Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
11. Kinh Diệm Dụ
12. Kinh Hòa-Phá
13. Kinh Độ
14. Kinh La-Vân
15. Kinh Tư
16. Kinh Già -Lam
17. Kinh Già -Di-Ni
18. Kinh Sư Tử
19. Kinh Ni-Kiền
20. Kinh Ba-La-Lao
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

2. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG

14. KINH LA-VÂN[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại thà nh Vương xá, trong rừng Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa[02].

Bấy giờ Tôn giả La-vân[03] cũng ở tại thà nh Vương xá, trong rừng Ôn tuyền[04]. Lúc đó, Đức Thế Tôn sau khi đêm đã qua, và o buổi sáng sớm, khoác y, cầm bát, đi và o thà nh Vương xá để khất thực. Khất thực xong, Ngà i đi đến rừng Ôn tuyền, trú xứ của Tôn giả La-vân. Tôn giả La-vân từ đà ng xa thấy Đức Thế Tôn đến, lập tức đến rước, cầm y bát của Phật, trải tọa cụ và múc nước rửa chân. Đức Phật rửa chân xong, ngồi trên chỗ ngồi của La-vân.

Khi đó Đức Thế Tôn liền lấy chậu nước đổ đi, chỉ lưu lại một ít, rồi hỏi:

“La-vân, ngươi nay có thấy Ta cầm chậu nước nà y đổ đi, chỉ lưu lại một ít không?”

La-vân đáp:

“Bạch Thế Tôn, con có thấy”.

Phật bảo:

“Ta nói đạo của người kia cũng ít như vậy, nghĩa là đã biết rồi còn nói dối mà không xấu hổ, không ăn năn, không tà m không quý. Nà y La-vân, người kia cũng không có điều ác nà o là không là m. Do đó, nà y La-vân nên học như thế nà y, không đùa giỡn và nói dối”.

Đức Thế Tôn lại lấy cái chậu còn lại một ít nước đổ hết ra rồi hỏi rằng:

“Nà y La-vân, ngươi lại có thấy Ta cầm cái chậu còn một ít nước ấy đổ ra hết không?”

La-vân trả lời rằng:

“Con có thấy, bạch Thế Tôn”.

Phật bảo rằng:

“Nà y La-vân, Ta nói rằng đạo của người kia cũng mất hết như vậy. Nghĩa là đã biết rồi còn nói dối, mà không xấu hổ, không ăn năn, không tà m, không quý. Nà y La-vân, người ấy cũng không có việc ác nà o mà không là m. Do đấy, nà y La-vân nên học như thế nà y: Không được đùa giỡn và nói dối”.

Đức Thế Tôn lại cầm chậu trống không ấy úp xuống đất rồi hỏi rằng:

“Nà y La-vân, ngươi lại có thấy Ta cầm chậu không nà y úp xuống đất không?”

La-vân trả lời:

“Con có thấy, bạch Thế Tôn”.

Phật bảo rằng:

“Nà y La-vân, Ta nói rằng đạo của người kia cũng bị lật úp như vậy, nghĩa là đã biết rồi còn nói dối mà không biết xấu hổ, không ăn năn, không tà m, không quý. Nà y La-vân, người ấy cũng không có việc ác nà o mà không là m. Do đó, nà y La-vân nên học như thế nà y, không được đùa giỡn và nói dối”.

Đức Thế Tôn lại cầm chậu úp lật ngửa lên rồi hỏi rằng:

“Nà y La-vân, ngươi có thấy Ta cầm cái chậu úp nà y giở ngửa lên không?”

 La-vân trả lời rằng:

“Con có thấy, bạch Thế Tôn!”

Đức Phật bảo La-vân rằng:

“Ta nói rằng đạo của người kia bị lật ngửa, cũng lại như vậy. Nghĩa là đã biết rồi còn nói dối mà vẫn không xấu hổ, không ăn năn, không tà m, không quý. Nà y La-vân, người ấy cũng không có việc ác nà o mà không là m. Do đó nà y La-vân, nên học như thế nà y: Không được đùa giỡn và nói dối.

