Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
162. Kinh Phân Biệt Lục Giới
163. Kinh Phân Biệt Lục Xứ
164. Kinh Phân Biệt Quán Pháp
165. Kinh Ôn Tuyền Lâm Thiên
166. Kinh Thích Trung Thiền Thất Tôn
167. Kinh A-Nan Thuyết
168. Kinh Ý Hà nh
169. Kinh Câu-Lâu-Sấu Vô Tránh
170. Kinh Anh VÅ©
171. Kinh Phân Biệt Ðại Nghiệp
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT

164. KINH PHÂN BIỆT QUÁN PHÁP[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Nà y các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết pháp cho các ngươi, phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa, có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó là kinh ‘Phân biệt quán pháp’. Các thầy hãy lắng nghe, khéo suy tư và ghi nhớ.

Nghe vậy, các Tỳ-kheo thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, chúng con xin vâng lời”.

Đức Phật bảo rằng:

“Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú và o bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, nà y các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nà o mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoà i, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ”.

Đức Phật nói như thế, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, và o thất tĩnh tọa.

Khi ấy, các Tỳ-kheo nghĩ rằng: “Chư Hiền nên biết, Đức Thế Tôn nói lên điều đó một cách tóm tắt, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và o thất tĩnh tọa. Thế Tôn chỉ nói: ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú và o bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, nà y các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nà o mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoà i, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ’.”

Các vị ấy lại nghĩ rằng: “Chư Hiền, vị nà o có thể phân biệt rộng rãi điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược?” Các vị ấy lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên[02] thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có trí tán thán. Như vậy, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược. Nà y chư Hiền, hãy cùng nhau đi đến nơi Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, nhờ Tôn giả giải thích điều đó. Nếu Tôn giả Đại Ca-chiên-diên phân biệt cho, chúng ta sẽ khéo thọ trì”.

Thế rồi các Tỳ-kheo cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, cùng chà o hỏi nhau rồi ngồi qua một bên thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, nên biết cho rằng, Đức Thế Tôn nói điều nà y một cách tóm lược, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, và o phòng tĩnh tọa. Thế Tôn chỉ nói rằng, ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú và o bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, nà y các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nà o mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoà i, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự kho.å’

“Chúng tôi đã nghĩ rằng, ‘Chư Hiền, vị nà o có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược?’

“Chúng tôi lại nghĩ, ‘Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn và các bậc pham hạnh có trí tán thán. Như vậy, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược’. Mong Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thương xót mà phân biệt rộng rãi cho”.

Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói rằng:

“Nà y chư Hiền, hãy nghe tôi nói thí dụ. Người có trí nghe thí dụ thì sẽ hiểu được nghĩa.

“Nà y chư Hiền, cũng như ngườøi muốn tìm lõi cây. Vì muốn tìm lõi cây nên xách búa và o rừng. Người ấy thấy cây đại thọ có đủ gốc, thân, cà nh, nhánh, lá, hoa và lõi. Người ấy không đốn gốc, thân, cà nh và lõi mà chỉ chặt nhánh và lá thôi. Điều chư Hiền nói ra cũng lại như vậy. Đức Thế Tôn còn đó mà chư Hiền lại bỏ đi tìm tôi để hỏi về điều ấy. Vì sao? Chư Hiền nên biết, Thế Tôn là Con Mắt, là Trí, là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng Nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả các nghĩa, đều do Thế Tôn.

“Nà y chư Hiền, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi điều đó như thế nà y, ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế nà o? Điều đó có nghĩa gì?’ Đức Thế Tôn dạy thế nà o, chư Hiền nên khéo léo thọ trì thế ấy”.

Nghe thế, các Tỳ-kheo thưa rằng:

“Xin vâng, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Đức Thế Tôn là Con Mắt, là Trí, là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng. Nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả các nghĩa, đều do Thế Tôn. Chúng tôi đáng lẽ phải đến chỗ Thế Tôn mà hỏi về điều đó như vầy ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế nà o? Điều đó có nghĩa gì?’ Đức Thế Tôn nói như thế nà o, chúng tôi sẽ khéo thọ trì thế ấy. Nhưng Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có tri tán tán. Như vậy, Tôn giả có thể phân biệt được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược. Mong Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thương xót mà giải thích rộng rãi cho”.

Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói:

“Nà y chư Hiền, vậy hãy nghe tôi nói.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là tâm[03] Tỳ-kheo hướng ra bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn? –Chư Hiền, với con mắt, Tỳ-kheo con mắt thấy sắc, thức ăn tướng của sắc, thắc đắm trước vị lạc của tướng của sắc, thức bị trói buộc bởi vị lạc của tướng của sắc; vị ấy bị vị ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên hướng ra ngoà i, bị phân rải, tán loạn. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; với ý vị ấy nhận thức pháp, thức chạy theo pháp tướng, thức đắm trước vị lạc của pháp tướng, thức bị trói buộc bởi vị lạc của pháp tướng, vị ấy bị vị của vị ngọt của pháp tướng cột chặt tâm nên hướng ra bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn.

