Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
097. Kinh Đại Nhân
098. Kinh Niệm Xứ
099. Kinh Khổ Ấm (I)
100. Kinh Khổ Ấm (II)
101. Kinh Tăng Thượng Tâm
102. Kinh Niệm
103. Kinh Sư Tử Hống
104. Kinh Ưu-Ðà m-Bà -LÃ
105. Kinh Nguyện
106. Kinh Tưởng
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

9. PHẨM NHÂN

104. KINH ƯU-ĐÀM-BÀ-LA[1]

Tôi nghe như vầy.

Một thời Đức Phật du hóa tại thà nh Vương xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.

Bấy giờ có một Cư sĩ tên là Thật Ý[02], và o buổi sáng sớm, ông rời thà nh Vương xá, muốn đến chỗ Đức Phật để cúng dường lỠsự. Lúc bấy giờ Cư sĩ Thật Ý nghĩ rằng: “Hãy gác qua chuyện đi đến chỗ Phật. Thế Tôn và các Tỳ-kheo có thể vẫn còn đang thiền định. Ta hãy và o rừng Ưu-đà m-bà -la, đến Dị học viên[03]“.

Bấy giờ Cư sĩ Thật Ý liền đi và o rừng Ưu-đà m-bà -la, đến Dị học viên. Tại đây có một Dị học tên là Vô Nhuế[04], được tôn là m tông chủ của dị học, được mọi người kính trọng, quy phục, được năm trăm Dị học tôn sùng. Giữa một đám đông ồn à o, ông đang cao giọng luận bà n đủ mọi vấn đề chà o xáo[05], như bà n chuyện vua chúa, bà n chuyện trộm cướp, bà n chuyện đấu tranh, bà n chuyện ăn uống, bà n chuyện y phục, bà n chuyện phụ nữ, bà n chuyện đồng nữ, bà n chuyện dâm nữ, bà n chuyện thế tục, bà n chuyện phi đạo, bà n chuyện sông biển, bà n chuyện quốc gia, tất cả những vấn đề cũng lại chà o xáo như thế đều tập họp tại chỗ ngồi của ông.

Lúc bấy giờ, Dị học Vô Nhuế thấy Cư sĩ Thật Ý từ xa tiến đến, liền ra lệnh bảo hội chúng của mình hãy im lặng:

“Nà y chư Hiền, các ông chớ nói nữa, hãy vui vẻ im lặng! Mỗi người hãy tự mình thu liỠm! Vì sao vậy? Vì có Cư sĩ Thật Ý sắp đến đây. Ông ấy là đệ tử của Sa-môn Cù-đà m. Trong số Cư sĩ tại gia ở trong thà nh Vương xá nà y, nếu có đệ tử của Sa-môn Cù-đà m mà danh đức vang dội, được mọi người kính trọng thì ông ấy là người thứ nhất. Ông ấy không ưa sự huyên náo, thích im lặng, tự mình thu liỠm. Nếu ông ấy biết hội chúng đây im lặng có thể sẽ hay đến”.

Bấy giờ Dị học Vô Nhuế bảo hội chúng im lặng, rồi tự mình cũng im lặng. Lúc bấy giờ Cư sĩ Thật Ý đi đến chỗ Dị học Vô Nhuế, cùng nhau chà o hỏi, rồi ngồi xuống một bên.

Cư sĩ Thật Ý nói:

“Nà y Vô Nhuế, Đức Phật Thế Tôn của tôi, hoặc ở tại rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay sống trên sườn núi cao, những nơi vắng vẻ không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời và tùy thuận mà thiền tọa. Đó là so sánh chỗ Đức Thế Tôn với ở đây; Ngà i sống ở tại rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây, hay sống trên sườn núi cao, những nơi vắng lặng không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời, tùy thuận mà thiền tọa. Ngà i ở nơi xa vắng, thường thích thiền tọa, an ổn, khoái lạc. Đức Phật Thế Tôn chưa hề một ngà y một đêm tụ tập, hội họp cùng mọi người như ông và quyến thuộc của ông hôm nay”.

Bấy giờ Dị học Vô Nhuế liền nói:

“Thôi, thôi! Cư cĩ, ông do đâu mà biết được? Cái tuệ giải thoát trống rỗng[06] của Sa-môn Cù-đà m, cái đó không đủ để nói, hoặc tương ưng hay không tương ưng, hoặc tùy thuận hay không tùy thuận. Sa-môn Cù-đà m đi từ biên nà y đến biên kia[07], ưa thích từ biên nà y đến biên kia, sốngï từ biên nà y đến biên kia. Như con trâu đui ăn cỏ nơi biên địa, nó đi từ biên nà y đến biên kia, ưa thích từ biên nà y đến biên kia, sốngï từ biên nà y đến biên kia. Sa-môn Cù-đà m cũng giống như vậy.

“Nà y Cư sĩ, nếu Sa-môn Cù-đà m đến nơi hội chúng nà y, chỉ bằng một vấn đề, tôi cũng đủ hủy diệt ông ấy như lăn cái bình không, và cũng sẽ nói cái ví dụ con trâu đui cho ông ấy nghe”.

