Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
142. Kinh Vũ Thế
143. Kinh Thương-Ca-La
144. Kinh Toán Số Mục-Kiền-Liên
145. Kinh Cù-Mặc Mục-Kiền-Liên
146. Kinh Tượng Tích Dụ
147. Kinh Văn Ðức
148. Kinh Hà Khổ
149. Kinh Hà Dục
150. Kinh Uất-Sấu-Ca-La
151. Kinh Phạm Chí A-Nhiếp-Hòa
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

12. PHẨM PHẠM CHÍ
(Phần Ðầu)

145. KINH CÙ-MẶC MỤC-KIỀN-LIÊN[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, sau khi Đức Phật Bát-niết-bà n chưa bao lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại thà nh Vương xá.

Lúc bấy giờ đại thần Vũ Thế[02], nước Ma-kiệt-đà , đang chỉnh trị thà nh Vương xá để phòng ngừa dân Bạt-kỳ[03]. Rồi đại thần Vũ Thế sai Cù mặïc Mục-kiền-liên, một người là m ruộng[04], đi đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà .

Bấy giờ Tôn giả A-nan và o lúc sáng sớm khoác y ôm bát và o thà nh Vương xá để khất thực, rồi Tôn giả A-nan nghĩ rằng: “Hãy gác việc khất thực trong thà nh Vương xá lại đã. Ta hãy đến chỗ Cù-mặïc Mục-kiền-liên, người là m ruộng.”

Phạm chí Cù-măïc Mục-kiền-liên[05] từ xa trông thấy Tôn giả A-nan đi đến, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo đang mặc, chắp tay hướng về Tôn giả A-nan, bạch rằng:

“Kính chà o A-nan, lâu nay không thấy đến. Xin mời ngồi trên chỗ nà y.”

Tôn giả A-nan liền ngồi trên chỗ ngồi đó.

Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên sau khi chà o hỏi Tôn giả A-nan, rồi ngồi xuống một bên mà bạch rằng:

“Bạch A-nan, tôi có điều muốn hỏi, mong nghe cho chăng?”

Tôn giả A-nan trả lời rằng:

“Mục-kiền-liên, ông cứ hỏi đi. Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ .”

Bèn hỏi rằng:

“Bạch A-nan, có Tỳ-kheo nà o sánh ngang với Sa-môn Cù-đà m chăng?”

Trong khi Tôn giả A-nan và Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên đang thảo luận vấn đề nà y thì đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà đang đi ủy lạo những người là m ruộng[06], đến chỗ của Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên, người là m ruộng. Đại thần Vũ Thế từ xa trông thấy Tôn giả A-nan ở trong chỗ Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên, người là m ruộng, bèn đi đến chỗ Tôn giả A-nan. Sau khi chà o hỏi xong, ngồi xuống một bên, hỏi rằng:

“Bạch A-nan, vừa rồi cùng với Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên thảo luận vấn đề gì vậy? Vì việc gì mà cùng hội họp ở đây?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Vũ Thế, Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên hỏi tôi rằng ‘A-nan, có Tỳ-kheo nà o sánh ngang với Sa-môn Cù-đà m chăng?”

Đại thần Vũ Thế, nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:

“A-nan, ngà i trả lời ông ấy như thế nà o?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, hoà n toà n không một Tỳ-kheo nà o sánh ngang với Thế Tôn được.”

Đại thần Vũ Thế, nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:

“Vâng, A-nan, không một Tỳ-kheo nà o sánh ngang với Thế Tôn được. Nhưng có Tỳ-kheo nà o được Sa-môn Cù-đà m trong lúc tại thế lập nên và nói rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Ta Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa của các Tỳ-kheo’, và vị ấy nay là nơi nương tựa của các người?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, hoà n toà n không một Tỳ-kheo nà o được Thế Tôn, Bậc Tri Kiến[07], được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong lúc tại thế lập lên và nói rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Ta Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và ngà y nay đang là chỗ nương tựa cho chúng tôi.”

