Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
21. Kinh Đẳng Tâm
22. Kinh Thà nh Tựu Giới
23. Kinh Trí
24. Kinh Sư Tử Hống
25. Kinh Thủy Dụ
26. Kinh Cù-Ni-Sư
27. Kinh Phạm Chí Ðà -Nhiên
28. Kinh Giáo Hóa Bịnh
29. Kinh Đại Câu-Hi-La
30. Kinh Tương Tích Dụ
31. Kinh Phân Biệt Thánh Ðế
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

1. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG

31. KINH PHÂN BIỆT THÁNH ĐẾ[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc[02].

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Đây là sự công bố chánh pháp tối thượng[03], tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toà n diện, được quán chiếu toà n diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bà y, được thi thiết, được hiển thị, được thú hướng[04].

“Trong quá khứ, các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng có sự công bố chánh pháp tối thượng nà y, tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toà n diện, được quán chiếu toà n diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bà y, được thi thiết, được hiển thị, được thú hướng.

“Trong đời vị lai, các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng có sự công bố chánh pháp tối thượng nà y, tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toà n diện, được quán chiếu toà n diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bà y, được thi thiết, được hiển thị, được thú hướng.

“Trong đời hiện tại, Ta là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, cũng có sự công bố chánh pháp tối thượng nà y, tức là bốn Thánh đế, được thâu nhiếp toà n diện, được quán chiếu toà n diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bà y, được thi thiết, được hiển thị, được thú hướng.

“Tỳ-kheo Xá-lê Tử[05] là bậc thông tuệ[06], tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tà i tuệ. Tỳ-kheo Xá-lê Tử thà nh tựu thật tuệ. Vì sao vậy? Vì ta nói sơ lược về bốn Thánh đế thế nà y, thì Tỳ-kheo Xá-lê Tử có thể vì người khác mà giáo hóa toà n diện, quán chiếu toà n diện, phân biệt, phơi mở, mở bà y, thi thiết hiển thị, thú hướng.

“Khi Tỳ-kheo Xá-lê Tử giáo hóa toà n diện, quán sát toà n diện, phân biệt, phơi mở, mở bà y, thi thiết, hiển thị, thú hướng, là m cho vô lượng người đạt đến chánh quán. Tỳ-kheo Xá-lê Tử có khả năng hướng dẫn bằng chánh kiến vậy.

“Tỳ-kheo Mục-kiền-liên có khả năng là m cho đứng vững nơi chân tế tối thượng[07], nghĩa là cứu cánh lậu tận. Tỳ-kheo Xá-lê Tử sanh ra các bậc phạm hạnh, cũng như sanh mẫu; Tỳ-kheo Mục-kiền-liên trưởng dưỡng các bậc phạm hạnh cũng như dưỡng mẫu. Do đó các bậc phạm hạnh nên phụng sự, cung kính cúng dường, lỠbái Tỳ-kheo Xá-lê Tử và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo Xá-lê Tử và Đại Mục-kiền-liên mong cầu phước lợi và thiện ích, cũng cầu sự an ổn và khoái lạc cho các vị phạm hạnh”.

Sau khi Đức Thế Tôn nói như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi và o tịnh thất tĩnh tọa. Lúc đó, Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo:

“Nà y chư Hiền, Đức Thế Tôn vì chúng ta mà xuất hiện thế gian, vì mọi người mà giáo hóa, khai thị toà n diện, phân biệt, phơi mở, mở bà y, thi thiết, hiển thị, thú hướng bốn Thánh đế nà y.

“Những gì là bốn? Đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế[08].

“Nà y chư Hiền, thế nà o là Khổ Thánh đế? Đó là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oắn tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, tóm lại ngũ thủ uẩn là khổ[09].

“Nà y chư Hiền, nói sanh là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, sanh là chúng sanh kia, với chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, sanh thì sanh[10], xuất hiện thì xuất hiện, thà nh hình thì thà nh hình, hiện khởi[11] năm uẩn rồi liền có mạng căn. Như vậy gọi là sanh.

