Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
11. Kinh Diệm Dụ
12. Kinh Hòa-Phá
13. Kinh Độ
14. Kinh La-Vân
15. Kinh Tư
16. Kinh Già -Lam
17. Kinh Già -Di-Ni
18. Kinh Sư Tử
19. Kinh Ni-Kiền
20. Kinh Ba-La-Lao
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

2. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG

20. KINH BA-LA-LAO[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa ở Câu-lệ-sấu[02], cùng với chúng Đại Tỳ-kheo, đi đến Bắc thôn[03], trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa[04].

Bấy giờ Ba-la-lao Già -di-ni[05] nghe rằng: “Sa-môn Cù-đà m thuộc dòng họ Thích, đã từ bỏ dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang du hóa tại Câu-lệ-sấu cùng chúng Đại Tỳ-kheo đi đến Bắc thôn, trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa. Vị Sa-môn Cù-đà m ấy có tiếng tăm lớn, truyền khắp mười phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đà m là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế gian nà y giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loà i người cho đến loà i trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện, khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ’. Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, để tôn trọng, lỠbái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được nhiều thiện lợi”. Người kia suy nghĩ rằng: “Ta nên đến yết kiến Sa-môn Cù-đà m để lỠbái, cúng dường”.

Ba-la-lao Già -di-ni nghe vậy rồi, ra khỏi Bắc thôn, đi về hướng Bắc, đến rừng Thi-nhiếp-hòa, muốn yết kiết Thế Tôn để lỠbái cúng dường. Ba-la-lao Già -di-ni từ xa trông thấy Thế Tôn ở trong rừng cây, đoan nghiêm đẹp đẽ, như mặt trăng giữa đám tinh tú sáng ngời chói lọi, rực rỡ như tòa núi và ng, đầy đủ tướng hảo, uy thần vời vợi, các căn tịch tịnh, không gì ngăn che, thà nh tựu sự điều ngự, tâm yên tĩnh lặng. Ba-la-lao Già -di-ni từ xa trông thấy Đức Thế Tôn rồi, đến trước chỗ Thế Tôn, cùng chà o hỏi rồi ngồi xuống một phía, thưa với Thế Tôn rằng:

“Tôi nghe Sa-môn Cù-đà m biết huyỠn thuật, là nhà huyỠn thuật[06]. Thưa Cù-đà m, nếu ai nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đà m biết huyỠn thuật, là nhà huyỠn thuật’, người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đà m chăng? Người ấy có nói đúng sự thật không? Người ấy nói có đúng pháp chăng? Người ấy nói đúng pháp và như pháp[07] chăng? Đối với như pháp, không có sai lầm và không bị chỉ trích chăng?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Già -di-ni, nếu có ai nói như vầy, ‘Sa-môn Cù-đà m biết huyỠn thuật, là nhà huyỠn thuật’, thì người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đà m, người ấy nói chân thật, ngươi ấy nói đúng pháp, người ấy nói pháp như pháp, đối với pháp không có lỗi lầm, không bị chỉ trích. Vì sao thế? Nà y Già -di-ni, Ta biết huyỠn thuật ấy, nhưng chính Ta không phải là nhà huyỠn thuật”.

Già -di-ni nói rằng:

“Những điều các Sa-môn, Phạm chí kia nói là chân thật, nhưng tôi không tin họ nói rằng ‘Sa-môn Cù-đà m biết huyỠn thuật và là nhà huyỠn thuật”.

Thế Tôn nói:

“Nà y Già -di-ni, nếu người nà o biết huyỠn thuật thì người đó là nhà huyỠn thuật chăng?”

Già -di-ni thưa rằng:

“Quả thật vậy, Thế Tôn. Quả thật vậy, Thiện Thệ”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y Già -di-ni, ông đừng tự lầm lẫn mà hủy báng Ta. Nếu hủy báng Ta thì chỉ tự gây tổn hại, có sự não hại, có xúc phạm, điều mà Hiền Thánh ghét bỏ, và bị tội lớn. Vì sao thế? Nà y Già -di-ni, điều ấy thật ra không đúng như lời ông nói. Nà y Già -di-ni, ông có nghe Câu-lệ-sấu có binh tốt[08] chăng?

