Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
11. Kinh Diệm Dụ
12. Kinh Hòa-Phá
13. Kinh Độ
14. Kinh La-Vân
15. Kinh Tư
16. Kinh Già -Lam
17. Kinh Già -Di-Ni
18. Kinh Sư Tử
19. Kinh Ni-Kiền
20. Kinh Ba-La-Lao
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

2. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG

16. KINH GIÀ-LAM[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại Già -lam viên[02], cùng đại chúng Tỳ-kheo, đến Ki-xá tử[03], trụ trong vườn Thi-nhiếp-hòa[04], phía Bắc thôn Ki-xá tử.

Bấy giờ những người Già -lam ở Ki-xá tử nghe đồn Sa-môn Cù-đà m thuộc dòng họ Thích[05], đã từ bỏ dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang du hóa tại Già -lam viên cùng chúng Đại Tỳ-kheo đến Ki-xá tử nà y, trụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa ở phía Bắc thôn Ki-xá tử. Vị Sa-môn Cù-đà m ấy có tiếng tăm lớn, truyền khắp mười phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đà m là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự[06], Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế gian nà y giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loà i người cho đến loà i trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện, khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ[07]’. Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác để tôn trọng, lỠbái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được nhiều thiện lợi. Chúng ta hãy cùng nhau đến gặp Sa-môn Cù-đà m để lỠbái, cúng đường”.

Những người Già -lam ở Ki-xá tử, nghe như vậy rồi, mỗi người cùng với quyến thuộc của mình kéo nhau ra khỏi Ki-xá tử, đi về phía Bắc, tới rừng Thi-nhiếp-hòa, họ muốn gặp Đức Thế Tôn để lỠbái cúng dường.

Đi đến chỗ Phật ngụ, những người Già -lam ấy hoặc có người lỠbái cúi đầu dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người chà o hỏi Đức Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người chắp tay hướng đến Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người từ đà ng xa thấy Đức Phật rồi im lặng ngồi xuống.

Lúc đó, những người Già -lam đều ngồi yên. Đức Phật thuyết pháp cho họ, khuyến phát, khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ[08]. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát, khát ngưỡng thà nh tựu hoan hỷ, Ngà i ngồi im lặng.

Bấy giờ những người Già -lam sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến phát, khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ, họ đều từ chỗ ngồi đứng dâïy, sửa áo trịch vai bên hữu, chắp tay đến hướng Đức Phật, rồi bạch Đức Thế Tôn rằng:

“Thưa Cù-đà m, có một vị Sa-môn, Phạm chí đi đến Già -lam chỉ tự khen ngợi tri kiến của mình mà chê bai tri kiến của người khác. Thưa Cù-đà m, lại có một vị Sa-môn, Phạm chí đi đến Già -lam cũng chỉ tự khen ngợi tri kiến của mình mà chê bai tri kiến của kẻ khác. Thưa Cù-đà m, chúng tôi nghe vậy liền sanh ngờ vực: Những vị Sa-môn, Phạm chí ấy, vị nà o thật? Vị nà o hư?”

Đức Thế Tôn nói rằng:

“Nà y các người Già -lam, các người chớ sanh lòng ngờ vực. Vì sao vậy? Vì nhân có ngờ vực liền sanh ra do dự[09]. Nà y các người Già -lam, các ngươi tự mình không có tịnh trí để biết có đời sau hay không có đời sau. Nà y các người Già -lam, các người cũng không có tịnh trí để biết điều đã là m có tội hay không có tội. Nà y các người Già -lam, nên biết các nghiệp vốn sẵn có ba tập nhân[10]. Những gì là ba? Nà y các người Già -lam, tham là tập nhân sẵn có của các nghiệp. Nà y các người Già -lam, nhuế và si là tập nhân sẵn có của các nghiệp.