“Nà y chư Hiền, sanh là khổ, đó là chúng sanh khi sanh thâân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác toà n diện[12]. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm sự nóng hực[13], sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói sanh là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói già là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, già nghĩa là chúng sanh kia, với chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, kẻ kia trở nên già yếu, đầu bạc răng rụng, sự cường tráng ngà y cà ng suy yếu, thân còng, chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, phải chống gậy mà đi, thịt rút, da nhăn, xù xì như cây gai, các căn hư hoại, nhan sắc xấu xí. Như vậy gọi là già .

“Nà y chư Hiền, già là khổ, là chúng sanh khi già thì thâân cảm nghiệm khổ,  cảm nghiệm toà n diện; cảm giác, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm sá»± nóng há»±c, sá»± bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sá»± nóng há»±c, sá»± bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm sá»± nóng há»±c, sá»± bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sá»± nóng há»±c, sá»± bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm sá»± nóng há»±c, sá»± bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sá»± nóng há»±c, sá»± bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói già là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói bệnh là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, bệnh là đầu đau, mắt đau, tai đau, mũi đau, mặt đau, môi đau, răng đau, lưỡi đau, nướu đau, cổ đau, phong suyỠn, ho hen, ói mữa, cứng họng, bệnh điên, bệnh động kinh, ung thư, mọc bướu, kinh nguyệt trà n, viêm đỏ, nóng hực, khô héo, bệnh trĩ, mụn nhọt, kiết lỵ, và tất cả những bệnh tương tự như vậy, từ xúc mà sanh ra, không rời khỏi tâm, ở ngay trong thân. Như vậy gọi là bệnh. Nà y chư Hiền, bệnh khổ là : Chúng sanh khi bệnh thì thâân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy nói bệnh là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói chết là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, chết là chúng sanh kia, với chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, mạng chung, vô thường, chết chôn, tan rã, tuổi thọ chấm dứt, hủy hoại, mạng căn bế tắc, như vậy gọi là chết. Nà y chư Hiền, chết là khổ. Đó là chúng sanh khi chết, thâân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm nóng, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác nóng, cảm giác toà n diện. Thân cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác sự nóng hực, sự bức rức, ưu sầu buồn bã, cảm giác toà n diện. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói chết là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói oán tắng hội là khổ[14]; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, oán tắng hội, nghĩa là , chúng sanh thật có sáu nội xứ[15]: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ vốn không khả ái mà chúng cùng tụ hội ở một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp. Sự hòa hợp ấy là khổ. Cũng vậy các ngoại xứ: xúc, thọ, tưởng, hà nh, ái[16], cũng lại như vậy. Nà y chư Hiền, chúng sanh thật có sáu giới: đất, nước, lửa, gió, hư không và thức giới vốn không khả ái mà chúng cùng tụ hội ở một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp. Sự hòa hợp ấy là khổ. Như vậy gọi là oán tắng hội khổ. Nà y chư Hiền, oán tắng hội là khổ, đó là chúng sanh khi có sự tụ hội của những thứ oán ghét, thân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói oán tắng hội là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói ái biệt ly khổ[17]; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, ái biệt ly khổ, đó là chúng sanh thật có sáu xứ bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ vốn khả ái, nhưng chúng phân tán thà nh khác biệt, không tương ứng, biệt ly không tụ hội, không gắn bó, không tập hợp, không hòa hợp, đó là khổ. Cũng vậy, các ngoại xứ: xúc, thọ, tưởng, hà nh, ái, cũng lại như vậy. Nà y chư Hiền, chúng sanh quả thực có sáu giới: đất, nước, lửa, gió, hư không và thức giới vốn nhưng chúng phân tán thà nh khác biệt, không tương ứng, không gắn bó, không hòa hợp, không tập hợp, đó là khổ. Như vậy gọi là ái biệt ly. Nà y chư Hiền, ái biệt ly là khổ nghĩa là chúng sanh khi xa cách nhau, thân cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toà n diện; cảm giác khổ, cảm giác toà n diện. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói ái biệt ly khổ là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói sở cầu bất đắc là khổ[18]; nói thế là vì lẽ gì? Nà y chư Hiền, nghĩa là chúng sanh lệ thuộc và o sanh pháp[19], không thể lìa xa sanh pháp, ước muốn rằng: ‘Mong tôi không sanh ra’, điều ấy quả thật không thể muốn mà được. Với sự già , sự chết, sự ưu sầu, buồn lo mà ước muốn rằng: ‘Mong tôi không có buồn lo’. Điều ấy không thể muốn mà được. Nà y chư Hiền chúng sanh quả thật sanh là khổ, không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ thế nà y: ‘Nếu ta sanh khổ, không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, mong sao được đổi thà nh đáng yêu, đáng nghĩ nhớ’. Điều đó không thể muốn mà được. Nà y chư Hiền, chúng sanh nà o quả thật sanh lạc đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ như vầy: ‘Nếu ta sanh ra lạc, đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, mong sao nó là pháp thường hằng, vĩnh cữu và không biến dịch’. Điều ấy không thể muốn mà được.