Đại thần Vũ Thế, nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:

“Vâng, A-nan, không một Tỳ-kheo nà o sánh ngang với Sa-môn Cù-đà m, cũng không một Tỳ-kheo nà o được Sa-môn Cù-đà m trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Ta Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo và ngà y nay đang là chỗ nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và vị ấy nay là nơi nương tựa cho các người. Nhưng có Tỳ-kheo nà o được chúng Tăng hòa hiệp và bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Thế Tôn Niết-bà n là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’, và vị ấy nay đang là nơi nương tựa của các người?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, cũng không có Tỳ-kheo nà o được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Thế Tôn Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ và vị ấy nay đang là chỗ nương tựa cho chúng tôi.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:

“Vâng, A-nan, không một Tỳ-kheo nà o sánh ngang với Sa-môn Cù-đà m, cũng không một Tỳ-kheo nà o được Sa-môn Cù-đà m trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Ta Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho các người. Cũng không Tỳ-kheo nà o được Tăng chúng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Thế Tôn Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho các người. Nà y A-nan, nếu vậy các người hiện tại không có ai để nương tựa, nhưng cùng sống hòa hiệp, không tranh chấp, an ổn, đồng nhất một giáo pháp, cùng hiệp nhất như nước với sữa, khoái lạc du hà nh như trong lúc Sa-môn Cù-đà m tại thế chăng?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, ông đừng nói rằng chúng tôi không có ai để nương tựa. Vì sao vậy? Thật sự chúng tôi có nơi nương tựa.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà đáp rằng:

“Bạch A-nan, những điều được nói trước và sau sao lại không phù hợp nhau? A-nan vừa nói như vầy ‘Không một Tỳ-kheo nà o sánh ngang Thế Tôn, cũng không một Tỳ-kheo nà o được Thế Tôn, Bậc Tri Kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Ta Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Cũng không có Tỳ-kheo nà o được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Thế Tôn Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để vị ấy nay là nơi nương tựa cho chúng tôi’. Nhưng nà y A-nan, do nhân gì, duyên gì, nay lại nói rằng ‘Thật sự chúng tôi có nơi nương tựa’?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, chúng tôi không nương tựa nơi người, nhưng nương tựa nơi pháp. Nà y Vũ Thế, nếu chúng tôi nương tựa nơi thôn ấp mà sống, và o ngà y mười lăm là ngà y thuyết Tùng giải thoát, cùng tập họp ngồi tại một chỗ. Nếu có Tỳ-kheo nà o hiểu biết pháp, chúng tôi thỉnh vị ấy thuyết pháp cho chúng tôi. Nếu chúng Tăng ấy được thanh tịnh, chúng tôi hoan hỷ phụng hà nh pháp mà Tỳ-kheo ấy đã nói. Nếu chúng Tăng ấy không thanh tịnh, tùy theo pháp được nói, chúng tôi khuyên dạy là m cho đúng[08].”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà bạch rằng:

“Bạch A-nan, không phải các ngà i khuyên dạy là m cho đúng, nhưng chính là pháp khuyên dạy là m cho đúng. Như vậy, A-nan, một ít pháp hay có nhiều pháp thảy đều có thể được tồn tại lâu dà i, và như vậy A-nan, các ngà i sống hòa hiệp không tranh chấp, an ổn, đồng nhất một giáo pháp, cùng hiệp nhất như nước với sữa, khoái lạc du hà nh như lúc Sa-môn Cù-đà m tại thế.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:

“Nà y A-nan, có vị nà o đáng tôn kính chăng?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, có vị xứng đáng được tôn kính.”

Vũ Thế bạch rằng:

“Bạch A-nan, những điều được nói sao lại trước sau không phù hợp nhau? A-nan vừa nói như vầy ‘Không một Tỳ-kheo nà o sánh ngang Thế Tôn, cũng không một Tỳ-kheo nà o được Thế Tôn trong lúc tại thế lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Ta Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo” để vị ấy nay đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Cũng không có một Tỳ-kheo nà o được chúng Tăng hòa hiệp bái lập lên rằng ‘Tỳ-kheo nà y sau khi Thế Tôn Niết-bà n sẽ là nơi nương tựa cho các Tỳ-kheo’ để nay vị ấy đang là nơi nương tựa cho chúng tôi. Nhưng nà y A-nan, do nhân gì, duyên gì nay lại nói rằng ‘Có vị xứng đáng được tôn kính’?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Vũ Thế, Thế Tôn, bậc Tri kiến, là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đã có dạy về mười pháp đáng tôn kính[09]. Nếu chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o có mười pháp nà y, chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, lỠsự Tỳ-kheo ấy.”

