Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
21. Kinh Đẳng Tâm
22. Kinh Thà nh Tựu Giới
23. Kinh Trí
24. Kinh Sư Tử Hống
25. Kinh Thủy Dụ
26. Kinh Cù-Ni-Sư
27. Kinh Phạm Chí Ðà -Nhiên
28. Kinh Giáo Hóa Bịnh
29. Kinh Đại Câu-Hi-La
30. Kinh Tương Tích Dụ
31. Kinh Phân Biệt Thánh Ðế
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

1. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG

25. KINH THỦY DỤ[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Nà y chư Hiền, hôm nay tôi sẽ nói năm pháp trừ não[02] cho các vị, hãy lắng nghe, hãy khéo suy nghĩ”.

Các vị Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.

Tôn giả Xá-lê Tử nói rằng:

“Những gì là năm? Nà y chư Hiền, hoặc có một người thân hà nh không thanh tịnh, nhưng khẩu hà nh thanh tịnh[03]. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ[04].

“Lại nữa, nà y chư Hiền, hoặc một người hoặc khẩu hà nh không thanh tịnh nhưng thân hà nh thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh không thanh tịnh, khẩu hà nh không thanh tịnh, nhưng tâm có chút thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh không thanh tịnh, khẩu và ý hà nh không thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh thanh tịnh, khẩu và ý hà nh thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ.

“Nà y chư Hiền, hoặc có một người thân hà nh không thanh tịnh, nhưng khẩu hà nh thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ như thế nà o?[05] Nà y chư Hiền, cũng như Tỳ-kheo A-luyện-nhã[06] thọ trì y áo phấn tảo[07], thấy vải xấu vất trong đống rác, dơ dáy hoặc vì bị đại tiện; hoặc tiểu tiện, nước mũi, nước miếng và các đồ bất tịnh khác thấm dơ. Thấy rồi, tay trái cầm lên; tay phải căng rộng ra; nếu chẳng phải bị đại tiện, tiểu tiện, nước mũi, nước miếng và các đồ bất tịnh khác thấm dơ, lại không có rách lủng, liền xếp cất lấy. Cũng vậy, nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh không thanh tịnh, nhưng khẩu hà nh thanh tịnh, chớ nghĩ thân hà nh không thanh tịnh của người kia, chỉ nghĩ đến khẩu hà nh thanh tịnh của người kia. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ như vậy.

“Nà y chư Hiền, hoặc một người hoặc khẩu hà nh không thanh tịnh nhưng thân hà nh thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận; nên trừ bỏ như thế nà o? Nà y chư Hiền, cũng như cách thôn xóm không xa, có hồ nước rất sâu, rêu cỏ che lấp; nếu có người đi đến, rất nóng bức, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi, bị gió nóng bức bách. Người ấy đến hồ rồi, cởi áo để trên bờ, liền nhảy xuống hồ, hai tay khoát rêu ra, khoan khoái mặc tình tắm rửa, trừ bỏ nóng bức, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi. Cũng vậy, nà y chư Hiền, hoặc một người khẩu không tịnh hạnh, nhưng thân tịnh hạnh. Đừng nghĩ về khẩu hà nh không thanh tịnh nhưng thân hà nh thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận; nên đoạn trừ như vậy.

“Nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh không thanh tịnh, khẩu hà nh không thanh tịnh, nhưng tâm có chút thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ như thế nà o? Nà y chư Hiền, như trên con đường ngã tư có nước trong dấu chân trâu. Nếu có người đi đến, vì quá nóng bức, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi, gió nóng bức bách. Người ấy nghĩ thế nà y: ‘Mặc dù nước trong lổ chân trâu ở ngã tư đường nà y ít, nếu ta dùng tay hoặc lá cây múc lấy, thì sẽ quậy thà nh đục ngầu, không thể trừ bỏ sự nóng bức vô cùng, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi, cho ta. Ta hãy nên quỳ xuống, tay và đầu gối áp sát mặt đất, dùng miệng uống nước’. Người ấy liền quỳ dà i xuống, tay và đầu gối áp sát mặt đất, dùng miệng uống nước. Người ấy liền trừ được sự nóng bức vô cùng, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi. Cũng vậy, nà y chư Hiền, hoặc có người thân hà nh không thanh tịnh, khẩu hà nh không thanh tịnh, nhưng tâm có chút thanh tịnh, chớ nên nghĩ đến thân hà nh không thanh tịnh, khẩu hà nh không thanh tịnh, chỉ nên nghĩ đến tâm có chút thanh tịnh của người ấy. Nà y chư Hiền, nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận; nên đoạn trừ như vậy.

“Nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh không thanh tịnh, khẩu và ý hà nh không thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ như thế nà o? Nà y chư Hiền, cũng như có người đi xa trên con đường dà i; nửa đường mắc bệnh rất là khốn đốn, héo hắt, cô độc, không bạn bè; thôn xóm phía sau cà ng lúc cà ng xa mà thôn xóm phía trước lại chưa đến. Nếu có người đi đến, đứng bên cạnh, thấy người bộ hà nh nà y đi xa trên con đường dà i, nửa đường mắc bệnh rất là khốn đốn, héo hắt, cô độc, không bạn bè, thôn xóm phía sau cà ng lúc cà ng xa mà thôn xóm phía trước thì chưa đến. Người kia nếu được người chăm sóc, từ giữa cánh đồng xa xôi dắt đến thôn ấp, cho uống thang thuốc hay, bồi dưỡng bằng đồ ngon mỹ diệu, được chăm sóc kỹ lưỡng; như vậy người ấy chắc chắn được là nh bớt. Đó là người kia có lòng thương xót, có từ niệm đối với người bệnh nà y. Cũng vậy, nà y chư Hiền, hoặc một người thân hà nh không thanh tịnh, khẩu và ý hà nh không thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, nên nghĩ thế nà y: ‘Vị nà y thân hà nh không thanh tịnh, khẩu và ý hà nh không thanh tịnh, đừng để cho vị nà y do bởi thân hà nh không thanh tịnh, khẩu và ý hà nh không thanh tịnh, mà khi thân hoại mạng chung thẳêng đến ác xứ, sanh và o địa ngục. Nếu vị nà y gặp thiện tri thức, sẽ bỏ thân hà nh không thanh tịnh để tu thân hà nh thanh tịnh; trừ bỏ khẩu và ý hà nh không thanh tịnh để tu khẩu và ý hà nh thanh tịnh. Do vậy, vị nà y sẽ do thân hà nh thanh tịnh, khẩu và ý hà nh thanh tịnh, nên khi thân hoại mạng chung chắc chắn sanh đến thiện xứ, cho đến sanh thiên giới’. Đó là vị kia có lòng thương xót, có từ niệm đối với vị nà y. Nếu người có trí mà sanh lòng hờn giận, nên đoạn trừ như vậy.

Nà y chư Hiền, hoặc có một người thân hà nh thanh tịnh, khẩu và ý hà nh thanh tịnh. Nếu người có trí thấy, giả sử sanh hờn giận, phải nên trừ bỏ như thế nà o? Nà y chư Hiền, cũng như ngoà i thôn xóm không xa, có hồ nước tốt, đã trong lại ngọt, đáy sâu bằng phẳng, đầy đặn, cỏ biếc ngập bờ, bốn phía có cây cỏ. Nếu có người đến, rất nóng bức, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi, gió nóng bức bách. Người kia đến bờ rồi, cởi áo để trên bờ, nhảy xuống hồ, khoan khoái mặc tình tắm rửa, trừ bỏ sự nóng bức, phiền muộn, đói khát, mệt mỏi. Cũng vậy, nà y chư Hiền, hoặc có một người thân hà nh thanh tịnh, khẩu và ý hà nh thanh tịnh, hãy thường nên nghĩ đến thân hà nh thanh tịnh, khẩu và ý hà nh thanh tịnh của người đó. Nếu người có trí thấy mà sanh hờn giận, nên trừ bỏ như vậy.

“Nà y chư Hiền năm pháp trừ não mà tôi vừa nói, chính do vậy mà được nói”.

Tôn giả Xá-lê Tử thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Tôn giả thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Thí dụ về nước. Tương đương Pāli: A. V.162. Āghātavinaya (kềm chế sự hờn giận).
[02] Ngũ trừ não pháp 五 除 惱 法. Pāli: pañca āghātapaṭivinayā, năm yếu tố kềm chế sự hờn giận.
[03] Hán: thân hà nh bất tịnh khẩu hà nh tịnhï€ èº« 行 不 æ·¨ 口 行 æ·¨. Pāli: aprisuḍhakāyasamācāro hoti parisuddhavacÄ«samācāro, có hà nh vi cá»§a thân không trong sạch nhưng hà nh vi cá»§a miệng trong sạch.
[04] Pāli: evārupe... puggale āghāto paṭivinetabbo, sự hờn giận cần được kềm chế đối với người như vậy.
[05] Nghĩa là , là m cách nà o để không khởi tâm hơn giận đối với con người như vậy.
[06] A-luyện-nhã Tỳ-kheo 阿 練 若 毗 丘. Pāli: araññaka-bhikkhu, Tỳ-kheo sống trong rừng vắng; không sống trong các tinh xá.
[07] Hán: trì phấn tảo y 持 糞 掃 衣. Pāli: paṃsakulika, người tu theo hạnh chỉ mặc y phục từ vải đã bị liệng bỏ như là rác.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]