“Nà y chư Hiền, chúng sanh nà o quả thật sanh ra tư tưởng mà không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, người ấy suy nghĩ thế nà y: ‘Nếu ta sanh tư tưởng mà không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, mong sao nó đổi thà nh mà đáng yêu, đáng nghĩ nhớ’. Điều ấy không thể muốn mà được. Nà y chư Hiền, chúng sanh nà o quả thật sanh ra tư tưởng, đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ như vầy: ‘Nếu tư tưởng ta sanh ra đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, mong sao nó là pháp thường hằng, vĩnh cửu và không biến dịch’. Điều ấy không thể muốn mà được. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói sở cầu bất đắc là khổ.

“Nà y chư Hiền, nói lược năm thủ uẩn là khổ; nói thế là vì lẽ gì? Đó là sắc thủ uẩn; thọ, tưởng, hà nh, thức thủ uẩn. Nà y chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói năm thủ uẩn là khổ.

“Nà y chư Hiền, thời quá khứ là Khổ Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ Thánh đế. Đó là điều chắc thật không hư đối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như vậy, là sở hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi Thánh, được thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Do dó nói là Khổ Thánh đế.

“Cái gì là ø ái tập Khổ tập Thánh đế? Nghĩa là chúng sanh thật có sáu xứ tham ái bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý xứ. Trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có ô nhiỠm, có đắm trước thì gọi là tập.

“Nà y chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng: ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế.

“Biết như vậy là biết như thế nà o? Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tà i vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác những nghiệp có ái, có cấu bẩn, có nhiỠm, có trước, đó gọi là tập. Người kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế nà y. Cũng vậy, ngoại xứ xúc, thọ, tưởng, hà nh, ái, cũng lại như vậy.

“Nà y chư Hiền, chúng sanh quả thực có sáu giới tham ái: đất, nước, lửa, gió, hư không, thức giới, trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có nhiỠm, có trước, đó gọi là tập.

“Nà y chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế.

“Biết như vậy là biết như thế nà o? Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tà i vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác những nghiệp có ái, có cấu bẩn, có nhiỠm, có trước, đó gọi là tập. Người kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế nà y. Thời quá khứ là khổ Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ Thánh đế. Đó là điều chắc thật không hư đối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như vậy, là sở hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi Thánh, được thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Do dó nói là Khổ Thánh đế.