“Nà y các người Già -lam, người có tham bị tham che lấp, tâm không nhà m đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc hà nh tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu. Nà y các người Già -lam, người có nhuế bị nhuế che lấp, tâm không nhà m đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc hà nh tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu. Nà y các người Già -lam, người có si bị si che lấp, tâm không nhà m đủ, hoặc sát sanh, hoặc lấy của không cho, hoặc hà nh tà dâm, hoặc biết mà nói dối, hoặc lại uống rượu.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc giết hại, dứt bỏ sự giết hại, dẹp bỏ dao gậy; có tà m, có quý, có tâm từ bi, là m lợi ích cho tất cả, cho đến côn trùng. Vị ấy đối với sự sát sanh, tâm đã trừ sạch.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc lấy của không cho, đoạn trừ việc lấy của không cho; vui thích trong việc lấy của đã cho, thường ưa sự bố thí, vui vẻ không keo kiệt, không mong người kia đền trả. Vị ấy đối với việc lấy của không cho, tâm đã trừ sạch.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc phi phạm hạnh, đoạn trừ việc phi phạm hạnh; siêng tu phạm hạnh, siêng tu diệu hạnh, thanh tịnh, không uế, ly dục, đoạn dâm. Vị ấy đối với việc việc phi phạm hạnh, tâm đã trừ sạch.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc nói dối, đoạn trừ sự nói dối; nói lời chân thật, ưa thích sự chân thật, an trụ nơi chân thật không di động, tất cả những điều vị ấy nói đều đáng tin, không lừa gạt thế gian. Vị ấy đối với việc nói dối, tâm đã trừ sạch.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa sự nói hai lưỡi, đoạn trừ việc nói hai lưỡi, không phá hoại kẻ khác, không nghe nơi người nà y nói lại người kia muốn phá hoại người nà y, không nghe nơi người kia nói lại với người nà y muốn phá hoại người kia; những người xa lìa nhau thì muốn kết hợp lại, thấy người kết hợp lại thì vui vẻ, không kết bè đảng, không khen việc kết bè đảng. Vị ấy đối với việc việc nói hai lưỡi, tâm đã trừ sạch.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa việc nói thô ác, đoạn trừ việc nói thô ác. Nếu có những lời mà từ khí thô bạo, âm thanh hung dữ trái tai, mọi người không vui, mọi người không ưa, là m cho người khác khổ não, là m cho họ không được an ổn, vị ấy đoạn trừ những lời nói như vậy. Nếu có những lời hòa nhã dịu dà ng, xuôi tai, đi sâu và o lòng người, đáng thích, đáng yêu, là m cho người kia an lạc, âm thânh vừa đủ rõ rà ng, không là m cho người kia sợ sệt, là m cho người kia được an ổn, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy đối với việc nói lời thô ác, tâm đã tịnh trừ.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa lời nói thêu dệt[11], đoạn trừ lời nói thêu dệt; nói đúng lúc, đúng sự thật, nói về pháp, nói về nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa nói về tịch tĩnh, hợp việc, hợp thời, thích nghi, khéo dạy dỗ, khéo quở rầy. Vị ấy đối với việc nói lời thêu dệt, tâm đã tịnh trừ.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa tham lam, đoạn trừ tham lam, không ôm lòng não hại, thấy của cải và các nhu cầu sinh sống của người khác không móng lòng tham lam, muốn cho được trở về mình. Vị ấy đối với việc tham lam tâm đã tịnh trừ.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa giận dữ, đoạn trừ giận dữ, có tà m, có quý, có tâm từ bi, là m lợi ích cho tất cả, cho đến loà i côn trùng. Vị ấy đối với sự giận dữ tâm đã tịnh trừ.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến, thực hà nh chánh kiến, không điên đảo; thấy như vậy, nói như vậy: ‘Có sự bố thí, có sự trai phước, và cũng có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác. Có đời nà y và đời sau. Có cha, có mẹ, trên đời có những bậc chân nhân đi đến thiện xứ, khéo vượt qua, khéo hướng đến, trong đời nà y và đời sau mà tự tri tự giác, tự tác chứng thà nh tựu và an trụ. Vị ấy đối với việc tà kiến, tâm đã tịnh trừ.

“Nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử thà nh tựu tịnh nghiệp nơi thân, thà nh tựu tịnh nghiệp nơi khẩu và ý. Xa lìa nhuế, xa lìa não hại, trừ bỏ thùy miên, không trạo cử, cống cao, đoạn trừ nghi, vượt qua mạn, chánh niệm, chánh trí, không có ngu si; tâm vị ấy tương ứng với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, trong hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng, hạ, cùng khắp tất cả, tâm tương ứng với từ, không thù, không oán, không sân nhuế, không não hại, rất rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, tâm bi, hỷ; tâm tương ứng với xả, không thù không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không thù, không oán, không sân nhuế, không não hại, liền được bốn trụ xứ an ổn[12]. Những gì là bốn?

“‘Nếu có đời nà y đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác. Khi ta đã được nghiệp tương ứng với chánh kiến nà y rồi, ta thọ trì đầy đủ, thân hoại mạng chung chắc chắn sanh đến thiện xứ cho đến sanh lên các cõi trời’. Như vậy, nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ nhất.

“Lại nữa, nà y các người Già -lam, ‘Nếu không có đời nà y và đời sau, không có quả báo của nghiệp thiện và ác. Như vậy, ta ở ngay trong đời nà y không phải do cớ ấy mà bị người khác bà i bác; nhưng lại được bậc chánh trí khen ngợi, người tinh tấn, người có chánh kiến nói là có’. Như vậy, nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại, đó là được trụ xứ an ổn thứ hai.

