Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
72. Kinh Trường Thọ Vương Bổn Khởi
73. Kinh Thiên
74. Kinh Bát Niệm
75. Kinh Tịnh Bất Ðộng Ðạo
76. Kinh Úc-Già -Chi-La
77. Kinh Sa-Kê-Ðế Tam Tộc Tánh Tử
78. Kinh Phạm Thiên Thỉnh Phật
79. Kinh Hữu Thắng Thiên
80. Kinh Ca-Hi-Na
81. Kinh Niệm Thân
82. Kinh Chi-Ly-Di-Lê
83. Kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thụy Miên
84. Kinh Vô Thích
85. Kinh Chân Nhân
86. Kinh Thuyết Xứ
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

7. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG

74. KINH BÁT NIỆM[1]

Tôi nghe như vầy.

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Bà -kì-sấu[02], ở rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã[03].

Bấy giờ Tôn giả A-na-luật-đà ở tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử[04]. Tôn giả A-na-luật-đà ở chỗ yên tĩnh, tĩnh tọa tư duy, tâm nghĩ rằng: “Đạo chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc từ tri túc, chứ không phải là không nhà m chán. Đạo chứng đắc từ viỠn ly, chứ không phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống tụ hội, không phải từ sự hội hợp tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không phải từ sự biếng nhác. Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si”.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn bằng tha tâm trí biết Tôn giả A-na-luật-đà đang niệm gì, đang tư gì, đang hà nh gì. Sau khi đã biết, Đức Thế Tôn nhập định có hình thái như thế[05]. Với định có hình thái như thế, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, cũng thế, Đức Thế Tôn từ Bà -kì-sấu, từ rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã, bỗng biến mất, liền xuất hiện trước mặt Tôn giả A-na-luật-đà tại Chi-đề-sấu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn xuất định, tán thán Tôn giả A-na-luật-đà rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! A-na-luật-đà , ngươi ở chỗ yên tĩnh, ngồi tĩnh tọa tư duy, tâm đã nghĩ thế nà y: ‘Đạo chứng đắc từ vô dục, chứ chẳng phải từ hữu dục. Đạo chứng đắc từ tri túc, chứ không phải là không nhà m chán. Đạo chứng đắc từ viỠn ly, chứ không phải từ sự ưa tụ hội, không phải từ sự sống tụ hội, không phải từ sự hội hợp tụ hội. Đạo chứng đắc từ sự tinh cần, chứ không phải từ sự biếng nhác. Đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm. Đạo chứng đắc từ định ý, chứ không phải từ loạn ý. Đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si’.

“Nà y A-na-luật-đà , ngươi hãy nghe Như Lai, lãnh thọ thêm suy niệm thứ tám của bậc Đại nhân[06]. Sau khi lãnh thọ liền tư duy rằng: ‘Đạo chứng đắc từ chỗ không hý luận[07], ưa sự không hý luận, hà nh sự không hý luận, chứ không phải từ chỗ hý luận, không phải từ chỗ ưa hý luận, không phải từ chỗ hà nh hý luận’.

“Nà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, chắc chắn ngươi có thể ly dục, ly ác, ly bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thà nh tựu an trụ.

“Nà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân nà y, lại chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y, sống an lạc ngay trong hiện tại, dỠđược chứ không khó, thì cũng như vua và đại thần có hòm đẹp đựng đầy các loại y phục đẹp, buổi sáng muốn mặc liền lấy mặc; buổi trưa, buổi chiều, muốn mặc liền lấy mặc, tùy ý tự tại, nà y A-na-luật-đà , ngươi cũng vậy, được y phấn tảo, là m y phục bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hà nh nà y.

“Nà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại, dỠđược không khó, thì cũng như vua và vương thần có cai bếp là m các thức ăn ngon là nh mỹ diệu, nà y A-na-luật-đà , ngươi cũng vậy, thường sống bằng món ăn khất thực là m món ăn độc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hà nh nà y.

 â€œNà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tá»±u tám suy niệm cá»§a bậc Đại nhân, lại cÅ©ng chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y, dỠđược chứ không khó, thì cÅ©ng như vua và vương thần có nhà cá»­a đẹp, hoặc có lầu các, cung điện, nà y A-na-luật-đà , ngươi cÅ©ng như thế, ngồi dưới gốc cây, lấy sá»± tịch tÄ©nh là m ngôi nhà bậc nhất, tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hà nh nà y.