“Nà y La-vân, cũng như nhà vua có thớt voi lớn, khi xông và o trận chiến đấu thì dùng chân trước, chân sau, đuôi, bộ chân, xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà , tất cả đều dùng, chỉ giữ gìn chiếc vòi. Tượng sư thấy vậy, rồi suy nghĩ như thế nà y: ‘Thớt voi lớn nà y của nhà vua vẫn còn tiếc mạng sống. Vì sao thế? Vì thớt voi lớn của nhà vua nà y khi xông và o trận giặc chiến đấu, thì dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà , tất cả đều dùng, chỉ gìn giữ chiếc vòi’. Nà y La-vân, nếu thớt voi lớn của nhà vua khi xông và o trận giặc chiến đấu dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán, tai, vòi đều dùng tất cả. Tượng sự thấy vậy rồi liền suy nghĩ như thế nà y: ‘Thớt voi lớn của nhà vua nà y không còn tiếc mạng sống nữa. Vì sao thế? Thớt voi lớn của nhà vua nà y khi xông và o trận giặc chiến đấu, dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, hông, đầu, ngà , vòi, tất cả đều đem dùng’. Nà y La-vân, nếu thớt voi lớn khi xông và o trận giặc chiến đấu mà dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, ngà , vòi, tất cả đều đem dùng. Nà y La-vân, Ta nói thớt voi lớn của nhà vua khi xông và o trận giặc, chiến đấu, không có việc dữ nà o mà không là m, không ăn năn, không tà m, không quý. Nà y La-vân, Ta nói rằng: Người kia cũng không có việc ác nà o mà không là m. Do đó, nà y La-vân, nên học như thế nà y: Không được đùa giỡn và nói dối”.

Rồi thì Đức Thế Tôn nói bà i tụng rằng:

Kẻ nà o phạm một pháp,
Pháp đó là nói dối:
Nó không sợ đời sau;
Không chừa sự dữ nà o.
Thà nuốt viên sắt cháy,
Nó nóng như lửa đỏ;
Chứ không nên phạm giới
Mà nhận đời cúng thí.
Nếu biết sợ khổ sở,
Không thích nghĩ tưởng đến;
Chỗ sáng, hay kín đáo
Chớ tạo tác nghiệp ác.
Nếu tạo nghiệp bất thiện,
Đã là m, nay đang là m,
Trọn không giải thoát được
Cũng không có chỗ tránh.

Đức Phật nói bà i tụng rồi, lại hỏi rằng:

“Nà y La-vân, ngươi nghĩ thế nà o, người ta dùng gương để là m gì?”

La-vân trả lời rằng:

“Bạch Thế Tôn, để nhìn xem khuôn mặt sạch hay không sạch”.

“Cũng vậy, nà y La-vân, nếu ngươi sắp hà nh động với thân nghiệp thì hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta sắp là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình mà là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Ta sắp là m thân nghiệp, vì mình mà là m hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện, nó sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên bỏ thân nghiệp bất thiện sắp được là m ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta sắp là m thân nghiệp, vì mình mà là m hay vì người khác. Đó là thân nghiệp thiện, nó sẽ đưa đến lạc quả và sẽ thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi hãy thực hiện thân nghiệp sẽ là m ấy.

“Nà y La-vân, ngươi hiện đang hà nh động với thân nghiệp, hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đang là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đang là m thân nghiệp; thân nghiệp nà y tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên bỏ thân nghiệp đang là m ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Ta đang là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi hãy nên thực hiện thân nghiệp đang là m ấy.

“Nà y La-vân, nếu ngươi đã hà nh động với thân nghiệp, hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đã là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, đã diệt tận, đã biến dịch. Nó là tịnh hay bất tịnh? Vì mình hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đã là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi hãy đến nơi người phạm hạnh, thiện tri thức, chí tâm phát lộ thân nghiệp đã tạo ra, xin ăn năn lỗi lầm, cẩn thận không giấu giếm, rồi phải khéo léo giữ gìn.

“Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà rằng: ‘Ta đã là m thân nghiệp. Thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi nên ngà y đêm vui mừng, an trụ chánh niệm, chánh trí.

“Với khẩu nghiệp cũng lại như vậy.

“Nà y La-vân, nếu nhân việc là m trong quá khứ nên đã sanh ý nghiệp, hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc là m trong quá khứ đã sanh ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, là vì mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán như vậy, mà biết nhân việc là m trong quá khứ mà sanh ra ý nghiệp; ý nghiệp đã quá khứ, diệt tận, biến dịch. Ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, tự mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo. Nà y La-vân, ngươi nên bỏ ý nghiệp trong quá khứ ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán như vậy, mà rằng nhân việc là m trong quá khứ mà đã sanh ra ý nghiệp; ý nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Nà y La-vân, ngươi đến thọ nhận ý nghiệp quá khứ ấy.

