Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
87. Kinh Uế Phẩm
88. Kinh Cầu Pháp
89. Kinh Tỳ-Kheo Thỉnh
90. Kinh Tri Pháp
91. Kinh Chu-Na Vấn Kiến
92. Kinh Thanh Bạch Liên Hoa Dụ
93. Kinh Thủy Tịnh Phạm Chí
94. Kinh Hắc Tỳ-Kheo
95. Kinh Trụ Pháp
96. Kinh Vô
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

8. PHẨM UẾ

88. KINH CẦU PHÁP[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa nước Câu-tát-la[02] cùng đại chúng Tỳ-kheo, qua đến phía Bắc là ng Ngũ sa-la[03], trong rừng Thi-nhiếp-hòa với hà ng đại đệ tử Trưởng lão, Thượng tôn, danh đức, như các ngà i: Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả Lệ-việt[04], Tôn giả A-nan và các đại đệ tử Trưởng lão Thượng tôn danh đức khác ngang hà ng như vậy cũng có mặt tại là ng Ngũ sa-la. Tất cả đều ở gần bên cạnh ngôi nhà lá của Phật.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:

“Các ngươi nên thực hà nh sự cầu pháp[05], đừng thực hà nh sự cầu ẩm thực. Vì sao? Vì Ta thương tưởng các đệ tử, muốn các đệ tử nên thực hà nh sự cầu pháp, chứ không thực hà nh sự cầu ẩm thực. Nếu các ngươi thực hà nh cầu ẩm thực, không thực hà nh sự cầu pháp, không những các ngươi tự xấu xa, mà Ta cũng không được danh dự gì. Nếu các thầy thực hà nh sự cầu pháp, chứ không thực hà nh sự cầu ẩm thực, không những các thầy đã tự tốt đẹp mà Ta cũng được danh dự.

“Thế nà o là các đệ tử vì cầu ẩm thực mà theo Phật tu hà nh, chứ không phải vì cầu pháp? Sau khi Ta ăn no, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư; sau đó có hai Tỳ-kheo đến, đói khát, sức lực hao mòn, Ta nói với họ rằng: ‘Sau khi Ta ăn no, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư, các ngươi muốn ăn thì lấy mà ăn. Nếu các ngươi không lấy thì Ta sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc đổ trong nước không có trùng’.

“Trong hai người ấy, Tỳ-kheo thứ nhất suy nghĩ như vầy, ‘Đức Thế Tôn ăn rồi, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư, nếu ta không lấy tất nhiên Đức Thế Tôn sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc trong nước không có trùng. Vậy ta hãy lấy mà ăn’. Tỳ-kheo ấy liền lấy mà ăn. Tuy được một ngà y một đêm an ổn khoái lạc, nhưng vì Tỳ-kheo ấy nhận lấy đồ ăn dư đó nên không vừa ý Phật[06]. Vì sao? Vì Tỳ-kheo đó nhận lấy đồ ăn đó nên không thể thiểu dục, không thể tri túc, không thể dỠnuôi, không thể dỠthỏa mãn, không thể biết thời, không thể biết tiết độ, không thể tinh tấn, không thể tĩnh tọa, không thể có tịnh hạnh, không thể sống viỠn ly, không được nhất tâm, không được tinh cần, cũng không thể chứng đắc Niết-bà n. Vì vậy, do bởùi Tỳ-kheo nhận lấy đồ ăn dư mà không vừa ý Phật. Như thế, gọi là các đệ tử vì cầu ẩm thực mà theo Phật tu hà nh, chứ không phải vì cầu pháp.