Già -di-ni đáp rằng:

“Tôi nghe rằng có”.

“Nà y Già -di-ni, ông nghĩ thế nà o, Câu-lệ-sấu có binh tốt ấy để là m gì?”

Già -di-ni đáp:

“Thưa Cù-đà m, để là m thông sứ và giết giặc cướp. Vì việc đó nên Câu-lệ-sấu nuôi các binh tốt ấy”.

“Nà y Già -di-ni, ông nghĩ thế nà o, binh tốt Câu-lệ-sấu có giữ giới cấm hay không giữ giới cấm?”

Già -di-ni đáp:

“Thưa Cù-đà m, nếu trên thế gian nà y có những người không giữ giới cấm, vẫn không thể quá hơn binh tốt Câu-lệ-sấu. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều giới cấm, chỉ là m các ác pháp”.

Lại hỏi:

“Ông thấy như vậy, biết như vậy, ta không hỏi ông. Nếu có người khác hỏi ông, ‘Vì Già -di-ni biết rằng binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều những giới cấm, chỉ là m những ác pháp; nhân việc đó nên Già -di-ni cũng phạm rất nhiều cấm giới, chỉ là m các ác pháp’. Nên nói như vậy, là lời nói đúng sự thật chăng?”

Già -di-ni đáp:

“Không phải vậy, thưa Cù-đà m. Vì sao thế? Vì binh tốt Câu-lệ-sấu có tri kiến khác, có sở nguyện khác, nên binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới, chỉ là m các ác pháp. Còn tôi thì rất trì giới, không là m các ác pháp”.

Lại hỏi:

“Già -di-ni, ông biết binh tốt Câu-lệ-sấu phạm rất nhiều cấm giới, chỉ là m các ác pháp, nhưng ông không do đó mà phạm cấm giới, chỉ là m các ác pháp. Vậy thì vì sao không thể rằng Như Lai biết huyỠn thuật, trong khi chính mình không phải là nhà huyỠn thuật. Vì sao thế? Ta biết huyỠn thuật, biết người huyỠn thuật, biết quả báo của huyỠn thuật, biết đoạn trừ huyỠn thuật.

“Nà y Già -di-ni, Ta cũng biết sát sanh, biết người sát sanh, biết sự đoạn trừ sát sanh. Nà y Già -di-ni, Ta biết việc lấy của không cho, biết người lấy của không cho, biết quả báo việc lấy của không cho, biết sự đoạn trừ việc lấy của không cho. Nà y Già -di-ni, Ta biết việc nói dối, biết người nói dối, biết quả báo việc nói dối, biết đoạn trừ sự nói dối. Nà y Già -di-ni, Ta biết như vậy, thấy như vậy. Ai nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đà m biết huyỠn thuật tức là nhà huyỠn thuật’, nếu người ấy chưa đoạn trừ lời nói nà y, mà nghe tâm ấy, dục ấy, nguyện ấy, văn ấy, niệm ấy, quán ấy, thì trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, mạng chung sanh và o địa ngục”.

Già -di-ni nghe vậy, kinh hãi khủng khiếp, lông trên mình dựng đứng lên, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠchân Phật, quỳ mọp, chắp tay hướng về Thế Tôn mà bạch rằng:

“Cù-đà m, tôi ăn năn tội lỗi. Thiện Thệ, tôi tự thú[09]. Tôi như ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao thế? Vì tôi nói quấy rằng Sa-môn Cù-đà m là nhà huyỠn thuật. Mong Thiện Thệ cho tôi được ăn năn tội lỗi, thấy tội thì bà y tỏ. Tôi đã ăn năn tội rồi, sẽ giữ gìn không để tái phạm nữa”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Thật như vậy, Già -di-ni, ông quả thật ngu, như si, như bất định, như bất thiện. Vì sao thế? Vì ông đối với Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, mà nói quấy là nhà huyỠn thuật. Nhưng ông có thể ăn năn tội lỗi, thấy tội thì nên bà y tỏ, giữ gìn không để tái phạm nữa. Như vậy, nà y Già -di-ni, nếu có người ăn năn tội lỗi, thấy tội nên bà y tỏ, hộ trì mà không tạo lại nữa, thì trưởng dưỡng Thánh pháp, không còn có sự sai lầm nữa”.