Rồi Dị học Vô Nhuế bảo với đồ chúng của mình:

“Nà y chư Hiền, giả sử Sa-môn Cù-đà m đến nơi hội chúng nà y, nếu như có đến thật, thì các ông chớ có đứng dậy chắp tay nghinh đón, cũng chớ có mời ngồi. Hãy để riêng một chỗ cho ông ấy ngồi thôi. Khi ông ấy đến đây rồi thì hãy nói như vầy, ‘Nà y Cù-đà m! Có chỗ ngồi đây, muốn ngồi tùy ý’.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn đang thiền tọa, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, nghe xa hơn người, nghe rõ cuộc thảo luận như vậy giữa Cư sĩ Thật Ý và Dị học Vô Nhuế, và o lúc xế, Ngà i liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi và o rừng Ưu-đà m-bà -la, đến Dị học viên. Thấy Đức Thế Tôn đang từ xa đi đến, Dị học Vô Nhuế liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bà y vai phải, chắp tay hướng Phật mà tán thán rằng:

“Kính chà o Cù-đà m, đã lâu ngà y không đến đây. Xin mời ngồi chỗ nà y”.

Khi ấy Đức Thế Tôn thầm nghĩ: “Người ngu si nà y tự phản lại điều mình đặt ra”. Biết như vậy, Đức Thế Tôn liền ngồi trên giường đó. Dị học Vô Nhuế sau khi chà o hỏi Đức Thế Tôn, liền ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn hỏi:

“Nà y Vô Nhuế! Ông và Cư sĩ Thật Ý vừa bà n luận việc gì thế? Vì lý do gì mà nhóm họp nơi đây?”

Dị học Vô Nhuế trả lời:

“Thưa Cù-đà m, chúng tôi nghĩ như vầy, ‘Sa-môn Cù-đà m có những pháp gì dạy bảo cho đệ tử, các đệ tử sau khi vâng lãnh sự dạy bảo rồi liền được an ổn, trọn đời tịnh tu phạm hạnh và đem dạy cho người khác nữa?’ Thưa Cù-đà m, tôi và Cư sĩ Thật Ý vừa bà n luận việc như vậy. Vì lý do đó mà chúng tôi nhóm họp nơi đây”.

Cư sĩ Thật Ý nghe ông ta nói vậy liền nghĩ: ‘Lạ thay, Dị học Vô Nhuế lại nói láo. Vì sao vậy? Vì ở trước Đức Thế Tôn mà dám lừa dối Ngà i’.

Đức Thế Tôn biết vậy, Ngà i liền nói:

“Nà y Vô Nhuế, Pháp của Ta rất sâu sắc, rất kỳ diệu, rất hy hữu, khó hiểu, khó biết, khó thấy, khó chứng đắc, mà Ta dạy bảo cho đệ tử và đệ tử sau khi vâng lãnh sự dạy bảo rồi liền được an ổn, trọn đời tịnh tu phạm hạnh và đem dạy lại cho người khác nữa. Nà y Vô Nhuế, hãy hỏi Ta về hạnh bất liỠu tắng ố[08] mà Sư tông của ông chấp nhận, Ta cũng sẽ giải đáp cho ông thỏa mãn”.

Lúc đó các chúng Dị học ồn à o đó cùng nhau lớn tiếng nói rằng:

“Sa-môn Cù-đà m thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Có như ý túc, có uy đức lớn, có phước hựu lớn, có oai thần lớn. Vì sao vậy? Ngà i bỏ qua tông chỉ của mình mà lại đề nghị thảo luận về tông chỉ của người”.

Lúc bấy giờ Dị học Vô Nhuế ra lệnh bảo hôïi chúng của mình im lặng rồi hỏi:

“Thưa Cù-đà m! Hạnh bất liỠu khả tắng, thế nà o là được hoà n toà n? Thế nà o là không được hoà n toà n?

Bấy giờ Đức Thế Tôn trả lời:

“Nà y Vô Nhuế! Hoặc có Sa-môn, Phạm chí lõa hình, không y phục, hoặc dùng tay là m y phục, hoặc lấy lá là m y phục, hoặc lấy hạt châu là m y phục; hoặc không múc nước bằng bình, hoặc không múc nước bằng gáo; không ăn đồ ăn xốc xỉa bằng dao gậy, không ăn đồ ăn lừa dối, không tự mình đến, không sai người đi, không là m khách được mời[09], không là m khách được chà o đón[10], không là m khách được lưu[11], không ăn từ giữa hai người đang ăn, không ăn tại nhà có thai[12], không ăn từ nhà có nuôi chó, không ăn từ nhà có lằng xanh bay đến; không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống nước dấm[13], hoặc không uống gì cả, học tập hạnh không uống; hoặc ăn một miếng, cho một miếng là đủ[14], hoặc ăn hai, ba, bốn, cho đến bảy miếng, và cho bảy miếng là đủ, hoặc ăn bởi một lần nhận được[15], và cho đến một lần nhận được là đủ, hoặc ăn bởi hai, ba bốn cho đến bảy lần nhận được và cho bảy lần nhận được là đủ, hoặc ăn ngà y một lần và cho một lần là đủ, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngà y, nửa tháng, hay một tháng, ăn một lần và cho một lần là đủ; hoặc ăn cỏ[16], hoặc ăn lúa cỏ[17], hoặc ăn nếp tuế, hoặc ăn cám, hoặc ăn gạo đầu-đầu-la[18], hoặc ăn đồ ăn thô; hoặc đến chỗ vô sự[19], y nơi vô sự; hoặc ăn rỠ, hoặc ăn trái, hoặc ăn quả tự rụng; hoặc mặc áo khâu đủ thứ vải[20], hoặc mặc áo lông, hoặc mặc áo vải đầu-xá[21], hoặc mặc áo vải đầu-xá bằng lông, hoặc mặc bằng da nguyên, hoặc mặc da có xoi lỗ, hoặc mặc da toà n xoi lỗ; hoặc để tóc xõa, hoặc để tóc bện, hoặc để tóc vừa xõa vừa bện, hoặc chỉ cạo tóc, hoặc chỉ cạo râu, hoặc cạo cả râu tóc, hoặc nhổ tóc, hoặc nhổ râu, hoặc nhổ cả râu tóc, hoặc chỉ đứng thẳng không hề ngồi, hoặc đi chồm hổm, hoặc nằm gai, lấy gai là m giường; hoặc nằm cỏ[22], lấy cỏ là m giường; hoặc thờ nước, ngà y đêm lấy tay vọc; hoặc thờ lửa, ngà y đêm đốt lên; hoặc thờ mặt trời, mặt trăng, thờ đấng Tôn hựu Đại đức, chắp tay hướng về kia. Những sự như vậy thọ khổ vô lượng, học hạnh nóng bức[23].

“Nà y Vô Nhuế, ý ông nghĩ sao, hạnh bất liỠu khả tắng như vậy là hoà n toà n hay không hoà n toà n?”

Dị học Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, như vậy hạnh bất liỠu khả tắng là hoà n toà n, không phải là không hoà n toà n”.

Đức Thế Tôn lại nói:

“Nà y Vô Nhuế, Ta sẽ chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n đó bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm”.

Dị học Vô Nhuế hỏi:

“Thưa Cù-đà m, câu nói, ‘Ta sẽ chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n đó bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm’, nghĩa là thế nà o?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ[24]. Nhân bởi hà nh khổ hạnh một cách tân khổ mà có ác dục, niệm tưởng dục. Nà y Vô Nhuế, nếu ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, rồi nhân hà nh khổ hạnh ấy mà có ác dục, niệm tưởng dục. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nà y mà chỉ ngước nhìn ánh mặt trời, hấp thụ khí trời. Nà y Vô Nhuế, nếu ai hà nh khổ hạnh, rồi do chuyên hà nh khổ hạnh ấy nên chỉ ngước nhìn ánh mặt trời, hấp thụ khí trời. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh mà tự cống cao cho rằng ta đã tu khổ hạnh, nên tâm liền bị trói buộc. Nà y Vô Nhuế, nếu có người chuyên hà nh khổ hạnh rồi do chuyên hà nh khổ hạnh mà tự cống cao cho rằng đã tự tu khổ hạnh, nên tâm liền bị trói buộc. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ. Do nhân hà nh khổ hạnh mà quý mình khinh người. Nà y Vô Nhuế, nếu có ai chuyên hà nh khổ hạnh, rồi do chuyên hà nh khổ hạnh mà quý mình khinh người. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên đến nhà người mà tự khen rằng: ‘Tôi hà nh tân khổ; hà nh của tôi rất khó’. Nà y Vô Nhuế, nếu có ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do duyên hà nh khổ hạnh nên đến nhà người mà tự khen rằng: ‘Tôi hà nh tân khổ; hà nh của tôi rất khó’. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

 â€œNà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lá» sá»± liền sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, cúng dường, lá» sá»± Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lá» sá»± tôi đây. Vì sao vậy? Vì tôi hà nh khổ hạnh.’

Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lỠsự liền sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, lỠsự, cúng dường Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lỠsự tôi đây. Vì sao vậy? Vì tôi hà nh khổ hạnh’. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lỠsự liền đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng: ‘Sao ông lại được kính trọng, lỠsự, cúng dường? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều mong cầu, thường ăn năm thứ hạt, hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận mưa lớn là m tổn hại năm thứ hạt giống, nhiỠu loạn súc sanh và nhân dân, Sa-môn, Phạm chí kia mà hay đến nhà người, cũng giống như vậy’. Nà y Vô Nhuế, hoặc có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lỠsự liền đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng ‘Sao ông lại được kính trọng, lỠsự, cúng dường? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều mong cầu, thường ăn năm thứ hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận mưa lớn là m tổn hại năm thứ hạt giống, nhiỠu loạn súc sanh và nhân dân, Sa-môn, Phạm chí mà hay đến nhà người, cũng giống như vậy’. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nên có sầu, có si, khủng bố, khủng cụ, sống lén lút, nghi ngờ, sợ mất tiếng, tham lam, phóng dật. Nà y Vô Nhuế, nếu có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ nên có sầu, có si, khủng bố, khủng cụ, sống lén lút, nghi ngờ, sợ mất tiếng, tham lam, phóng dật. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc ai chuyên tu khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên tu khổ hạnh nên sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh[25], không biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt lại không thông suốt. Nà y Vô Nhuế, nếu có người tu khổ hạnh, rồi do tu khổ hạnh nên sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh, không biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt lại không thông suốt. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như thế là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tà m, vô quý. Nà y Vô Nhuế, nếu ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tà m, vô quý. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên sanh ra nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói thêu dệt, đủ cả ác giới. Nà y Vô Nhuế, nếu có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên sanh ra nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói thêu dệt, đủ cả ác giới. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên không có tín tâm, giải đãi, không chánh niệm, chánh trí, có đủ ác tuệ. Nà y Vô Nhuế, nếu có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh nên không có tín tâm, giải đãi, không chánh niệm, chánh trí, có đủ ác tuệ. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, Ta đã chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n đó bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm, có phải vậy chăng?”

Dị học Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, đúng vậy, Ngà i đã chỉ cho tôi thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n đó bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm”.

“Nà y Vô Nhuế, Ta cũng chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n đó không bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm”.

Dị học Vô Nhuế lại hỏi:

“Thưa Cù-đà m, Ngà i có thể chỉ cho tôi thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n đó không bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm như thế nà o không?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không có ác dục, không niệm tưởng dục. Nà y Vô Nhuế, nếu có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không có ác dục, không niệm tưởng dục. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không nhìn ánh mặt trời, không hấp thụ khí trời. Nà y Vô Nhuế, nếu có người chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ nên không nhìn ánh mặt trời, không hấp thụ khí trời. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ mà không tự cống cao cho rằng đã tu khổ hạnh nên tâm không bị trói buộc. Nà y Vô Nhuế, nếu có người chuyên hà nh khổ hạnh, rồi do chuyên hà nh khổ hạnh mà không tự cống cao cho rằng đã tu khổ hạnh nên tâm không bị trói buộc. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh một cách tân khổ mà không quý mình khinh người. Nà y Vô Nhuế, nếu có người hà nh khổ hạnh rồi do hà nh khổ hạnh mà không quý mình khinh người. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không đến nhà người mà tự khen rằng ‘Tôi hà nh tân khổ, hà nh của tôi rất khó khăn’. Nà y Vô Nhuế, nếu có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không đến nhà người mà tự khen rằng ‘Tôi hà nh tân khổ; hà nh của tôi rất khó khăn’. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lá» sá»± thì không sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, cúng dường, lá» sá»± Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lá» sá»± ta đây. Vì sao vậy? Vì ta là người tu khổ hạnh’. Nà y Vô Nhuế, nếu có ai hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do hà nh khổ hạnh tân khổ mà nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lá» sá»± thì không sanh lòng tật đố, nói rằng ‘Sao lại kính trọng, cúng dường, lá» sá»±  Sa-môn, Phạm chí ấy? Hãy nên kính trọng, cúng dường, lá» sá»± ta đây. Vì sao vậy? Vì ta là người tu khổ hạnh.’ Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lỠsự thì không đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng: ‘Sao ông lại được kính trọng, cúng dường, lỠsự? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều mong cầu, thường ăn năm thứ hạt, hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận mưa lớn là m tổn hại năm thứ hạt giống, nhiỠu loạn súc sanh và nhân dân, Sa-môn, Phạm chí mà hay đến nhà người cũng giống như vậy!’ Nà y Vô Nhuế, nếu có ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ nên nếu thấy Sa-môn, Phạm chí được người kính trọng, cúng dường, lỠsự mà không đến mắng ngay mặt Sa-môn, Phạm chí đó, nói rằng: ‘Sao ông lại được kính trọng, cúng dường, lỠsự? Ông là người nhiều ham muốn, nhiều mong cầu, thường ăn năm thứ hạt, hạt sanh từ gốc cây, hạt sanh từ thân cây, hạt sanh từ trái cây, hạt sanh từ mắt cây và hạt sanh từ hạt. Ví như một trận mưa lớn là m tổn hại năm thứ hạt giống, nhiỠu loạn súc sanh và nhân dân, Sa-môn, Phạm chí mà hay đến nhà người cũng giống như vậy.’ Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không sầu, không si, không khủng bố, không khủng cụ, không sống lén lút, không nghi ngờ, không mất tiếng, không tham lam, không phóng dật. Nà y Vô Nhuế, nếu ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, rồi do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không sầu, không si, không khủng bố, không khủng cụ, không sống lén lút, không nghi ngờ, sợ mất tiếng, không tham lam, không phóng dật. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh, không biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt thì thông suốt. Nà y Vô Nhuế, nếu ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ mà không sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh, không biết tiết hạn, những pháp mà Sa-môn, Phạm chí phải thông suốt thì thông suốt. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do hà nh khổ hạnh tân khổ mà không có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tà m, vô quý. Nà y Vô Nhuế! Nếu có ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ mà không có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua nịnh, dối trá, vô tà m, vô quý. Nà y Vô Nhuế! Hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ mà không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thô ác, không nói thêu dệt, không có ác giới. Nà y Vô Nhuế, nếu ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ nên không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thô ác, không nói thêu dệt, không có ác giới. Nà y Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có người hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ mà có tín tâm, không giải đãi, có chánh niệm, chánh trí, không có ác tuệ. Nà y Vô Nhuế, nếu có ai chuyên hà nh khổ hạnh một cách tân khổ, do chuyên hà nh khổ hạnh tân khổ mà có tín tâm, không giải đãi, có chánh niệm, chánh trí, không có ác tuệ. Vô Nhuế, hà nh khổ hạnh như vậy là không cấu uế.