“Nà y La-vân, nhân việc là m trong vị lai nên sẽ sanh khởi ý nghiệp, hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc là m trong vị lai sẽ sanh ý nghiệp; ý nghiệp ấy là tịnh hay bất tịnh, tự mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán như vậy, mà biết rằng ‘Nhân việc là m trong vị lai mà sẽ sinh ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong vị lai đó đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, liền biết rằng: ‘Nhân việc là m trong vị lai mà sanh ý nghiệp; ý nghiệp đó tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Nà y La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp trong vị lai ấy.

“Nà y La-vân, cũng như nhà vua có thớt voi lớn, khi xông và o trận chiến đấu thì dùng chân trước, chân sau, đuôi, bộ chân, xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà , tất cả đều dùng, chỉ giữ gìn chiếc vòi. Tượng sư thấy vậy, rồi suy nghĩ như thế nà y: ‘Thớt voi lớn nà y của nhà vua vẫn còn tiếc mạng sống. Vì sao thế? Vì thớt voi lớn của nhà vua nà y khi xông và o trận giặc chiến đấu, thì dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà , tất cả đều dùng, chỉ gìn giữ chiếc vòi’. Nà y La-vân, nếu thớt voi lớn của nhà vua khi xông và o trận giặc chiến đấu dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán, tai, vòi đều dùng tất cả. Tượng sự thấy vậy rồi liền suy nghĩ như thế nà y: ‘Thớt voi lớn của nhà vua nà y không còn tiếc mạng sống nữa. Vì sao thế? Thớt voi lớn của nhà vua nà y khi xông và o trận giặc chiến đấu, dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, hông, đầu, ngà , vòi, tất cả đều đem dùng’. Nà y La-vân, nếu thớt voi lớn khi xông và o trận giặc chiến đấu mà dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, ngà , vòi, tất cả đều đem dùng. Nà y La-vân, Ta nói thớt voi lớn của nhà vua khi xông và o trận giặc, chiến đấu, không có việc dữ nà o mà không là m, không ăn năn, không tà m, không quý. Nà y La-vân, Ta nói rằng: Người kia cũng không có việc ác nà o mà không là m. Do đó, nà y La-vân, nên học như thế nà y: Không được đùa giỡn và nói dối”.

Rồi thì Đức Thế Tôn nói bà i tụng rằng:

Kẻ nà o phạm một pháp,

Pháp đó là nói dối:

Nó không sợ đời sau;

Không chừa sự dữ nà o.

Thà nuốt viên sắt cháy,

Nó nóng như lửa đỏ;

Chứ không nên phạm giới

Mà nhận đời cúng thí.

Nếu biết sợ khổ sở,

Không thích nghĩ tưởng đến;

Chỗ sáng, hay kín đáo

Chớ tạo tác nghiệp ác.

Nếu tạo nghiệp bất thiện,

Đã là m, nay đang là m,

Trọn không giải thoát được

Cũng không có chỗ tránh.

Đức Phật nói bà i tụng rồi, lại hỏi rằng:

“Nà y La-vân, ngươi nghĩ thế nà o, người ta dùng gương để là m gì?”

La-vân trả lời rằng:

“Bạch Thế Tôn, để nhìn xem khuôn mặt sạch hay không sạch”.

“Cũng vậy, nà y La-vân, nếu ngươi sắp hà nh động với thân nghiệp thì hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta sắp là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình mà là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Ta sắp là m thân nghiệp, vì mình mà là m hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện, nó sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên bỏ thân nghiệp bất thiện sắp được là m ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta sắp là m thân nghiệp, vì mình mà là m hay vì người khác. Đó là thân nghiệp thiện, nó sẽ đưa đến lạc quả và sẽ thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi hãy thực hiện thân nghiệp sẽ là m ấy.

“Nà y La-vân, ngươi hiện đang hà nh động với thân nghiệp, hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đang là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đang là m thân nghiệp; thân nghiệp nà y tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên bỏ thân nghiệp đang là m ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Ta đang là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi hãy nên thực hiện thân nghiệp đang là m ấy.

“Nà y La-vân, nếu ngươi đã hà nh động với thân nghiệp, hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đã là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, đã diệt tận, đã biến dịch. Nó là tịnh hay bất tịnh? Vì mình hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đã là m thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi hãy đến nơi người phạm hạnh, thiện tri thức, chí tâm phát lộ thân nghiệp đã tạo ra, xin ăn năn lỗi lầm, cẩn thận không giấu giếm, rồi phải khéo léo giữ gìn.

“Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà rằng: ‘Ta đã là m thân nghiệp. Thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi nên ngà y đêm vui mừng, an trụ chánh niệm, chánh trí.

“Với khẩu nghiệp cũng lại như vậy.