“Thế nà o là các đệ tử thực hà nh sự cầu pháp, chứ không thực hà nh cầu ẩm thực? Trong hai người ấy, Tỳ-kheo thứ hai suy nghĩ như vầy, ‘Đức Thế Tôn ăn rồi, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư. Nếu ta không lấy thì tất nhiên Đức Thế Tôn sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc trong nước không có trùng. Nhưng Đức Thế Tôn có dạy rằng: ‘Điều thấp kém nhất trong việc ăn uống là ăn đồ ăn dư[07].’ Vậy ta không nên nhận lấy đồ ăn đó’. Nghĩ như thế rồi, Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn. Tỳ-kheo kia không nhận lấy đồ ăn đó, tuy suốt một ngà y một đêm khổ sở, không được an ổn, nhưng nhân vì Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn đó nên được vừa lòng Phật. Vì sao? Tỳ-kheo ấy do bởi không nhận lấy đồ ăn dư nên được sự thiểu dục, được sự tri túc, được sự sống dỠnuôi, dỠthỏa mãn, biết thời, có tiết độ, có tinh tấn, có thể tĩnh tọa, có tịnh hạnh, có thể sống viỠn ly, được nhất tâm, được tinh cần và cũng có thể chứng đắc Niết-bà n. Cho nên, do bởi Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn nà y mà được vừa lòng Phật. Như thế, gọi là các đệ tử vì cầu pháp mà theo Phật tu hà nh, chứ không phải vì cầu ẩm thực”.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các đệ tử:

“Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, mà đệ tử hà ng trưởng thượng của vị ấy không thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho mọi người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải là vì thương xót thế gian, cũng không phải là mong sự thiện lợi, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời, loà i người.

“Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, mà đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy không thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó không ích gì cho mọi người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải là vì thương xót thế gian, cũng không phải là mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời, loà i người.

“Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, mà đệ tử hà ng trưởng thượng của vị ấy cũng thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an lạc cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời và loà i người.

“Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy cũng thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an lạc cho mọi người, là bậc thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho trời, người”.

Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử cũng hiện diện trong chúng. Đức Thế Tôn bảo Tôn giả rằng:

“Xá-lê Tử, thầy hãy nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe. Ta bị đau lưng, nay Ta muốn nghỉ một lát”.

Tôn giả Xá-lê Tử liền vâng lãnh lời Phật:

“Kính vâng, bạch Thế Tôn”.

Rồi Đức Thế Tôn gấp tư y Ưu-đa-la-tăng trải trên giường, cuộn y Tăng-già -lê là m gối, nằm nghiêng hông bên phải, hai chân chồng lên nhau, khởi quang minh tưởng[08], chánh niệm, chánh trí và chuyên niệm về dục khởi tưởng[09].

Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo:

“Nà y chư Hiền, nên biết, Đức Thế Tôn vừa nói pháp sơ lược rằng: ‘Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly mà đệ tử hà ng trưởng thượng của vị ấy không thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho mọi người, không mang lại an ạc cho mọi người, không phải là vì thương xót thế gian, không phải là mong cầu thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời, loà i người. Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly mà đệ tử bậc trung và hạ của vị ấy không thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho mọi người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải là vì thương xót thế gian, cũng không phải là mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời, loà i người. Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly và đệ tử hà ng trưởng thượng của vị ấy cũng thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an lạc cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời, loà i người. Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy cũng thích đời sống viỠn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại sự an lạc cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loà i trời, loà i người’.

“Nhưng Đức Thế Tôn nói pháp nà y hết sức sơ lược, các thầy thấu hiểu nghĩa đó như thế nà o và phân biệt rộng rãi như thế nà o?”

Bấy giờ trong chúng, hoặc có Tỳ-kheo nói như thế nà y:

“Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, nếu các Trưởng lão Thượng tôn tuyên bố rằng ‘Ta đã chứng đắc cứu cánh trí, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’, thì các vị phạm hạnh khi nghe vị Tỳ-kheo tự tuyên bố ‘Ta đã chứng đắc cứu cánh trí’, bèn được hoan hỷ”.

Lại có Tỳ-kheo nói như thế nà y:

“Bạch Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có đệ tử bậc trung, bậc hạ có ước nguyện vô thượng Niết-bà n, các người phạm hạnh thấy vị Tỳ-kheo kia đã thực hà nh theo, nên được hoan hỷ.”

Như vậy, các Tỳ-kheo ấy giải thích ý nghĩa đó như vậy mà không hà i lòng Tôn giả Xá-lê Tử.