“Nà y Vô Nhuế, Ta đã chỉ cho ông thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n không bị vô lượng cấu uế là m ô nhiỠm; có phải vậy không?”

Dị học Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, đúng vậy, Ngà i đã chỉ cho tôi thấy cái hạnh bất liỠu khả tắng hoà n toà n không bị cấu uế là m ô nhiỠm”.

Dị học Vô Nhuế lại hỏi:

“Thưa Cù-đà m, hạnh bất liỠu tắng ố nà y đã đạt đến bậc nhất, đã đạt đến chân thật[26] chưa?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, hạnh bất liỠu tắng ố nà y chưa đạt đến bậc nhất, chưa đạt đến chân thật, nhưng có hai hạnh đạt đến vỏ và đạt đến đốt”.

Dị học Vô Nhuế lại hỏi:

“Thưa Cù-đà m! Thế nà o là hạnh bất liỠu khả tắng nà y chỉ đạt đến vỏ ngoà i?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, ở đây hoặc có Sa-môn, Phạm chí tu tập bốn hạnh[27], không sát sanh, không bảo người sát sanh, không đồng tình với người sát sanh. Không trộm cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng tình với người trộm cắp. Không phạm con gái của người, không bảo người khác phạm con gái của người, không đồng tình với người phạm con gái của người. Không nói dối, không bảo người khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Vị đó tu tập bốn hạnh nà y, ưa thích mà không tiến tới, tâm đi đôi với từ, biến mãn cả một phương, thà nh tựu và an trụ. Như vậy cho đến hai, ba, bốn phương, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới, phổ biến tất cả, tâm đi đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn, bao la, vô lượng, khéo tu tập biến mãn khắp cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng như vậy, đối với bi, hỷ, tâm đi đôi với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn bao la, vô lượng, tu tập biến mãn khắp cả thế gian, thà nh tựu và an trụ.

“Nà y Vô Nhuế, ý ông nghĩ sao, phải chăng hạnh bất liỠu khả tắng như vậy đạt đến vỏ ngoà i?”

Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m! Bất liỠu khả tắng như vậy đạt đến vỏ ngoà i. Thưa Cù-đà m, còn thế nà o là hạnh bất liỠu khả tắng nà y đạt đến đốt?”

Đức Thế Tôn dạy:

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có Sa-môn, Phạm chí tu tập bốn hạnh. Không sát sanh, không bảo người sát sanh, không đồng tình với người sát sanh. Không trộm cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng tình với người trộm cắp. Không phạm con gái của người, không bảo người khác phạm con gái của người, không đồng tình với người phạm con gái của người. Không nói dối, không bảo người khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Vị đó tu tập bốn hạnh nà y, ưa thích mà không tiến tới. Sự tu tập ấy có hà nh, có tướng mạo, vị ấy nhớ lại vô lượng kiếp đã trải qua, hoặc một đời, hai đời, trăm ngà n đời, thà nh kiếp, hoại kiếp, vô lượng thà nh hoại kiếp, tại chỗ đó ta là chúng sanh tên đó, ta đã trải qua ở đó, đã từng sanh ở đó, có họ như vậy, tên như vậy, sinh hoạt như vậy, uống ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy, tuổi thọ như vậy, sống lâu như vậy, dứt thọ mạng như vậy, rồi chết đây sanh kia, chết kia sanh đây. Ta sanh tại chỗ nà y như vậy, có họ như vậy, có tên như vậy, sinh hoạt như vậy, uống ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy, tuổi thọ như vậy, sống lâu như vậy, dứt thọ mạng như vậy.

“Nà y Vô Nhuế, ý ông nghĩ sao, hạnh bất liỠu khả tắng như vậy có đạt đến đốt cây hay không?”

“Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, hạnh bất liỠu khả tắng như vậy là đã đạt đến đốt cây. Thưa Cù-đà m, thế nà o là hạnh bất liỠu khả tắng đạt đến bậc nhất, đạt đến chân thật?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, hoặc có Sa-môn, Phạm chí tu tập bốn hạnh. Không sát sanh, không bảo người sát sanh, không đồng tình với người sát sanh. Không trộm cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng tình với người trộm cắp. Không phạm con gái của người, không bảo người khác phạm con gái của người, không đồng tình với người phạm con gái của người. Không nói dối, không bảo người khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Vị đó tu tập bốn hạnh nà y, ưa thích mà không tiến tới. Vị đó bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy xa hơn người, nhìn thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, sắc đẹp hoặc xấu, diệu hoặc bất diệu, qua lại chỗ là nh hoặc chỗ không là nh, tùy theo nghiệp mà chúng sanh ấy đã tạo. Vị ấy thấy sự kiện ấy đúng như thật, nếu chúng sanh nà o thà nh tựu ác hạnh về thân, ác hạnh về khẩu, ác hạnh về ý, phỉ báng Thánh nhân, tà kiến, thà nh tựu nghiệp tà kiến; do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn đi đến chỗ ác, sanh và o địa ngục. Nếu chúng sanh nà o thà nh tựu diệu hạnh về thân, diệu hạnh về khẩu, diệu hạnh về ý, không phỉ báng Thánh nhân, chánh kiến, thà nh tựu nghiệp chánh kiến; do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sanh ấy chắc chắn đi lên chỗ là nh, sanh và o cõi trời.

“Nà y Vô Nhuế, ý ông nghĩ sao, hạnh bất liỠu khả tắng như vậy có đạt đến bậc nhất, đạt đến chân thật hay không?”

Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, hạnh bất liỠu khả tắng như vậy là đã đạt đến bậc nhất, đạt đến chân thật. Thưa Cù-đà m, phải chăng vì để thủ chứng hạnh bất liỠu khả tắng nà y mà các đệ tử của Sa-môn Cù-đà m nương tựa nơi Sa-môn Cù-đà m để tu hà nh phạm hạnh?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, không phải vì để thủ chứng hạnh bất liỠu khả tắng nà y mà đệ tử của Ta nương tựa nơi Ta để tu hà nh phạm hạnh.

“Nà y Vô Nhuế, lại còn có pháp khác tối thượng, tối diệu, tối thắng, chính vì để chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của Ta nương tựa nơi Ta mà tu hà nh phạm hạnh”.

Lúc đó, những Dị học trong hội chúng ồn à o đó liền lớn tiếng la ó:

“Đúng vậy! Đúng vậy! Vì để chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của Sa-môn Cù-đà m nương tựa nơi Sa-môn Cù-đà m để mà tu hà nh phạm hạnh”.

Bấy giờ, Dị học Vô Nhuế ra lệnh bảo hội chúng của mình im lặng, rồi hỏi:

“Thưa Cù-đà m, Pháp nà o được gọi là còn có pháp khác tối thượng tối diệu, tối thắng; chính vì để chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của Sa-môn Cù-đà m nương tựa nơi Sa-môn Cù-đà m mà tu hà nh phạm hạnh?”

Bấy giờ Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Vô Nhuế, nếu Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu xuất hiện ở thế gian. Vị đó xả bỏ năm triền cái là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng các đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Vị ấy với định tâm như vậy, thanh tịnh không ô uế, không phiền não, nhu nhuyến, khéo an trụ, chứng đắc tâm bất động mà thú hướng sự diệt tận các lậu, tự thân chứng ngộ trí thông, biết như thật rằng ‘Đây là Khổ, đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, biết như thật đây là Khổ diệt đạo’. Cũng biết như thật đây là lậu, biết đây là lậu tận, đây là lậu diệt, biết như thật đây là lậu diệt đạo. Vị đó biết như vậy, thấy như vậy rồi thì tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi liền biết mình đã giải thoát, biết đúng một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’.

“Nà y Vô Nhuế, như vậy gọi là còn có pháp khác tối thượng, tối diệu, tối thắng. Chính vì để chứng đắc pháp ấy nên đệ tử của Ta nương nơi Ta mà tu hà nh phạm hạnh”.

Bấy giờ Cư sĩ Thật Ý nói rằng:

“Nà y Vô Nhuế, Đức Thế Tôn đang ở đấy. Ông hãy chỉ bằng một vấn đề đủ để hủy diệt Ngà i như lăn cái bình không đi! Ông hãy nói cái ví dụ con trâu đui ăn cỏ nơi biên địa như khi nãy đi!”

Đức Thế Tôn nghe xong, hỏi Dị học Vô Nhuế:

“Quả thật ông có nói như vậy không?”

Dị học Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, quả thật tôi có nói như vậy”.