Nà y chư Hiền, thế nà o là ái diệt Khổ diệt Thánh đế? Nghĩa là chúng sanh thực có sáu xứ tham ái bên trong: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ. Chúng sanh ấy giải thoát, không nhiỠm, không đắm trước, đoạn bỏ hoà n toà n, vô dục, diệt tận, tĩnh tịch; đó gọi là Khổ diệt.

“Nà y chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái diệt Khổ diệt Thánh đế.

“Biết như vậy là biết như thế nà o? Nếu có người nà o không tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tà i vật xuất vốn và lời lãi, đó không phải là tạo tác nghiệp, người ấy nếu giải thoát, không nhiỠm, không đắm trước, đoạn bỏ hoà n toà n, vô dục, diệt tận, tĩnh tịch; đó gọi là ái diệt, Khổ diệt Thánh đế. Cũng thế, ngoại xứ xúc, thọ, tưởng, tư, ái, cũng lại như vậy.

“Nà y chư Hiền, chúng sanh quả thật có sáu giới tham ái: Đất, nước, lửa, gió, hư không, thức giới; người ấy nếu giải thoát, không nhiỠm, không đắm trước, đoạn bỏ hoà n toà n, vô dục, diệt tận, tĩnh tịch; đó gọi là ái diệt, Khổ diệt Thánh đế. Nà y chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái diệt Khổ diệt Thánh đế.

“Biết như vậy là biết như thế nà o? Nếu có người nà o không tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tà i vật xuất vốn và lời lãi, đó không phải là tạo tác nghiệp, người ấy nếu giải thoát, không nhiỠm, không đắm trước, đoạn bỏ hoà n toà n, vô dục, diệt tận, tĩnh tịch; đó gọi là ái diệt, Khổ diệt Thánh đế. Thời quá khứ là khổ Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ Thánh đế. Đó là điều chắc thật không hư đối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như vậy, là sở hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi Thánh, được thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Do dó nói là ái diệt Khổ diệt Thánh đế.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là Khổ diệt đạo Thánh đế? Đó là chánh kiến, chánh tư duy[20], chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn[21], chánh niệm và chánh định.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh kiến? Đó là khi vị Thánh đệ tử khi suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh. Hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát[22] tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó là sự giản trạch, giản trạch toà n diện, giản trạch quyết định, giản trạch pháp, nhận định, toà n diện nhận định, quán sát minh đạt. Đó là chánh kiến[23].

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh tư duy? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó là sự tư sát, tư sát toà n diện, tùy thuận tư sát, điều nà o nên niệm thì niệm, điều nà o nên hy vọng thì hy vọng[24]. Đó là chánh tư duy.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh ngữ? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó ngoà i bốn diệu hà nh thuộc miệng, còn các ác hà nh khác nơi miệng đều viỠn ly, đoạn trừ, không hà nh, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. Đó là chánh ngữ.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh nghiệp? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó ngoà i ba diệu hà nh thuộc thân, còn các ác hà nh khác nơi thân đều viỠn ly, đoạn trừ, không hà nh, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. Đó là chánh nghiệp.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh mạng? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó phải là mong cầu vô lý, không do nhiều tham dục mà không biết vừa đủ, không là m các thứ xảo quyệt bùa chú, để sinh sống bằng tà mạng. Chỉ theo chánh pháp mà mong cầu y phục, chớ không phải với phi pháp, cũng theo chánh pháp để mong cầu thực phẩm, giường chõng, chớ không phải với phi pháp. Đó là chánh mạng.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh tinh tấn? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó, nếu có phương tiện tinh tấn thì quả quyết, tinh cần để mong cầu, có khả năng để thú hướng, chuyên chú không xả bỏ, cũng không suy thối, quyết định hà ng phục tâm mình. Đó là chánh tinh tấn.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh niệm? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó, nếu tâm tùy thuận niệm, phản chiếu giải thoát niệm[25], suy niệm, biến mãn suy niệm, liên tục ức niệm, tâm niệm không xao lãng. Đó là chánh niệm.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là chánh định? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hà nh, hoặc thấy các hà nh là tai họa, hoặc thấy Niết-bà n là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiỠm trước mà quán sát tâm hoà n toà n giải thoát, trong đó, nếu tâm trụ, thiền trụ, thuận trụ, không loạn, không tán, chuyên nhất[26]. Đó là chánh định.