 â€œNà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tá»±u tám suy niệm cá»§a bậc Đại nhân, lại cÅ©ng chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y, dỠđược chứ không khó, thì cÅ©ng như vua và vương thần có giường đẹp, trải lên bằng chăn nệm, đệm bông, phá»§ lên bằng gấm, the, lụa, sa trun, có chăn đệm ở hai đầu để gối, trải thảm quý bằng da sÆ¡n dương[08]; nà y A-na-luật-đà , ngươi cÅ©ng như vậy, chỗ ngồi trải bằng cỏ, bằng lá cây, là chỗ ngồi bậc nhất. Tâm ngươi vô dục, sống với trụ chỉ hà nh nà y.

“Nà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y, dỠđược chứ không khó, thì cũng như thế, nếu ngươi an trú phương Đông, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ. Nếu an trú phương Tây, phương Nam, phương Bắc, chắc chắn được an lạc, không có các tai hoạn đau khổ.

“Nà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y, dỠđược chứ không khó, đối với các pháp thiện, ngươi đã an trú, Ta không nói đến, huống nữa là nói đến sự suy thoái. Các thiện pháp cứ ngà y đêm tăng trưởng chứ không suy thoái.

“Nà y A-na-luật-đà , nếu ngươi thà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân, lại cũng chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y, dỠđược chứ không khó, thì đối với hai quả, chắc chắn ngươi đắc được một, hoặc trong đời nà y đắc cứu cánh trí, hoặc nếu còn hữu dư thì đắc A-na-hà m.

“Nà y A-na-luật-đà , ngươi hãy thà nh tựu tám suy niệm nà y của bậc Đại nhân, và cũng nên chứng đắc bốn tăng thượng tâm nà y nữa, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y, dỠđược chứ không khó; sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử vậy”.

Bấy giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả A-na-luật-đà , khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện, thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ, Đức Thế Tôn liền như vậy mà nhập định, trong khoảnh khắc, như người lực sĩ co duỗi cánh tay, cũng vậy, Đức Thế Tôn từ Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử, bỗng nhiên biến mất, không thấy, rồi hiện ra ở Bà -kì-sấu, núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã.

Lúc ấy Tôn giả A-nan cầm quạt đứng hầu Đức Phật, Đức Phật liền xuất định, quay lại bảo A-nan rằng:

“Nà y A-nan, nếu có Tỳ-kheo nà o đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn Lộc dã thì bảo tất cả tụ tập tại giảng đường. Sau khi tụ tập tại giảng đường xong, trở lại cho Ta hay”.

Tôn giả A-nan vâng lời Đức Phật, cúi đầu đảnh lỠdưới chân Ngà i, liền đi tuyên bố rằng: “Đức Thế Tôn dạy: nếu có Tỳ-kheo nà o đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn Lộc dãõ thì tất cả hãy tụ tập tại giảng đường”.

Sau khi các Tỳ-kheo tụ tập tại giảng đường, Tôn giả A-nan trở lại chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lỠdưới chân rồi đứng qua một bên, bạch rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, các Tỳ-kheo đến núi Ngạïc rừng Bố, trong vườn Lộc dã, tất cả đã tụ tập tại giảng đường. Mong Đức Thế Tôn biết cho, nay đã đến thời”.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn đến giảng đường, trải chỗ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và nói:

“Nà y chư Tỳ-kheo, Ta nói cho các ngươi nghe về tám suy niệm của bậc Đại nhân. Các ngươi hãy lắng nghe và khéo suy tư, ghi nhớ.

Bấy giờ các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn nói rằng:

“Đây là tám pháp suy niệm của bậc Đại nhân:

1.  Đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.

2.  Đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhà m tởm mà chứng đắc.

3.  Đạo từ viá» n ly chứ không phải từ chỗ ưa tụ hội, không phải từ sá»± sống chỗ tụ hội, không phải từ sá»± sống hội hợp tụ hội mà chứng đắc.

4.  Đạo từ tinh cần chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.

5.  Đạo từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.

6.  Đạo từ chỗ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.

7.  Đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.