“Những gì là mười?

“Nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo tu tập cấm giới, thủ hộ Tùng giải thoát, lại khéo thu nhiếp oai nghi lỠtiết, thấy tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới. Nà y Vũ Thế, nếu chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o tích cực hà nh trì tăng thượng giới thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo học rộng nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy sự bác văn, đối với những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh, đối với các pháp như vậy, học rộng nghe nhiều, tụng thuộc cho đến hằng nghìn, chuyên ý tư duy quán sát, thấy rõ, hiểu sâu[10]. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o tích cực đa văn thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo ấy xứng đáng là thiện tri thức, xứng đáng là thiện bằng hữu, xứng đáng là người bạn đồng hà nh tốt. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o thật sự xứng đáng là thiện tri thức, thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo ưa thích đời sống viỠn ly, thà nh tựu cả hai sự viỠn ly là thân và tâm. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o thật sự rất ưa thích đời sống viỠn ly thì chúng tôi ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo ưa thích sự tĩnh tọa, nội hà nh tĩnh chỉ vắng lặng[11], cũng không rời tư sát, thà nh tựu quán hạnh, tăng trưởng không hà nh[12]. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o rất ưa thích sự tĩnh tọa, thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo tri túc, áo cốt che thân, ăn chỉ để sống, đi đâu đều mang theo y bát, đi không luyến tiếc. Cũng như con nhạn mang theo đôi cánh bay liệng trong hư không; cũng vậy, Tỳ-kheo tri túc, áo cốt che thân, ăn chỉ để sống, đi đâu đều mang theo y bát, đi không luyến tiếc. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o rất tri túc thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo thường hà nh chuyên niệm, thà nh tựu chánh niệm, những gì đã tập hà nh từ lâu, những gì đã từng nghe từ lâu, hằng ghi nhớ không quên. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o rất chánh niệm thì chúng tôi thường ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo thường hà nh tinh tấn, đoạn trừ ác bất thiện, tu tập các thiện pháp, hằng tự khởi ý, chuyên nhất kiên cố, đối với các gốc rỠthiện pháp không từ bỏ phương tiện. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o rất tinh cần thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo tu hà nh trí tuệ, quán pháp hưng suy, được như thật trí, thánh tuệ minh đạt, phân biệt thông suốt để chân chánh diệt tận sự khổ. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o tích cực tu hà nh trí tuệ thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, Tỳ-kheo các lậu đã diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Nà y Vũ Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o các lậu đã diệt tận, thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lỠsự Tỳ-kheo ấy.

 â€œLại nữa, nà y VÅ© Thế, Thế Tôn, Bậc Tri Kiến, là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, giảng thuyết mười pháp xứng đáng được tôn kính nà y. Nà y VÅ© Thế, khi chúng tôi thấy Tỳ-kheo nà o hà nh mười pháp nà y thì chúng tôi cùng ái kính, tôn trọng, cúng dường, tôn phụng, lá» sá»± Tỳ-kheo ấy.”

Lúc bấy giờ, đám đông ở đây cất cao tiếng lớn nói[13]:

“Có thể tu tập con đường chánh trực chứ không phải không thể tu. Nếu ai tu tập con đường chánh trực, chứ không phải không thể tu thì vị ấy là A-la-hán ở trong đời, xứng đáng ái kính, tôn trọng, cúng dường, lỠsự. Nếu các ngà i đối với con đường chánh trực nên tu tập mà có thể tu tập, thế thì trong đời các ngà i là A-la-hán, xứng đáng ái kính, tôn trọng, cúng dường, lỠsự[14].”