“Nà y chư Hiền, thời quá khứ là Khổ diệt đạo Thánh đế; thời vị lai và hiện tại là Khổ diệt đạo Thánh đế. Đó là điều chắc thật không hư dối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì hợp với sự chắc thật như vậy, là sở hữu của Thánh, được nhận thức bởi Thánh, được thấu suốt bởi Thánh, được thấy bởi Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Do dó nói Khổ diệt đạo Thánh đế”.

 Rồi ngà i nói bà i tụng rằng:

Phật thấu triệt các pháp,

Thấy vô lượng thiện đức,

Khổ, tập, diệt, đạo đế,

Khéo hiển hiện phân biệt.

Tôn giả Xá-lê Tá»­ thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Tôn giả Xá-lê Tá»­ thuyết, hoan há»· phụng hà nh.  

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: M. 141. SaccavibhaṠga-suttaṃ. Biệt dịch, No.32 Phật Thuyết Tứ Đế Kinh, An Thế Cao dịch, Đại 1 tr.814b; No.25(27.1) Tăng Nhất 19 “phẩm Đẳng Thú Tứ Đế, kinh số 1” Đại 2 tr.643a. Tham chiếu, Thập Tụng Luật 60, Đại 23 tr. 445c; D.22. Mahā-satipaṭṭhāna-suttanta.
[02] Các bản Hán đều nói Phật tại Xá-vệ. Bản Pāli tương đương: Bārāṇasiyaṃ viharati Isipatane Migadāye, trú tại Ba-la-nại, trong Chư tiên đọa xứ, Lộc dã uyển.
[03] Chánh hà nh thuyết pháp 正 行 說 法; No.32: Chơn chánh thuyết pháp
真 正 說 法. Bản Pāli: anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ, Vô thượng Pháp luân được vận chuyển.
[04] Hán: quảng nhiếp 廣 攝, quảng quán 廣 觀, phân biệt 分 別, phát lộ 發 露, khai ngưỡng 開 ä»°, thi thiết 施 設, hiển thị ï€ é¡¯ 示, thú hướng è¶£ 向. Pāli: ācikkhanā (khai thị), desanā (tuyên thuyết), paññāpanā (thi thiết), paá¹­á¹­hapanā (an lập), vivaraṇā (khai hiển), vibhajanā (phân biệt), uttānÄ«kammaṃ (hiển phát).
[05] Bản Pāli: Các Tỳ-kheo hãy gần gũi Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallāna (Mục-kiền-liên), là những Tỳ-kheo thông tuệ...
[06] Tán thán trí tuệ của ngà i Xá-lợi-phất, bản nà y và No.32 giống nhau, chỉ khác về dịch ngữ, về mười loại trí tuệ được kể ở đây, các bản Pāli chỉ kể có bảy (xem M. 111). Bản Pāli tương đương không tán thán riêng Xá-lợi-phất với mười trí. Xem cht.24, Kinh 28.
[07] Hán: tối thượng chân tế 最 上 真 際. Pāli: uttamattha, chân lý tối thượng.
[08] Khổ Thánh đế 苦 聖 帝, Khổ tập Thánh đế 苦 集 聖 帝, Khổ diệt Thánh đế 苦 æ» è– 帝 Khổ diệt đạo Thánh đế 苦 æ» é“ 聖 帝. Pāli: dukkha ariyasacca, dukkhasamudaya ariyasacca, dukkhanirodha ariyasacca, dukkhanirodagāminiyā paá¹­ipada ariyasacca.