Lúc đó Già -di-ni chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:

“Thưa Cù-đà m, có Sa-môn, Phạm chí, thấy thế nà y, nói thế nà y: ‘Nếu kẻ nà o sát sanh, kẻ ấy nhất thiết thọ báo ngay trong đời nà y; nhân đó mà sanh ra ưu khổ. Nếu kẻ nà o lấy của không cho, nói dối, kẻ ấy nhất thiết thọ báo; nhân đó mà sanh ra ưu khổ’. Thưa Sa-môn Cù-đà m, ý Ngà i nghĩ sao?”

Đức Thế Tôn bảo rằng:

Nà y Già -di-ni, nay Ta hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà trả lời. Nà y Già -di-ni, ý ông nghĩ sao? Nếu trong thôn ấp, hoặc có một người đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều loại hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người nà y trước kia là m những gì mà nay đầu đội trà ng hoa, hoặc dùng nhiều loại hương xoa và o thân rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy vì Quốc vương mà giết hại kẻ thù. Quốc vương sau khi vui vẻ liền ban thưởng cho. Do đó người ấy đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều loại hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui cười nữ sắc, hoan lạc như vua. “Nà y Già -di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già -di-ni đáp:

“Tôi có thấy như vậy, nghe như vậy, Cù-đà m. Tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Già -di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, trói quặt hai tay lại, đánh trống, xướng lệnh, kéo ra cửa thà nh phía Nam, để ngồi dưới cây nêu cao, rồi chém bêu đầu. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người nà y phạm tội gì mà bị Quốc vương giết nhỉ?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người nà y giết lầm người vô tội trong Vương gia, do đó Quốc vương ra lệnh hà nh hình như vậy’. Nà y Già -di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già -di-ni trả lời:

“Tôi có thấy như vậy, Cù-đà m, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Nà y Già -di-ni, nếu có Sa-môn, Phạm chí, thấy như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có người nà o sát sanh người ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong hiện tại nà y; nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì đó là lời nói chân thật hay lời nói hư dối?”

Già -di-ni đáp:

“Đó là lời nói hư dối, thưa Cù-đà m”.

“Nếu người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”

Già -di-ni đáp:

“Tôi không tin, thưa Cù-đà m”.

Đức Thế Tôn khen rằng:

“Là nh thay, Già -di-ni, Ta lại hỏi ông, ông nghĩ thế nà o? Nếu trong thôn ấp, hoặc có người đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích, vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người nà y trước kia đã là m những việc gì mà nay đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng, “Người ấy ở nước khác, vì lấy của không cho, do đó người ấy đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Nà y Già -di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già -di-ni thưa:

“Tôi có thấy như vậy, thưa Cù-đà m, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Nà y Già -di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân trói quặt hai tay ra sau, đánh trống, xướng lệnh kéo ra cửa phía Nam, để ngồi dưới gốc cây nêu cao rồi chém bêu đầu. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người nà y mắc tội gì mà bị Quốc vương giết chết?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy lấy của không cho trong Vương gia, do đó Quốc vương ra lệnh hà nh hình như vậy’. Nà y Già -di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già -di-ni trả lời rằng:

“Tôi có thấy như vậy, Cù-đà m, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Nà y Già -di-ni, nếu có Sa-môn, Phạm chí thấy và nói như vậy: ‘Nếu có kẻ nà o lấy của không cho, kẻ ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện tại nà y, nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì lời nói đó chân thật hay lời nói hư dối?”