Rồi đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà cùng với đám tùy tùng nói:

“A-nan, nay đang trú tại đâu?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Tôi đang du hà nh tại Vương xá nà y, ở trong Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà .”

“A-nan, vườn trúc Ca-lan-đà thật là khả ái, đáng ưa, rất chỉnh đốn, dỠthích. Ban ngà y không ồn à o, ban đêm vắng lặng, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, không lạnh, không nóng. A-nan, ngà i thích sống trong Trúc lâm Ca-lan-đà chăng?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Thật vậy, Vũ Thế, vườn trong Trúc lâm Ca-lan-đà rất khả ái, dỠưa, rất chỉnh đốn, dỠthích, ban ngà y không ồn à o, ban đêm thì vắng lặng, không có muỗi mòng, không có ruồi nhặng, không lạnh, không nóng. Nà y Vũ Thế, tôi thích trú trong vườn Trúc lâm Ca-lan-đà ấy. Vì sao? Vì được Tôn giả ủng hộ[15].”

Lúc ấy, đại tướng Bà -nan[16] cũng ở giữõa đám đông ấy. Đại tướng Bà -nan thưa:

“Thật vậy, Vũ Thế, vườn trong Trúc lâm Ca-lan-đà rất khả ái, dỠưa, rất chỉnh đốn, dỠthích, ban ngà y không ồn à o, ban đêm thì vắng lặng, không có muỗi mòng, không có ruồi nhặng, không lạnh, không nóng. Tôn giả ấy thích trú tại Trúc lâm Ca-lan-đà . Vì sao vậy? –Vì Tôn giả nà y hà nh thiền tứ, ưa thích thiền tứ[17].”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà nghe xong bèn nói:

“Nà y đại tướng Bà -nan, trước đây, khi Sa-môn Cù-đà m du hà nh lạc viên Kim-bệ-la[18], nà y đại tướng Bà -nan, lúc bấy giờ tôi nhiều lần đến thăm Sa-môn Cù-đà m. Vì sao vậy? Sa-môn Cù-đà m hà nh thiền tứ, ưa thích thiền tứ, tán thán tất cả thiền tứ.”

Tôn giả A-nan nghe xong, nói rằng:

“Vũ Thế, đừng nói rằng: Sa-môn Cù-đà m tán thán tất cả thiền tứ. Vì sao vậy? Thế Tôn có khi tán thán thiền tứ, nhưng có khi không tán thán.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma Kiệt lại hỏi:

“A-nan, Sa-môn Cù-đà m không tán thán thiền tứ; nhưng không tán thán loại thiền tứ nà o?”

Tôn giả A-nan đáp rằng:

“Vũ Thế, hoặc có người bị trói buộc bởi tham dục mà phát khởi tham dục, không biết như thật sự xuất yếu. Người ấy vì bị chướng ngại bởi tham dục cho nên thiền tứ, tăng gia thiền tứ mà trầm trọng thiền tứ[19]. Đó là loại thiền tứ thứ nhất mà Thế Tôn không tán thán.

“Lại nữa, Vũ Thế, hoặc có người bị triền phược bởi sân nhuế mà móng khởi sân nhuế, không biết như thật sự xuất yếu, người ấy vì bị chướng ngại bởi sân nhuế cho nên thiền tứ, tăng gia thiền tứ mà trầm trọng thiền tứ. Vũ Thế, đó là loại thiền tứ thứ hai Thế Tôn không tán thán.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, bị triền phược bởi thùy miên mà móng khởi thùy miên, không biết như thật sự xuất yếu. Người ấy vì bị chướng ngại bởi thùy miên cho nên thiền tứ, tăng gia thiền tứ, mà trầm trọng thiền tứ. Vũ Thế, đó là loại thiền tứ thứ ba mà Thế Tôn không tán thán.

“Lại nữa, nà y Vũ Thế, bị triền phược bởi nghi hoặc mà móng khởi nghi hoặc, không biết như thật sự xuất yếu. Người ấy vì bị chướng ngại bởi nghi hoặc cho nên thiền tứ, tăng gia thiền tứ, mà trầm trọng thiền tứ. Vũ Thế, đó là loại thiền tứ thứ tư Thế Tôn không tán thán.