[09] Hán: ngũ thạnh ấm khổ 五 盛 陰 苦. Pāli: pañcupādānakkhandhā dukkhā.
[10] Nghĩa là , khi sanh thì sanh ra trong một chủng loại nà o đó.
[11] Hán: sanh 生, xuất 出, thà nh 成, hưng khởi 興 起. Pāli: jāti (sanh), sañjāti (xuất sanh), okkanti (xuất hiện), abhinibbatti (sanh khởi), khandhanānaṃ pātubhāvo (hiển hiện năm uẩn). Bản Hán, có tám khổ; bản Pāli chỉ kể năm khổ: jāti (sanh), jarā (già ), maraṇaṃ (chết), soka-parideva-dukkha-domanassupayāsā (sầu bi khổ ưu não), picchaṃ na labhati (không đạt được mong cầu), saṠkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
[12] Hán: thân thọ khổ, thọ, biến thọ; giác, biến giácï€ èº« 受 苦 受 遍 受 覺 遍 覺. Tham chiếu Pháp uẩn 6 (Đại 26, tr.480a): Lãnh nạp nhiếp thọ, chá»§ng chá»§ng thân khổ sá»± é ˜ 納 攝 受 種 種 身 苦 事, lãnh nạp và nhiếp thọ mọi hình thái khổ khác nhau.
[13] Hán: thân tráng nhiệt, phiền não, ưu thích thọ,... 身 壯 熱, ç © 惱, 憂 æ ¼ 受.
[14] Thù ghét mà tụ hội. Bản Pāli không đề cập.
[15] Lục nội xứ å ­ å § 處.  Pāli: cha ajjhattāyatana.
[16] Hán: canh lạc, giác, tưởng, tư, ái 更 樂 覺 想 思 愛.
[17] Bản Pāli không đề cập.
[18] Pāli: picchaṃ na labhati.
[19] Hán: chúng sanh sanh pháp 眾 生 生 法. Pāli: jātidhammānaṃ sattānaṃ (...).
[20] Nguyên-Hán: chánh chí 正 志.
[21] Nguyên-Hán: chánh phương tiện 正 方 便.
[22] Vô trước niệm quán thiện tâm giải thoát 無 著 念 觀 善 心 解 脫. Tham chiếu Pháp Uẩn 6 (Đại 26, tr.481c): Vô lậu tác ý tương ưng (ư pháp giản trạch), (sự giản trạch pháp) tương ưng với tác ý vô lậu.
[23] Hán: trạch, biến trạch, quyết trạch, trạch pháp; thị, biến thị, quán sát minh đạt 擇, 遍 擇, 決 擇, 擇 法; 視, 遍 視, 觀 察 明 達. Tham chiếu Pháp Uẩn 6 (Đại 26, tr.481c): (ư pháp) giản trạch, cá»±c giản trạch, tối cá»±c giản trạch; liá» u, biến liá» u, cận liá» u; cÆ¡ hiệt, thông đạt, thẩm sát, thông duệ, giác minh tuệ hà nh (於 法) ç°¡ 擇, 極 ç°¡ 擇, 最 極 ç°¡ 擇; 了, 遍 了, 近 了; 機 é» , 通 達, 審 察, 聰 叡, 覺 明 æ § 行.
[24] Hán: tứ, biến tứ, tùy thuận tứ... khả niệm... khả vọng 伺, 遍 伺, 隨 é † 伺… 可 念… 可 望. Tham chiếu Pháp Uẩn 6 đd trên: Tư duy... Tầm cầu... Suy mịch... Linh tâm ư pháp thô động nhi chuyển 思 惟… 尋 求… 推 覓… 令 心 於 法 粗 動 而 轉.
[25] Hán: bối bất hướng niệm 背 不 向 念; chánh niệm liên hệ đến tám bối xả hay tám giải thoát.
[26] Nhiếp chỉ 攝 止; được hiểu là tâm nhất cảnh tánh: tâm và cảnh là một.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]