Đức Thế Tôn hỏi tiếp:

“Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá khứ, nếu gặp khu rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Đức Phật Thế Tôn ở nơi rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn cao, vắng lặng không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Ngà i ở nơi xa vắng, thường thích thiền tọa, an ổn và khoái lạc. Các Ngà i chưa hề một ngà y một đêm tụ tập hội họp cùng mọi người như ông và quyến thuộc của ông hôm nay. Nà y Vô Nhuế, ông có bao giờ nghe các vị trưởng lão cựu học nói như vậy không?”

Dị học Vô Nhuế đáp:

“Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá khứ, nếu gặp khu rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng, không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Đức Phật Thế Tôn ở nơi rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng, không có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Ngà i ở nơi xa vắng, thường thích thiền tọa, an ổn khoái lạc. Các Ngà i chưa hề một ngà y một đêm tụ tập, hội họp cùng mọi người như tôi và quyến thuộc của tôi hôm nay. Thưa đức Cù-đà m, tôi có nghe các vị trưởng lão cựu học nói như vậy”.

“Nà y Vô Nhuế, ông há không nghĩ rằng ‘Như các Đức Thế Tôn đó ở nơi rừng vắng, sơn lâm, dưới gốc cây hay trên sườn núi cao, vắng lặng, không có tiếng động, xa vắng, không có sự dữ, không có người đời, liền tùy thuận mà thiền tọa. Các Ngà i ở nơi xa vắng thường thích thiền tọa, an ổn khoái lạc. Vị Sa-môn Cù-đà m nà y cũng học đạo chánh giác như vậy’. Có phải vậy không?”

Dị học Vô Nhuế đáp:

“Thưa Cù-đà m, nếu tôi biết như vậy, tôi đã chẳng nói rằng chỉ bằng một vấn đề cũng đủ hủy diệt Ngà i như lăn cái bình không, và cũng đã chẳng nói đến cái ví dụ con trâu đui ăn cỏ nơi biên địa”.

Đức Thế Tôn nói:

“Nà y Vô Nhuế, ta có pháp thiện tương ưng với thiện, giải thoát tương ưng với giải thoát, có thể tự thân chứng ngộ. Do đây mà Như Lai tự xưng là Bậc Vô Úy. Các Tỳ-kheo đệ tử của Ta, ai đến với tâm không dua nịnh, không lừa dối, chất trực không hư vọng, Ta giáo huấn cho và theo giáo huấn ấy, chắc chắn sẽ đạt đến cứu cánh trí.

“Nà y Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đà m vì muốn là m Thầy cho nên thuyết pháp’. Ông chớ nghĩ như vậy. Thầy ông Ta trả lại cho ông. Ta chỉ thuyết pháp cho nghe thôi. Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đà m vì tham đệ tử cho nên thuyết pháp’. Ông chớ nghĩ như vậy. Đệ tử của ông trả lại cho ông, Ta chỉ thuyết pháp cho ông nghe thôi. Nà y Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đà m vì tham sự cúng dường cho nên thuyết pháp’ Ông chớ nghĩ như vậy. Đồ cúng dường trả lại cho ông, ta chỉ thuyết pháp cho ông nghe thôi. Nà y Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đà m vì tham được khen ngợi cho nên thuyết pháp’. Ông chớ nghĩ như vậy. Điều khen ngợi trả lại cho ông, Ta chỉ thuyết pháp cho ông nghe thôi. Nà y Vô Nhuế, nếu ông nghĩ rằng ‘Nếu ta có thiện pháp tương ưng thiện, giải thoát đưa đến giải thoát, vì Sa-môn Cù-đà m nà y đoạt của ta, hủy diệt ta’. Ông chớ nghĩ như vậy. Pháp của ông trả lại cho ông, Ta chỉ thuyết pháp cho ông nghe thôi”.

Lúc bấy giờ tất cả hội chúng đều im lặng. Vì sao vậy? Vì họ bị Ma vương chế phục.

Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Cư sĩ Thật Ý:

“Ông hãy nhìn tất cả hội chúng đang im lặng nà y. Vì sao vậy? Vì họ đang bị Ma vương chế phục. Nó khiến cả hội chúng Dị học không có một Dị học nà o có ý niệm ‘Ta hãy thử theo Sa-môn Cù-đà m tu hà nh phạm hạnh’.”

Đức Thế Tôn biết vậy, Ngà i thuyết pháp cho Cư sĩ Thật Ý nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho ông ấy nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ rồi, Ngà i liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nắm tay Cư sĩ Thật Ý, vận dụng thần túc, nương hư không mà đi.