“Nà y Vũ Thế, Thế Tôn không tán thán bốn loại thiền tứ nà y.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà bạch rằng:

“Bạch A-nan, bốn loại tư sát nà y thật đáng ghét, là những trường hợp đáng ghét, Sa-môn Cù-đà m không tán thán. Vì sao vậy? Vì là Bậc Chánh Đẳng Giác vậy.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà lại hỏi:

“A-nan, những loại thiền tứ nà o được Sa-môn Cù-đà m tán thán?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Vũ Thế, tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thà nh tựu an trụ. Nà y Vũ Thế, Thế Tôn tán thán bốn loại thiền tứ nà y.”

Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà bạch rằng:

“Bạch A-nan, bốn loại thiền tứ nà y thật đáng tán thán, là những trường hợp đáng tán thán, được Sa-môn Cù-đà m tán thán. Vì sao vậy? Vì là Bậc Chánh Đẳng Giác vậy. A-nan, tôi nhiều việc ứ đọng, xin phép cáo từ.”

Tôn giả A-nan nói:

“Xin cứ tùy ý.”

Rồi đại thần Vũ Thế, nước Ma-kiệt-đà sau khi nghe Tôn giả A-nan nói, cẩn thận ghi nhớ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh Tôn giả ba vòng rồi trở lui.

Lúc bấy giờ Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên sau khi đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà đi không bao lâu, bạch rằng:

“Bạch A-nan, phải chăng những điều tôi hỏi đã không được trả lời?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Mục-kiền-liên, quả thật tôi đã không trả lời.”

Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên bạch rằng:

“A-nan, tôi lại có điều muốn hỏi, mong nghe cho chăng?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Mục-kiền-liên, ông cứ hỏi. Tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.”

Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên bèn hỏi rằng:

“A-nan, giải thoát và tuệ giải thoát của Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và giải thoát của A-la-hán, ba giải thoát nà y có sự sai biệt nà o và có sự thắng liệt nà o chăng?”

Tôn giả A-nan đáp:

“Nà y Mục-kiền-liên, giải thoát và tuệ giải thoát của Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và giải thoát của A-la-hán, ba giải thoát nà y không có sai biệt, cũng không có sự thắng liệt.”

Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên bạch rằng:

“Bạch A-nan, mong ngà i ở lại đây dùng cơm.”

Tôn giả A-nan im lặng nhận lời.

Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên biết Tôn giả A-nan im lặng nhận lời bèn rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy, tự tay lấy nước, rửa dọn các thức ăn rất tịnh diệu với các loại nhai và nuốt rất thịnh soạn, tự tay châm chước cho đến no đủ. Ăn xong, dọn dẹp chén bát, dùng nước rửa xong, lấy một cái giường nhỏ ngồi riêng một bên nghe pháp. Tôn giả A-nan thuyết pháp cho ông nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ xong, Tôn giả A-nan đứng dậy ra về[20].