Già -di-ni đáp:

“Đó là lời nói hư dối, thưa Cù-đà m”.

“Nếu người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”

Già -di-ni đáp:

“Tôi không tin, thưa Cù-đà m!”

Đức Thế Tôn khen rằng.

“Là nh thay! Là nh thay! Già -di-ni!”

Lại hỏi Già -di-ni:

“Già -di-ni, ông nghĩ thế nà o, nếu trong thôn ấp hoặc có người đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua. Nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy trước kia là m những việc gì mà nay đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy ca múa để vui giỡn, cười đùa. Người ấy bằng lời nói dối là m cho Quốc vương vui vẻ. Sau khi Quốc vương vui vẻ liền ban thưởng cho, do đó người ấy đầu đội trà ng hoa, dùng nhiều thứ hương xoa và o thân, rồi xướng nhạc, ca vũ, tự mình thỏa thích vui chơi nữ sắc, hoan lạc như vua’. Nà y Già -di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy chăng?”

Già -di-ni trả lời rằng:

“Tôi có thấy như vậy, Cù-đà m, tôi đã nghe và sẽ được nghe nữa”.

“Nà y Già -di-ni, rồi lại thấy Quốc vương bắt bớ tội nhân, dùng gậy đánh đến chết, rồi bỏ và o củi cây, chở trên xe trống đi ra cửa thà nh phía Bắc, vất và o trong rãnh nước, nếu có người hỏi rằng: ‘Người ấy mắc tội gì mà bị quốc vương giết chết đi?’ Hoặc có người trả lời rằng: ‘Người ấy ở trước Quốc vương nói dối là có chứng đắc, người ấy do lừa gạt Quốc vương bằng lời nói dối nên bị Quốc vương ra lệnh bắt là m như thế’. Nà y Già -di-ni, ông có thấy như vậy, nghe như vậy không?”

Già -di-ni trả lời rằng:

“Tôi có thấy vậy, Cù-đà m, tôi đã nghe và sẽ nghe nữa”.

“Nà y Già -di-ni, ông nghĩ thế nà o, nếu có Sa-môn, Phạm chí thấy như vậy, nói như vậy: ‘Nếu có người nà o nói dối, người ấy nhất thiết phải thọ báo ngay trong đời hiện tại nà y, nhân đó mà sanh ra ưu khổ’, thì lời nói đó là lời nói chân thật hay hư dối?”

Già -di-ni đáp:

“Đó là lời nói hư dối, thưa Cù-đà m”.

“Nếu người ấy nói hư vọng, ông có tin chăng?”

Già -di-ni đáp:

“Tôi không tin, thưa Cù-đà m”.

Đức Thế Tôn khen rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! Già -di-ni!”

Lúc đó, Già -di-ni liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo chắp tay hướng về Thế Tôn mà thưa rằng:

“Kỳ diệu thay, những điều Cù-đà m nói rất vi diệu, khéo ví dụ, khéo dẫn chứng. Bạch Cù-đà m, tôi ở trong Bắc thôn có xây dựng một ngôi nhà cao lớn, sắp đặt giường nệm, để sẵn đồ chứa nước thắp sáng những ngọn đèn lớn. Nếu có vị Sa-môn, Phạm chí tinh tấn nà o đến nghỉ ở ngôi nhà cao lớn ấy, tôi sẽ tùy khả năng mà cung cấp những gì vị ấy cần thiết. Có bốn vị luận sĩ mà sở kiến khác nhau, cùng đến tập hợp tại ngôi nhà cao lớn ấy. Trong đó có một vị luận sĩ thấy như vầy, nói như vầy[10]: ‘Không có bố thí, không có trai tếâ, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện, nghiệp ác, không có nghiệp báo thiện ác, không có đời nà y đời sau, không có cha, không có mẹ, trên đời không có bậc chân nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng[11], tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời nà y và đời khác[12], thà nh tựu và an trụ’.