Phật thuyết như vậy. Cư sĩ Thật Ý sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli D.25 Udumbarikā-sīhanāda-suttaṃ. Hán, biệt dịch, No.1(8), No.11.
[02] Cư sÄ© Thật Y å± å£« 實 意. No.1(8): Tán-đà -na. No.11: Hòa hiệp. Pāli: Sandhāna gahapati.
[03] Ưu-đà m-bà -la lâm Dị học viên 優 曇 婆 邏 林 異 學 園. No.1(8): Ô-tạm-bà -lị-nữ phạm chí lâm. No.11: Ô-đà m-mạt-lê viên: Pāli: udumbarikāya paribbājakārāmo. một bà hoà ng (devī) dựng Paribbajakārāma (Tinh xá dà nh cho các du sĩ dị học), gần Rājagaha (Vương xá).
[04] Vô Nhuế 無 恚. No.1(8), như No.11: Ni-câu-đà . Pāli: Nigrodha.
[05] Điểu luận 鳥 論. Cũng trong bản Hán nà y những chỗ khác gọi là Súc sanh luận. Xem cht.4, kinh 207. Pāli: tiracchānakatha.
[06] Không tuệ giải thoát 空 æ § è§£ 脫. Pāli nói: suññāgārahātā samaṇassa gotamassa paññā, “trí tuệ cá»§a Sa-môn Cù-đà m bị há»§y hoại vì sống nÆ¡i hoang vắng” (hoặc hiểu cụ thể hÆ¡n: bị há»§y hoại như ngôi nhà trống). Đề tà i về tu tập nÆ¡i rừng vắng để chứng đạt vô thượng thanh tịnh không tánh (parisuḍhā paramānuttarā suññatā) được nói đến trong M.122 và 123 (Xem các kinh số 190 và 191 ở sau). No.11 (...) xá»­ Ứng Chánh đẳng giác không xá, tuệ hà năng chuyển, “ở trong cái nhà trống cá»§a Phật, thì tuệ nà o mà có thể chuyển?”
[07] Hà nh biên chí biên 行 邊 至 邊. Pāli: so antamantān’ eva sevati, đại ý Phật không đủ trí tuệ đi thẳng và o vấn đề, mà chỉ đi loanh quanh “từ đầu nà y đến đầu nọ”.
[08] Bất liỠu tắng ố hà nh 不 了 憎 惡 行, tức lối tu hà nh khổ hạnh lấy sự ghê tởm (tăng ố) là m bản chất. Pāli: tapojiguccha.
[09] Hán: bất lai tôn 不 來 尊. Pāli: na-ehi-bhadantika, “không là Tôn giả được gọi: Mời đến đây!”
[10] Hán: bất thiện tôn 不 善 尊. Có lẽ: na-sādhu-bhadantika, “không là Tôn giả được chà o đón: Là nh thay, tôn giả!”
[11] Hán: bất trụ tôn 不 住 尊. Pāli: na-tiṭṭha-bhadantika, “không là Tôn giả được mời mọc: Hãy ở lại đây, Tôn giả!”
[12] Hán: bất hoà i nhâm gia thực 不 懷 妊 家 食. Pāli: na gabbhiniyā (paṭiganṇhāti), không (nhận thức ăn) từ người đà n bà mang thai.
[13] Hán: ác thủy 惡 水. Pāli: thusodaka, nước lên men.
[14] Pāli: ekāgāriko vā hoti ekālopiko, mỗi nhà chỉ nhận một miếng ăn.
[15] Hán: thực nhất đắc 食 一 得. Pāli: ekissāpi dattiyā yāpeti, chỉ sống bằng một vật được cho.
[16] Hán: thái như 菜 茹. Pāli: sāka-bhakkho.
[17] Hán: bại tá»­  稗 子, loại cỏ giống như lúa. Pāli: sāmāka.
[18] Hán: đầu-đầu-la  é ­ é ­ 邏. Pāli: daddula.
[19] Hán: chí vô sự xứ 至 無 事 處, đến nơi rừng vắng? Không thấy Pāli tương đương. Tham chiếu: vana-mūla-palāhāro yāpeti.
[20] Hán: liên hiệp y 連 合 衣. Pāli: masāṇāni, vải gai lẫn các vải khác.
[21] Hán: đầu- xá y  é ­ 舍 è¡£. Pāli dussa, vải thô chưa nhuộm mà u.
[22] Hán: thảo 草; Tống-Nguyên: quả 菓; Minh: 果. Kinh số 18: ngọa quả 臥 果. Pāli: phalaka, (nằm trên) tấm ván. Bản Hán hiểu phala(ka) là trái cây.
[23] Hán: Học phiền nhiệt hạnh å­¸ ç © 熱 行. Pāli: ātāpanaparitāpanānuyogam anuyutto viharati, sống hà nh theo sá»± khổ hạnh ép xác.
[24] Để bản: thanh khổ æ¸ è‹¦; Tống-Nguyên-Minh: tinh khổ ç²¾ 苦. Pāli: tapassÄ« tapassaṃ samādiyati, người tu khổ hạnh thọ trì pháp khổ hạnh.
[25] Hán: nan vi 難 為; không thấy từ Pāli liên hệ.
[26] Đắc đệ nhất, đắc chân thật 得 第 一 得 真 實. Pāli: aggappattā, sārappattā, đạt đến đỉnh cao, đạt đến lõi.
[27] Hà nh tứ hà nh 行 四 行. Pāli: cātuyāmasaṃvarasaṃtto, được phòng hộ bằng bốn cấm giới luật nghi.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]