Tôn giả Xá-lê Tử nói với các thầy Tỳ-kheo ấy rằng:

“Nà y chư Hiền, hãy lắng nghe, tôi sẽ giải thích cho các thầy.

“Nà y chư Hiền, nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, mà hà ng đệ tử trưởng thượng của vị ấy không thích đời sống viỠn ly, thì người đệ tử hà ng trưởng thượng ấy có ba điều đáng chê.

“Những gì là ba? Tôn sư thích an trú viỠn ly mà đệ tử hà ng trưởng thượng không học theo hạnh viỠn ly. Vị đệ tử ấy vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ mà đệ tử trưởng thượng không đoạn trừ pháp ấy. Vị đệ tử nà y vì vậy mà đáng chê. Với những điều có thể thủ chứng mà đệ tử trưởng thượng lại từ bỏ phương tiện[10]. Vị đệ tử nà y vì vậy mà đáng chê. Nếu bậc Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly mà đệ tử trưởng thượng của vị ấy không thích đời sống viỠn ly thì người đệ tử ấy có ba điều đáng chê trách nà y.

“Nà y chư Hiền, nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly mà đệ tử bậc trung và hạ không thích đời sống viỠn ly, thì đệ tử trung và hạ ấy có ba điều đáng chê.

“Những gì là ba? Tôn sư thích an trú viỠn ly, đệ tử trung và hạ không học theo hạnh viỠn ly, những đệ tử nà y vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ mà đệ tử trung và hạ không đoạn trừ những pháp ấy, những đệ tử nà y vì vậy mà đáng chê. Với những điều có thể thủ chứng, mà đệ tử trung và hạ lại từ bỏ phương tiện, những đệ tử nà y vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, mà đệ tử trung và hạ không thích đời sống viỠn ly, thì những đệ tử ấy có ba điều đáng chê nà y.

“Nà y chư Hiền, nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly và đệ tử trưởng thượng của vị ấy cũng thích đời sống viỠn ly, thì đệ tử trưởng thượng nà y có ba điều đáng tán thưởng.

“Những gì là ba? Tôn sư thích an trú viỠn ly, đệ tử trưởng thượng cũng học theo hạnh viỠn ly. Vị đệ tử nà y vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ và đệ tử trưởng thượng đoạn trừ những pháp ấy. Vị đệ tử trưởng thượng nà y vì vậy đáng tán thưởng. Với những điều có thể thủ chứng thì đệ tử trưởng thượng tinh tấn cầu học, không bỏ phương tiện. Vị đệ tử nà y vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu bậc Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly và đệ tử trưởng thượng cũng thích đời sống viỠn ly thì những đệ tử ấy có ba điều đáng tán thưởng nà y.

“Nà y chư Hiền, nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly, đệ tử trung và hạ cũng thích đời sống viỠn ly, thì những đệ tử ấy có ba điều đáng tán thưởng.

“Những gì là ba? Tôn sư thích an trú viỠn ly, đệ tử trung và hạ cũng thích đời sống viỠn ly. Những đệ tử nà y vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ thì đệ tử trung và hạ đoạn trừ những pháp ấy. Những đệ tử nà y vì vậy đáng được tán thưởng. Với những điều có thể thủ chứng thì đệ tử trung và hạ tinh tấn, cầu học, không bỏ phương tiện. Những đệ tử nà y vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu bậc Tôn sư có pháp luật, thích an trú viỠn ly và đệ tử trung và hạ cũng thích đời sống viỠn ly thì những đệ tử ấy có ba điều đáng tán thưởng nà y”.

Tôn giả Xá-lê Tử lại nói với các Tỳ-kheo:

“Nà y chư Hiền, có con đường giữa, nhờ đó có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bà n.

“Nà y chư Hiền, thế nà o là có một con đường giữa, có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và chứng đắc Niết-bà n?