“Vị luận sư thứ hai lại có sở kiến trái ngược với sở kiến của vị luận sư thứ nhất. Vị ấy cũng thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có bố thí, có trai tế, có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời nà y đời sau, có cha có mẹ có bậc chân nhân trên đời nà y đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời nà y và đời khác, thà nh tựu và an trụ’.

“Vị luận sư thứ ba[13] thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình là m và sai bảo người khác là m, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu[14], phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đà o vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp[15], phá là ng hại xóm, phá thà nh, diệt nước; là m như thế không phải là là m ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đời nà y, trong vòng một ngà y mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước; không do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi hà nh, không do đó mà có phước, không do đó mà có quả báo của phước’.

Luận sĩ thứ tư lại có sở kiến trái ngược sở kiến vị luận chủ thứ ba. Vị ấy thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tự mình là m và sai bảo người khác là m, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đà o vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá là ng hại xóm, phá thà nh, diệt nước; là m như thế chính là là m ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất nà y, trong vòng một ngà y mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó có tội có phước; do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ, lợi hà nh, do đó mà có quả báo tội phước.

“Thưa Cù-đà m, tôi nghe như vậy liền sanh nghi hoặc: ‘Những vị Sa-môn, Phạm chí đó, ai nói chân thật, ai nói hư dối?’.”

Đức Thế Tôn trả lời:

“Nà y Già -di-ni, ông chớ sanh nghi hoặc. Vì sao thế? Vì do có nghi hoặc mà sanh ra do dự. Nà y Già -di-ni, ông tự mình không có tịnh trí, để biết là có đời sau hay không có đời sau. Nà y Già -di-ni, ông lại cũng không có tịnh trí để biết điều được là m là ác hay điều được là m là thiện? Nà y Già -di-ni, có một pháp định[16] được gọi là “ViỠn ly”. Ông nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại ông sẽ đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn[17]“.

Lúc đó Già -di-ni từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:

“Thưa Cù-đà m, thế nà o là có một pháp định được gọi là “ViỠn ly”. Tôi nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại tôi có thể đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn[18]?”

Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngà y cà y ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và và o nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Nà y Già -di-ni, sau khi Thánh đệ tử Đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với từ, biến khắp một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết không oán, không sân, không nhuế, không não hại, quảng đại vô biên, vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ.

“Vị ấy suy nghĩ như vầy: “Nếu có Sa-môn, Phạm chí nà o thấy như vầy, nói như vầy: ‘Không có sự bố thí, không có trai tế, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác, không có nghiệp báo thiện ác, không có đời nà y đời sau, không có cha, không có mẹ trên đời, không có bậc thiện nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời nà y và đời khác, thà nh tựu và an trụ’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi[19], thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viỠn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Nà y Già -di-ni, đó là pháp định, được gọi là viỠn ly. Ông có thể nhân định nà y mà được chánh niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến.

“Lại nữa Già -di-ni: Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngà y cà y ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và và o nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Nà y Già -di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với bi, biến khắp một phương thà nh tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với bi, không kết, không oán không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ.

“Vị ấy suy nghĩ như vậy: “Nếu có Sa-môn, Phạm chí nà o thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có sự bố thí, có trai tế, có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời nà y đời sau, có cha, có mẹ trên đời, có bậc thiện nhân đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ đời nà y và đời khác, thà nh tựu và an trụ’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viỠn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Nà y Già -di-ni, đó là pháp định, được gọi là viỠn ly. Ông có thể nhân định nà y mà được chánh niệm, mà được nhất tâm; như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến.

“Lại nữa Già -di-ni, Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngà y cà y ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và và o nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Nà y Già -di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với hỷ, biến khắp một phương thà nh tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với hỷ, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ.

“Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tự mình là m và sai bảo người khác là m, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đà o vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá là ng hại xóm, phá thà nh, diệt nước; là m như thế không phải là là m ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất nà y, trong vòng một ngà y mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy vẫn không có nghiệp ác, do vậy vẫn không có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu’; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Không do đó mà có tội hay có phước; không do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ lợi hà nh, không do đó mà có phước, không do đó mà có quả báo của phước’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viỠn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Nà y Già -di-ni, đó là pháp định, được gọi là viỠn ly. Ông có thể nhân định nà y mà được chánh niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến.

“Lại nữa Già -di-ni, Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy ban ngà y cà y ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và và o nhà ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ; sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Nà y Già -di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với xả, biến khắp một phương thà nh tựu và an trụ; cũng thế hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả. Tâm câu với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, quảng đại, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ.

“Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Tự mình là m và sai bảo người khác là m, tự mình chém giết và sai bảo người khác chém giết, tự mình nấu và sai bảo người khác nấu; ưu sầu, phiền muộn, lo lắng, đấm ngực, áo não, khóc lóc, ngu si; sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu; đà o vách, mở kho, đến ngõ hẻm khác để ăn cướp, phá là ng hại xóm, phá thà nh, diệt nước; là m như thế thật sự là là m ác. Lại dùng vòng sắt bén như dao cạo, người ấy đối với tất cả chúng sanh ở trên cõi đất nà y, trong vòng một ngà y mà bửa, mà cắt, mà chém, mà chặt, mà lột da, mà lóc xẻ từng mảng thịt, lách từng phần từng khối; do vậy có nghiệp ác, do vậy có nghiệp báo ác. Ở bờ sông Hằng-già phía Nam, giết rồi cắt, rồi khiến nấu; và ở bờ sông Hằng-già phía Bắc mà bố thí, trai tế, chú thuyết. Do đó mà có tội hay có phước; do đó mà có quả báo tội phước. Cấp thí, tự chế ngự, thủ hộ, nhiếp trì, tán thán, nhiêu ích, ái ngữ, lợi hà nh; do đó mà có phước, do đó mà có quả báo của phước’. Nếu điều vị Sa-môn, Phạm chí kia nói ra là chân thật, ta không xâm phạm đời, dù sợ hãi hay không sợ hãi, thường thương mến tất cả thế gian. Tâm ta không cùng thế gian tranh cãi, cũng không có sự hân hoan thô trược. Nay ta được pháp của bậc Vô thượng, thăng tấn đến trú xứ an lạc. Đó là pháp định viỠn ly. Những gì Sa-môn, Phạm chí kia nói, không cho là đúng, không cho là sai. Sau khi không cho là đúng, không cho là sai, liền được nội tâm tĩnh chỉ.

“Nà y Già -di-ni, đó là pháp định, được gọi là viỠn ly. Ông có thể nhân định nà y mà được chánh niệm, mà được nhất tâm. Như vậy, ông có thể đoạn hết nghi hoặc trong đời hiện tại mà được thăng tiến”.

Khi Phật nói bà i pháp ấy xong, Già -di-ni viỠn ly trần cấu, phát sanh con mắt thanh tịnh thấy rõ các pháp. Lúc đó, Già -di-ni thấy pháp, chứng pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi, vượt qua hoặc[20], không còn tôn sùng ai khác, không còn do ai khác, không còn do dự, đã trụ nói quả chứng đạt, được vô sở úy đối với giáo pháp của Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu lỠdưới chân Phật mà bạch rằng.

“Bạch Đức Thế Tôn, con từ nay xin quy y Phật, quy y Pháp và Chúng Tỳ-kheo; cúi mong Đức Thế Tôn nhận con là m Ưu-bà -tắc; bắt đầu từ hôm nay, trọn đời quy y cho đến khi mạng chung”.