“Nà y Chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo hướng ra bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn.

“Nà y chư Hiền, thế nà o gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra ngoà i, không bị phân rải, tán loạn?

“Nà y chư Hiền, với con mắt, Tỳ-kheo thấy sắc, thức không chạy theo sắc tướng, thức không đắm trước lạc của sắc tướng, thức không bị trói buộc bởi lạc của sắc tướng, vị ấy không bị vị ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên không hướng ra ngoà i, không bị phân rải, tán loạn. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; với ý Tỳ-kheo nhận thức pháp, thức không chạy theo pháp tướng, thức không đắm trước lạc của pháp tướng, thức không bị trói buộc bởi lạc của pháp tướng. Vị ấy không bị vị ngọt của pháp tướng cột chặt tâm nên không hướng ra ngoà i, không bị chi phối, tán loạn.

“Nà y Chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra ngoà i, không bị phân rải, tán loạn.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là tâm Tỳ-kheo không trú và o bên trong?

“Nà y chư Hiền, Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục phát sanh, chứng đắc thiền thứ nhất, thà nh tựu an trụ. Nhưng thức của vị ấy đắm trước ở vị ngọt của ly dục, y nơi đó, trú nơi đó, duyên nơi đó, gắn chặt nơi đó, nên thức không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, có hỷ lạc do định phát sanh, đắc thiền thứ hai, thà nh tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy đắm trước nơi vị ngọt của định, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu, với chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh nói là được Thánh xả, niệm, an trú lạc[04], đắc thiền thứ ba, thà nh tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước và o vị ngọt của ly hỷ, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ trước kia, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, đắc thiền thứ tư, thà nh tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước và o vị của xả và của niệm, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua mọi sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không tư duy đến các loại tưởng sai khác, nhập vô lượng không, thà nh vô lượng không xứ, thà nh tựu và an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước và o vị ngọt của không trí, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, vô lượng thức xứ, thà nh tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước và o vị của thức trí, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu xứ, thà nh tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước và o vị của vô sở hữu trí, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Lại nữa, nà y chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, nhập Phi hữu tưởng phi vô tưởng, thà nh tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước và o vị của tưởng trí, y và o đó, trú và o đó, duyên và o đó, gắn chặt và o đó, nên thức của vị ấy không trú và o bên trong.

“Nà y chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không trú và o bên trong.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là tâm Tỳ-kheo an trú và o bên trong?

“Chư Hiền, Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, đắc Thiền thứ nhất, thà nh tựu an trú. Thức của vị ấy không trú trước và o vị ngọt của ly dục, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh, đắc đệ Nhị thiền, thà nh tựu an trú. Thức của vị ấy không trú trước và o vị ngọt của định, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo ly hỷ dục, an trụ, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh nói là được Thánh xả, niệm, an trú lạc, đắc Thiền thứ ba, thà nh tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước và o vị của ly hỷ, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo diệt khổ, diệt dục, diệt hỷ và ưu có trước kia, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, đắc Thiền thứ tư, thà nh tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước và o vị ngọt của xả và vị của niệm thanh tịnh, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không tư duy đến các loại tưởng sai biệt, nhập vô lượng không xứ, thà nh tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước và o vị của không trí, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức xứ, thà nh tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước và o vị ngọt của thức trí, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu xứ, thà nh tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước và o vị ngọt của vô sở hữu trí, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Lại nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, nhập phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thà nh tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước và o vị ngọt của vô tưởng trí, không y và o đó, không trú và o đó, không duyên và o đó, không gắn chặt và o đó, nên thức trú và o bên trong.

“Nà y chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo trú và o bên trong.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là Tỳ-kheo không chấp thủ mà sợ hãi?

“Chư Hiền, Tỳ-kheo không ly sắc nhiỠm, không ly sắc dục, không ly sắc ái, không ly sắc khát. Nà y chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nà o không ly sắc nhiỠm, không ly sắc dục, không ly sắc ái, không ly sắc khát, thì vị ấy muốn được sắc, truy cầu, đắm trước sắc, trú và o sắc, nghĩ rằng ‘Sắc là ta. Sắc là sở hữu của ta’. Khi đã muốn được sắc, truy cầu sắc, đắm trước sắc, trú và o sắc, nghĩ rằng ‘Sắc là ta. Sắc là sở hữu của ta’, thì thức nắm bắt sắc. Sau khi thức nắm bắt sắc, lúc ấy sắc biến dịch thì thức cũng bị chuyển theo sắc. Khi thức đã bị chuyển theo sắc thì Tỳ-kheo ấy sanh sợ hãi, tâm trú và o trong đó. Nhơn vì tâm không biết nên sanh khiếp sợ, lao nhọc, không chấp thủ mà sợ hãi.

“Cũng vậy, thọ, tưởng, hà nh, thức; Tỳ-kheo không ly thức nhiỠm, không ly thức dục, không ly thức ái, không ly thức khát.