“Nà y chư Hiền, niệm tham dục là ác pháp, ghét bỏ niệm tham dục cũng là ác pháp[11]. Người ấy đoạn trừ niệm tham dục và cũng đoạn trừ sự ghét bỏ niệm tham dục. Cũng vậy, sân nhuế, oán kết, bỏn sẻn, ganh tị, dối trá, vô tà m, vô quý, mạn, tối thượng mạn, cống cao, phóng dật, hà o quý, tăng tránh[12].

“Nà y chư Hiền, tham cũng là pháp ác mà đắm trước cũng là pháp ác. Người ấy đoạn trừ tham và cũng đoạn trừ đắm trước.

“Nà y chư Hiền, đó là có một con đường giữa, có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bà n.

“Nà y chư Hiền, lại có một con đường giữa khác có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bà n. Chư Hiền, thế nà o là có một con đường giữa khác có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bà n? Chư Hiền, đó là Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định, ấy là tám. Chư Hiền, đó là một con đường giữa khác có thể được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và chứng đắc Niết-bà n”.

Bấy giờ Đức Thế Tôn đã qua cơn đau và được an ổn, từ chỗ nằm trở dậy, ngồi kiết già , Ngà i tán thán Tôn giả Xá-lê Tử:

“Là nh thay! Là nh thay! Xá-lê Tử nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe. Xá-lê Tử, từ nay về sau, thầy hãy nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe nữa. Xá-lê Tử, thầy nên luôn luôn nói pháp như pháp[13] cho các Tỳ-kheo nghe”.

Rồi Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Các ngươi phải cùng nhau vâng lãnh pháp như pháp, hãy tụng tập, chấp trì. Vì sao? Vì pháp như pháp nà y có pháp, có nghĩa, là căn bản phạm hạnh, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bà n. Các thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình sống không gia đình, xuất gia học đạo thì phải khéo léo thọ trì pháp như pháp nà y”.

Phật thuyết như vậy. Tôn giả Xá-lê Tử và các Tỳ-kheo nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli M.3 Dhammadāyāda-suttam.
[02] Bản Pāli: Phật tại Sāvatthi.
[03] NgÅ© Sa-la 五 娑 ç¾ . Pāli: Pañcasāla.
[04] Lệ-việt tức Revata mà chỗ khác cũng bản Hán nà y, âm là Li-việt-đa. Xem chú thích Kinh số 184.
[05] Hà nh cầu pháp 行 求 法 (...). Pāli: Dhammadāyādā me bhavatha mà āmisadayādā hãy là những kẻ thừa tự Pháp của Ta, chớ đừng là kẻ thừa tự tà i vật.
[06] Bất khả Phật ý 不 可 佛 意.
[07] Bản Pāli: Thế Tôn dạy: Hãy là kẻ thừa tự Pháp...
[08] Xem cht.11, Kinh 83.
[09] Xem cht.12, Kinh 83.
[10] Xả phương tiện, nên hiểu là từ bỏ sự nỗ lực.
[11] Niệm dục ác, ố niệm dục diệc ác 念 欲 惡, 惡 念 欲 亦 惡, ở đây muốn nói trung đạo vượt qua hai tâm niệm đó. Pāli có hơi khác: lobho ca pāpako doso ca pāpako, lobhassa ca pahānāya dossa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā, tham là ác, sân là ác; có con đường giữa để đoạn trừ tham và sân.
[12] Hà o quý 豪 貴 và tăng tránh 憎 諍; có lẽ Pāli: thambo (ngạo mạn) và sārambho (nóng nảy, hay gây gổ). Liệt kê các tính xấu, theo bản Pāli: kodho (phẫn nộ), upanāho (oán hận), makkho (đạo đức giả), palāso (ác ý), issā (bủn xỉn), maccheram (keo kiệt), māyā (dối trá), sāṭheyyam (giảo hoạt), thambho (ngạo mạn), sārambho (hay gây sự), māno (mạn), atimāno (tự cao), mado (nghiện ngập), pamādo (phóng túng).
[13] Pháp như pháp, được hiểu là pháp và tùy pháp (Pāli: dhammānudhamma).

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]