8.  Đạo từ chỗ không hý luận, ưa sá»± không hý luận, hà nh sá»± không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ sá»± ưa hý luận, không phải từ sá»± hà nh hý luận, mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ vô dục mà chứng đắc, chứ không phải từ hữu dục? Tỳ-kheo đạt được vô dục, tự biết đạt được vô dục, không tỏ cho kẻ khác biết mình vô dục; đạt được tri túc, đạt được viỠn ly, đạt được tinh cần, đạt được chánh niệm, đạt được định ý, đạt được trí tuệ, đạt được không hý luận, tự biết đạt được không hý luận, không muốn tỏ cho người khác biết mình vô dục. Như vậy gọi là đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhà m tởm mà chứng đắc? Tỳ-kheo hà nh tri túc, áo dùng để che thân, ăn đủ nuôi thân. Đó là đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhà m tởm mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ viỠn ly chứ không phải từ ưa tụ hội, sống chỗ tụ hội, hội họâp nơi tụ hội mà chứng đắc? Tỳ-kheo thực hà nh hạnh viỠn ly, thực hà nh hai hạnh viỠn ly là thân và tâm đều viỠn ly. Đó là đạo từ viỠn ly chứ không phải từ sự ưa tụ hội, sống ở chỗ tụ hội, hội họâp nơi tụ hội mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ tinh tấn chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc? Tỳ-kheo thường hà nh tinh tấn, đoạn ác bất thiện, tu các thiện pháp, thường tự khởi ý, chuyên nhất kiên cố, vì các gốc rỠthiện mà không hề từ bỏ khó nhọc. Đó gọi là đạo từ tinh tấn, chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ chánh niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc? Tỳ-kheo quán nội thân như thân, quán nội thọ, nội tâm, nội pháp như pháp. Đó gọi là đạo từ chánh niệm chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Đó gọi là đạo từ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc? Tỳ-kheo tu hạnh trí tuệ, quán pháp hưng suy, chứng đắc trí như thật, thánh tuệ minh đạt, phân biệt rõ rà ng để dứt sạch khổ một cách chính đáng. Đó gọi là đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.

“Thế nà o là đạo từ không hý luận, ưa không hý luận, hà nh không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa hý luận, không phải từ hà nh hý luận mà chứng đắc? Tỳ-kheo tâm ý thường diệt hý luận, an lạc, trú trong Vô dư Niết-bà n, tâm thường lạc trú, hoan hỷ, ý giải. Đó gọi là đạo từ không hý luận, ưa không hý luận, hà nh không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ ưa hý luận, không phải từ hà nh hý luận mà chứng đắc.

“Nà y các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã tà nh tựu tám suy niệm của bậc Đại nhân nà y, sau đó mới an cư mùa mưa tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử. Ta đem những điều nà y nói ra, vị ấy sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hà nh tinh cần. Vị ấy khi sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hà nh tinh cần, đã đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử vì cứu cánh ấy đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, duy chỉ cầu đắc vô thượng phạm hạnh ngay trong đời nà y, tự tri, tự giác, tự thân chứng đắc, thà nh tựu và an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’.”

Ngay lúc ấy, Tôn giả A-na-luật-đà chứng đắc A-la-hán, tâm chánh giải thoát, xứng đáng bậc Trưởng lão Thượng tôn, rồi nói bà i tụng:

Vô thượng thế gian sư
Xa biết con tư niệm,
Chánh thân tâm nhập định
Nương không, chợt đến đây.
Biết con tâm niệm nà y,
Thuyết pháp vượt lên nữa.
Chư Phật không hý luận;
Hý luận đã xa lìa.
Đã biết pháp Như Lai,
Ưa trú trong chánh pháp.
Rồi tam muội chứng ngay,
Pháp Phật đã thà nh đạt.
Con chẳng ưa sự chết,
Cũng không nguyện nơi sanh;
Tùy thời, tùy sở thích,
Niệm, chánh trí vững và ng.
Tỳ-da-ly, trú lâm,
Nơi đó mạng con dứt;
Ở ngay dưới khóm trúc,
Nhập Vô dư Niết-bà n.

Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: A.8.30. Anurudha. Hán, biệt dịch No.46, No.125 (43.6).
[02] Bà -kì-sấu 婆 奇 瘦. Pāli: Bhaggesu, giữa những người Bhagga.
[03] Ngạc sơn Bố lâm Lộc dã viên 鱷 山 怖 林 鹿 野 園. Pāli: Suṃsumāragire bhesakāḷāvane migadāye, trong núi Cá sấu, rừng Khủng bố, chỗ nuôi hươu.
[04] Chi-đề-sấu Thủy chử lâm 枝 提 瘦 水 渚 林. Pāli: Cetīsu Pācīnavaṃsadāye, giữa những người Cetī, trong rừng Đông trúc. No.125 (42.6): Tôn giả ở tại Tứ Phật sở cư chi xứ. No.46: Phật ở tại Mục sơn, dưới gốc cây Cầu sư.
[05] Như kỳ tượng định 如 å ¶ 像 定. Pāli: tathārÅ«paṃ samādhi.
[06] Đại nhân chi niệm 大 人 之 念. Pāli: mahāpurisavitakka.
[07] Hán: đạo tùng bất hý... đắc. Pāli: nippapañcārāmassāyaṃ dhammo, đây là pháp của người không ưa hý luận.
[08] Trong bản Hán: gia-lăng-già -ba-hòa-la ba-giá-tất-đa-la-na. Pāli: kadalimigapavara- paccattharaṇo.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]