“Nà y chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nà o không ly thức nhiỠm, không ly thức dục, không ly thức ái, không ly thức khát, thì vị ấy muốn được thức, truy cầu thức, đắm trước thức, trú và o thức, nghĩ rằng ‘Thức là ta. Thức là sở hữu của ta’. Vị ấy khi đã muốn đượïc thức, truy cầu thức, đắm trước thức, trú và o thức, nghĩ rằng ‘Thức là ta. Thức là sở hữu của ta’ thì thức nắm bắt thức. Sau khi thức nắm bắt thức, lúc thức ấy biến dịch thì thức cũng bị chuyển theo thức. Sau khi thức đã bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy sanh sợ hãi, tâm trú và o trong đó. Nhơn vì tâm không biết nên sanh khiếp hãi, lao nhọc, không chấp thọ mà sợ hãi.

“Nà y chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thọ mà sợ hãi.

“Nà y chư Hiền, thế nà o gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không sợ hãi?

“Chư Hiền, là Tỳ-kheo ly sắc nhiỠm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly sắc khát.

“Nà y chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nà o ly sắc nhiỠm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly sắc khát, thì vị ấy không muốn được sắc, không truy cầu sắc, không đắm trước sắc, không trú và o sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là sở hữu của ta’. Vị ấy đã không muốn được sắc, không truy cầu sắc, không đắm trước sắc, không trú và o sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là sở hữu của ta’ thì thức không nắm bắt sắc. Khi thức đã không nắm bắt sắc, lúc ấy sắc biến dịch, thức không bị chuyển theo sắc. Thức đã không bị chuyển theo sắc thì vị ấy không sanh sợ hãi, tâm không trú và o trong đó. Nhơn vì tâm biết nên không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp thọ, không sợ hãi.

“Cũng vậy, thọ, tưởng, hà nh, thức; Tỳ-kheo ly thức nhiỠm, ly thức dục, ly thức ái, ly thức khát. Nà y chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nà o ly thức nhiỠm, ly thức dục, ly thức ái, ly thức khát thì vị ấy không muốn đắc thức, không truy cầu thức, không đắm trước thức, không trú và o thức, nghĩ rằng ‘Thức không phải là ta. Thức không phải là sở hữu của ta’. Tỳ-kheo ấy khi đã không muốn được thức, không truy cầu thức, không đám trước thức, không trú và o thức, nghĩ rằng ‘Thức không phải là ta. Thức không phải là của ta’, thì thức không nắm bắt thức. Khi thức đã không nắm bắt thức, lúc thức kia biến dịch, thức không bị chuyển theo thức. Khi thức không bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy không sanh sợ hãi, tâm không trú và o trong đó. Nhơn vì tâm biết nên không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp thọ, không sợ hãi.

“Nà y chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không sợ hãi.

“Nà y chư Hiền, Đức Thế Tôn nói điều đó tóm lược, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, và o phòng tĩnh tọa. Ngà i chỉ nói rằng ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳ-kheo, tâm hướng về bên ngoà i, bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú và o bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, nà y các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nà o mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoà i, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ’. Đức Thế Tôn đã nói điều ấy tóm lược, không phân biệt rộng rãi như vậy đó. Tôi đã dùng cú nà y, văn nà y giải thích rộng rãi như thế. Nà y chư Hiền, hãy đến trình bà y với Thế Tôn đầy đủ. Nếu Đức Thế Tôn nói điều đó như thế nà o thì chư Hiền thọ trì như thế ấy”.

Bấy giờ, các Tỳ-kheo ấy nghe Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói như vậy, khéo thọ trì, đọc tụng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh Tôn giả ấy ba vòng rồi đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lỠrồi ngồi qua một bên mà thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nói tóm lược về điều đó mà không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, và o thất tĩnh tọa, thì Tôn giả Đại Ca-chiên-diên với cú như thế, văn như thế đã giải thích rộng rãi về điều đó”.

Đức Thế Tôn nghe như vậy, liền tán thán rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! Trong số đệ tử của Ta, đó là vị có mắt, có trí, có pháp, có nghĩa. Vì sao? Vì đạo sư nói điều ấy tóm lược, không phân biệt rộng rãi cho các đệ tử, mà đệ tử ấy đã bằng cú như thế, văn như thế để giải thích rộng rãi. Cho nên những gì mà Ca-chiên-diên đã nói, các ngươi hãy thọ trì như vậy. Vì sao? Vì thuyết quán nghĩa phải như vậy.

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, M.138. Uddesa-vibaṠga-suttam.
[02] Đại Ca-chiên-diên 大 迦 旃 延. Pāli: Mahā-Kaccāna.
[03] Trong bản Pāli: thức (viññāna) bị phân tán.
[04] Hán: Thánh sở thuyết Thánh sở xả niệm lạc trú  聖 說 聖 所 捨 念 樂 住. Pāli: yaṃ taṃ āriyā ācikkhanti upekkhako satimā sukhaviharÄ«, điều mà các Thánh nói là xả,  an trú lạc với chánh niệm.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]