“Nà y La-vân, nếu nhân việc là m trong quá khứ nên đã sanh ý nghiệp, hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc là m trong quá khứ đã sanh ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, là vì mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán như vậy, mà biết nhân việc là m trong quá khứ mà sanh ra ý nghiệp; ý nghiệp đã quá khứ, diệt tận, biến dịch. Ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, tự mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo. Nà y La-vân, ngươi nên bỏ ý nghiệp trong quá khứ ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán như vậy, mà rằng nhân việc là m trong quá khứ mà đã sanh ra ý nghiệp; ý nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Nà y La-vân, ngươi đến thọ nhận ý nghiệp quá khứ ấy.

“Nà y La-vân, nhân việc là m trong vị lai nên sẽ sanh khởi ý nghiệp, hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc là m trong vị lai sẽ sanh ý nghiệp; ý nghiệp ấy là tịnh hay bất tịnh, tự mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán như vậy, mà biết rằng ‘Nhân việc là m trong vị lai mà sẽ sinh ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong vị lai đó đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, liền biết rằng: ‘Nhân việc là m trong vị lai mà sanh ý nghiệp; ý nghiệp đó tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Nà y La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp trong vị lai ấy.

“Nà y La-vân, nhân việc là m trong hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp, hãy nên quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc đang là m trong hiện tại nên sanh khởi ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác?’ Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Nhân việc đang là m trong hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nếu nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến khổ quả và sẽ thọ lấy khổ báo’. Nà y La-vân, ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong hiện tại ấy đi. Nà y La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Nhân có việc đang là m trong hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình là m hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Nà y La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp hiện tại ấy.

“Nà y La-vân, nếu trong quá khứ đã có những vị Sa-môn, Phạm chí tạo nghiệp thân, khẩu, ý; đã quán sát rồi, lại quán sát nữa; đã thanh tịnh, lại thanh tịnh nữa. Tất cả những vị ấy, ngay nơi nghiệp thân, khẩu, ý của mình, quán rồi lại quán nữa, đã tịnh rồi lại tịnh hơn nữa.

Nà y La-vân, nếu trong vị lai sẽ có những vị Sa-môn, Phạm chí tạo nghiệp thân, khẩu, ý, sẽ quán rồi lại quán nữa, sẽ thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn. Tất cả những vị ấy ngay nơi thân nghiệp, khẩu, ý nghiệp của mình, quán rồi lại quán nữa, sẽ thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn.

“Nà y La-vân, nếu trong hiện tại có những Sa-môn, Phạm chí tạo nghiệp thân, khẩu, ý; đang quán rồi lại quán nữa, đang thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn. Tất cả những vị ấy ngay nơi nghiệp thân, khẩu, ý của mình, đang quán rồi lại quán nữa, đang thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn.

“Nà y La-vân, ngươi nên học như thế. Chính Ta cũng ngay nơi nghiệp thân, khẩu, ý của Ta, đang quán rồi lại sẽ quán, đang thanh tịnh rồi lại thanh tịnh hơn”.

Rồi thì, Đức Thế Tôn lại nói bà i tụng rằng:

Thân nghiệp và khẩu nghiệp,
Ý nghiệp, nà y La-vân!
Pháp thiện hay bất thiện;
Ngươi hãy thường quán sát.
Đã biết còn nói dối,
Nà y La-vân đừng nói.
Tai hại do nói dối,
Sao lại dám nói dối?
Pháp Sa-môn bị úp,
Trống không, không chơn thật;
Đó chính là nói dối,
Không giữ gìn miệng mình.
Cho nên không nói dối,
Là con bậc Chánh giác.
Đó là pháp Sa-môn,
La-vân hãy nên học.
Nơi nơi vui sung túc,
An ổn, không sợ hãi,
La-vân muốn đến đó,
Đừng là m hại người khác.

Phật thuyết như vậy. Tôn giả La-vân và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: M.61. Ambataá¹­á¹­hikā-Rāhulovādasuttaṃ.
[02] Vương xá thà nh Trúc lâm Ca-lan-đa viên 王 舍 城 竹 林 迦 蘭 哆 圓. Pāli: Rājagahe... Veluvāne Kalandakanivāpe.
[03] Tôn giả La-vân 尊 è€ ç¾ äº‘, tức La-hầu-la ç¾ çº ç¾ . Pāli: Āyasmant Rahula.
[04] Ã”n tuyền lâm 溫 泉 林. Pāli: Tapodārāma, tinh xá Ôn tuyền hay Suối nước nóng, ở phụ cận thà nh Vương xá. Bản Pāli, bấy giờ Rahula ở rừng Ambalaá¹­á¹­hikā.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]