Phật thuyết như vậy. Ba-la-lao Già -di-ni và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: S.42.13. Pāṭali-sutta.
[02] Câu-lệ-sấu 拘 麗 瘦. Pāli: Koliyesu, giữa những người  Koliyā, một bộ tộc theo thể chế cộng hòa trong thời Phật, cư ngụ tại là ng Rāmagama trên bờ sông Hằng, và phần khác sống tại Devadaha, lãnh thổ cá»§a họ và cá»§a giòng Sakya được chia đôi bằng sông Rohinin và một cuộc chiến đẫm máu sắp xảy ra, nếu không có sá»± can thiệp cá»§a Đức Phật.
[03] Bắc thôn 北 村. Pāli: Uttara, tên thôn ở trong Koliyā.
[04] Thi-nhiếp-hòa lâm 尸 攝 惒 林. Pāli: Simsapavana.
[05] Ba-la-lao Già -di-ni æ³¢ ç¾ ç‰¢ ä¼½ 彌 å°¼. Pāli: Pātaliya-gāminÄ« thôn trưởng Pātaliya.
[06] Hán: tri huyỠn thị huyỠn 知 幻 是 幻. Pāli: (...) māyaṃ jānatī ti (...) māyavī ti, (Sa-môn Gotama) biết huyỠn thuật, (vậy Gotama là ) nhà huyỠn thuật.
[07] Hán: pháp như pháp 法 如 法. Pāli: dhammassa cānudhamma, và tùy pháp của pháp, chỉ những vấn đề liên hệ đến pháp.
[08] Hán: tốt 卒. Pāli: lambacūlake bhaṭte, người là m thuê có lọn tóc buông thỏng.
[09] Hán: tự thú 自 首. Bản Cao-li: tự tích 自 昔 (từ trước).
[10] Thuyết đoạn diệt (uccheda-vāda) của Ajita Kesa-kambāli. Xem D.2 Sāmaññaphala-sutta; No.1(21), Trường A-hà m “Kinh số 14, Phạm Động), Đại 1, tr.88.
[11] Hán: thiện khứ thiện hướng 善 去 善 向. Pāli: sammagata, sammā-paṭippanna, chân chánh hà nh trì (tám Thánh đạo), chân chánh thú hướng (nhắm đếùn Niết-bà n).
[12] Pāli: na (...) ye imañ ca lokaṃ parañ ca lokaṃ sayaṃ abhiñīa saccchikatvā pavedenti, “không có những vị sau khi tự mình thực chứng về thế giới nà y và thế giới khác rồi thuyết minh lại”.
[13] Thuyết vô tác dụng (akiriya-vāda) của Pūrana Kassapa, Pāli, D. 2. Sāmaññaphala-sutta; No.1(21), Trường A-hà m “Kinh số 14, Phạm Động), Đại 1, tr.88.
[14] Tự mình hay khiến người khác; đoạn sau, văn nghĩa tương tợ.
[15] Hán: chí tha hạng mạch 至 他 巷 陌. (bản Cao-li: kiếp 劫). Có lẽ Pāli: paripanthe (Hán đọc: parapanthe) tiṭihato, chận đường ăn cướp.
[16] Hán: hữu pháp chi định 有 法 之 定. Pāli: atthi... Dhammasamādhi.
[17] Tham chiếu Pāli: atthi gāmaṇi dhammasamādhi tatra ce tvaṃ cittasamādhiṃ paṭilabeyyāsi evaṃ tvaṃ imaṃ kaṠkhādhammam pajaheyyāsi, “Nà y thôn trưởng, có pháp định (pháp tam-muội), mà nếu trong đó ngươi có thể đạt được tâm định như vậy ngươi có thể đoạn trừ pháp nghi hoặc”.
[18] Hán: thăng tấn 昇 進. Pāli: sagga, sanh lên trên; sanh thiên.
[19] Hán: bố dữ bất bố 怖 與 不 怖, chỉ người run sợ tức kẻ yếu, và người vững và ng tức kẻ mạnh. Pāli: tasaṃ vā thāvaraṃ.
[20] Hán: đoạn nghi độ hoặc 斷 疑 度 惑. Pāli: tiṇṇa-vicikiccho vigata-kathaṃkatho, vượt qua hoà i nghi, dứt trừ do dự.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]