư 婆 師 (vassikā: hạ sinh hoa), một loại hoa là i rất thÆ¡m (Jasminum Sambac); hoa Chiêm-bặc 瞻 蔔 (campaka: tố hinh hoa), hoa Chăm-pa, rất thÆ¡m, có mà u trắng và và ng; hoa Tu-kiện-đề ä¿® 捷 提 (sogandhika: hảo hương), thụy liên trắng, súng trắng; hoa Ma-đầu-kiện-đề 摩 é ­ 捷 提 (madhu-gandhika: mật hương); hoa A-đề-mâu-đa 阿 提 牟 哆 (adhimuttaka: tăng thượng tín), hoa Ba-la-đầu æ³¢ ç¾ é ­.
[11] Hán: bạc lạc cổ 薄 洛 鼓, không rõ loại trống gì.
[12] Hán: kỹ cổ 伎 鼓.
[13] Đại Thiện Kiến大 善 見. Pāli: Mahāsudassana.
[14] Kiềm-bà -la bảo 鉗 婆 ç¾ å¯¶, vải lông, áo lông.
[15] Tác dĩ bất tác 作 以 不 作. Những người thợ (là m và không là m)?
[16] Đa-la viên 多 ç¾ åœ’. Pāli: Tālavana.
[17] Bốn phạm thất 梵 室 hay phạm trụ 梵 住. Pāli: cattāri brahmavihārā. Cũng thường nói là bốn Vô lượng tâm. Pāli: catasso appamaññāyo.
[18] Ni-liên-nhiên å°¼ 連 然, Pāli: Nerañjarā, con sông gần chỗ Phật thà nh đạo. Đây chính xác phải là Hiraññāvati, âm là Hê (hay hi) -liên-thiền 醯 (希 hay ç •) 連 禪, con sông gần chỗ Phật nhập Niết-bà n.
[19] Bà -cầu 婆 求. Pāli: Kakutthā, con sông gần Kusinārā. Đức Phật tắm tại đây trước khi đến Kusinārā để nhập Niết-bà n.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]