“Lại nữa, nà y các người Già -lam, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc chắn ta không có tạo ác, ta không niệm ác. Vì sao vậy? Vì tự mình không tạo ác, khổ do đâu mà sanh?’ Như vậy, nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ ba.

“Lại nữa, nà y các người Già -lam, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn ta không tạo ác, ta không phạm đời sợ hay không sợ, luôn luôn nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta không tranh chấp với tất cả thế gian, không vẩn đục, nhưng hân hoan’. Như vậy, nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ tư.

“Như vậy, nà y các người Già -lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân hận, không não hại; đó là được bốn trụ xứ an ổn”.

Những người Già -lam bạch Phật:

“Thưa Cù-đà m, đúng vậy, Đa văn Thánh đệ tử tâm không thù, không oán, không sân nhuế, không não hại, liền được bốn trụ xứ an ổn. Những gì là bốn?

“‘Nếu có đời nà y đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác. Khi ta đã được nghiệp tương ứng với chánh kiến nà y rồi, ta thọ trì đầy đủ, thân hoại mạng chung chắc chắn sanh đến thiện xứ cho đến sanh lên các cõi trời’. Như vậy, thưa Cù-đà m, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ nhất.

“Lại nữa, thưa Cù-đà m, ‘Nếu không có đời nà y và đời sau, không có quả báo của nghiệp thiện và ác. Như vậy, ta ở ngay trong đời nà y không phải do cớ ấy mà bị người khác bà i bác; nhưng lại được bậc chánh trí khen ngợi, người tinh tấn, người có chánh kiến nói là có’. Như vậy, thưa Cù-đà m, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại, đó là được trụ xứ an ổn thứ hai.

“Lại nữa, thưa Cù-đà m, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc chắn ta không có tạo ác, ta không niệm ác. Vì sao vậy? Vì tự mình không tạo ác, khổ do đâu mà sanh?’ Như vậy, thưa Cù-đà m, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ ba.

“Lại nữa, thưa Cù-đà m, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn ta không tạo ác, ta không phạm đời sợ hay không sợ, luôn luôn nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta không tranh chấp với tất cả thế gian, không vẩn đục, nhưng hân hoan’. Như vậy, thưa Cù-đà m, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ tư.

“Như vậy, thưa Cù-đà m, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không oán, không sân hận, không não hại; đó là được bốn trụ xứ an ổn.

“Thưa Cù-đà m, chúng con đã biết. Bạch Thiện Thệ, chúng con đã hiểu. Bạch Thế Tôn, chúng con trọn đời tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Duy nguyện Thế Tôn chấp nhận cho chúng con là m Ưu-bà -tắc, bắt đầu từ hôm nay, trọn đời tự quy y, cho đến lúc mạng chung”.

Phật thuyết như vậy. Tất cả những người Già -lam và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: A.III 65 Kesaputtiyā.
[02]  Già -lam viên ä¼½ 藍 園. Pāli: Kesaputtaṃ nāma Kālānaṃ nigamo, thị trấn cá»§a những người Kālāma tên là Kesaputta, ở Kosala.
[03] Ki-xá tử 羈 舍 子; Pāli: Kesaputta, xem cht. trên.
[04] Thi-nhiếp-hòa lâm 尸 攝 惒 林. Pāli: Siṃsapā.
[05] Hán: Thích tông tộc 釋 宗 族. Pāli: Sakya-kula.
[06] Đạo pháp ngự. Pāli: Damma-sārathi, Điều ngự trượng phu. Bản Hán đọc là dhamma-(đạo pháp), thay vì là damma- (huấn luyện, điều ngự).
[07] Hán: cụ túc thanh tịnh hiển hiện phạm hạnh å · è¶³ æ·¸ æ·¨. Pāli: kevala-paripuṇṇaṃ pari-suddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, hiển bà y đời sống phạm hạnh thanh tịnh và hoà n hảo tuyệt đối.
[08] Hán: khuyến phát, khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ 勸 發 渴 仰 成 就 歡 喜. Pāli: sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṃsetvā, chỉ bà y, khuyên bảo, khích lệ, là m cho hoan hỷ.
[09] Hán: nghi hoặc... sanh do dự. Pāli: kaṠkhāniye...ṭhāne vicikicchā uppannā, trong trường hợp nghi hoặc, do dự phát sanh.
[10] Hán: tập nhân bản hữu å› ç¿’ 本 有; bản Pāli không có chi tiết nà y.
[11] Hán: ỷ ngữ 綺 語. Pāli: samphappalāpa, hư ngữ, tạp uế ngữ; nói bậy bạ.
[12] Hán: an ổn trú xứ 安 穩 住 處. Pāli: assāsa, sự nghỉ ngơi (lấy lại hơi thở quân bình), sự bình an.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]