Tôn giả A-nan thuyết như vậy. Đại thần Vũ Thế nước Ma-kiệt-đà và Phạm chí Cù-mặc Mục-kiền-liên sau khi nghe Tôn giả A-nan thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Bản Hán, quyển 36. Tương đương Pāli M. 108 Gopaka-Moggallāna-suttam.
[02] Ma-kiệt-đà đại thần Vũ Thế. Pāli: Vassakāro brāmaṇo Magadhamahāmatto. Xem cht.5, kinh 142.
[03] Xem kinh 142. Theo bản Pāli, chuẩn bị đánh nhau với Pajjo, chứ không phải với Vajji (Bạt-kỳ).
[04] Cù-mặc Mục-kiền-liên điền tác nhân 瞿 默 目 犍 連 田 作 人. Pāli: gopakamogallānassa brāhmaiassa kammanto, chỗ là m việc của Bà -la-môn Gopaka-Moggallāna. Trong bản Hán, kammanta, chỗ đang là m việc, được hiểu là kassaka: nông phu?
[05] Đoạn trên nói ông là người là m ruộng. Xem cht. trên.
[06] Hán: á»§y lạo điền tác nhân æ ° 勞 田 作 人. Pāli: kammante anusaññāyamāno, đang đi thị sát chỗ đang là m việc (công trường).
[07] Hán: vị Thế Tôn sở tri kiến 為 世 尊 所 知 見; có lẽ dư chữ sở, vì những nơi khác trong bản Hán đều cho thấy như vậy. Pāli: tena bhagavatā janatā passatā arahatā…, bởi Thế Tôn, Bậc Tri Giả, Bậc Kiến Giả, là A-la-hán…
[08] Pāli: tasmiṃ ce bhaññamāne hoti bhikkussa āpatti hoti vītakamo, taṃ mayaṃ yathādhammaṃ yathāsathaaṃ karmati, “nếu trong những điều được thuyết ấy, có Tỳ-kheo nà o vi phạm, chúng tôi khiến vị ấy là m đúng theo Pháp, đúng theo Luật”.
[09] Thập pháp nhi khả tôn kính 十 法 而 可 尊 敬. Pāli: dasa pasādaniyā dhammā, mười pháp khả hỷ, khiến cho tin tưởng.
[10] Hán: ý sở duy quán, minh kiến thâm đạt 意 所 惟 觀 明 見 深 達. Pāli: manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, chiêm nghiệm một cách chuyên ý, thâm nhập bằng sự thấy rõ.
[11] Nội hà nh chánh chỉ å § 行 æ­£ æ­¢.
[12] Tăng trưởng không hà nh 增 長 空 行.
[13] Vì các chi tiết không được mạch lạc, không rõ đám đông nà y là những ai.
[14] Đoạn nà y bản Hán hơi tối nghĩa. Trong bản Pāli, đây là lời của Vassakāra nói với tướng quân Upananda; đại ý: đối với những vị chân chánh tu hà nh, mà nếu các Tỳ-kheo không tôn trọng, thì còn tôn trọng ai?
[15] Trong bản Hán: dÄ© thế tôn á»§ng hộ cố 以 世 尊 擁 è­· æ• ; có lẽ dư chữ thế. Tham chiếu Pāli: yathā taṃ tumhādisehi rakkhakehi gopakehi, nhờ những người á»§ng hộ, bảo vệ như ngà i.
[16] Bà -nan 婆 難, Pāli: Upananda senāpati.
[17] Hà nh tứ lạc tứ 行 伺 樂 伺; hà nh tứ ở đây được hiểu là hà nh thiền. Pāli: jhāyino ca jhānasīlino ca, là những người hà nh thiền, có xu hướng (tập quán) hà nh thiền.
[18] Kim-bệ-la lạc (hay nhạc?) viên 金 鞞 ç¾ æ¨‚ 園; không rõ địa danh nà y, Có thể Pāli là Kimbilā, một thị trấn bên bờ sông Hằng, trong một khu rừng tre. Nhưng trong bản tương đương: Vesāliyaṃ Mahāvane Kūṭāgārasālāyaṃ, ở giảng đường Trùng các (ngôi nhà lầu) trong rừng Đại lâm thà nh Vesāli.
[19] Tứ, tăng tứ, nhi trọng tứ 伺 增 伺 而 重 伺, có thể hiểu là “dò xét, tăng gia dò xét, trầm trọng dò xét”. Xem các thí dụ trong kinh số 131 trên. Pāli: jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati: thiền tứ (trầm ngâm suy nghĩ), mãi miết thiền tứ (= bị dà y vò), chìm đắm thiền tứ (= bị thiêu đốt), chuyên chú thiền tứ. Trong Pāli, động từ jhāyati (Skt. dhyāyati, danh từ phái sinh: jhāna, Skt. dhyāna, âm: thiền), có nghĩa là tư duy hay trầm tư; nhưng cũng có nghĩa là thiêu đốt hay hỏa táng (Hán âm: xà -duy hay trà -tì, hỏa táng; Skt. kṣāyati).
[20] Đoạn trong ngoặc, bản chữ Hán có thể sót; ở đây, theo những nơi khác, thêm và o cho đủ nghĩa.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]