Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
117. Kinh Nhu Nhuyến
118. Kinh Long Tượng
119. Kinh Thuyết Xứ
120. Kinh Thưyết Vô Thường
121. Kinh Thỉnh Thỉnh
122. Kinh Chiêm-Ba
123. Kinh Sa-Môn Nhị Thập Ức
124. Kinh Bát Nạn
125. Kinh Bần Cùng
126. Kinh Hà nh Dục
127. Kinh Phước Ðiền
128. Kinh Ưu-Bà -Tắc
129. Kinh Oán Gia
130. Kinh Giáo
131. Kinh HÃ ng Ma
132. Kinh Lại-Tra-Hòa-La
133. Kinh Ưu-Bà -Ly
134. Kinh Thích Vấn
135. Kinh Thiện Sanh
136. Kinh Thương Nhân Cầu Tà i
137. Kinh Thế Gian
138. Kinh Phước
139. Kinh Tức Chỉ Ðạo
140. Kinh Chí Biên
141. Kinh Dụ
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

11. PHẨM ÐẠI

133. KINH ƯU-BA-LY[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại Na-nan-đà [02], trong vườn xoà i Ba-bà -ly[03].

Lúc bấy giờ có người Ni-kiền là Trường Khổ Hạnh[04] sau giờ ăn trưa, ung dung đi đến chỗ Phật, và sau khi chà o hỏi, ngồi xuống một bên.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bèn hỏi:

“Nhà khổ hạnh Ni-kiền Thân Tử[05] chủ trương có bao nhiêu hà nh vi để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp?[06]“

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp:

“Thưa Cù-đà m, Tôn sư của tôi, Ni-kiền Thân Tử, không giảng dạy cho chúng tôi về những hà nh vi để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Nhưng người giảng dạy chúng tôi về sự trừng phạt để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp.”

Thế Tôn lại hỏi:

“Nhà khổ hạnh Ni-kiền Thân Tử chủ trương có bao nhiêu sự trừng phạt để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp rằng:

“Thưa Cù-đà m, Tôn sư của tôi, Ni kiền Thân Tử giảng dạy cho chúng tôi về ba sự trừng phạt để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Những gì là ba? Đó là sự trừng phạt bằng thân, sự trừng phạt bằng miệng và sự trừng phạt bằng ý[07].

Đức Thế Tôn lại hỏi:

“Nà y Khổ Hạnh, thế nà o, thân phạt, khẩu phạt, ý phạt có khác nhau không?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp rằng:

“Thưa Cù-Đà m, đối với chúng tôi, thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác.”

Đức Thế Tôn lại hỏi:

“Nà y Khổ Hạnh, các sự trừng phạt nà y tương tự như vậy. Ni-kiền Thân Tử chủ trương trừng phạt nà o nặng hơn hết để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp? Sự trừng phạt của thân chăng? Của khẩu chăng? Của ý chăng?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp rằng:

“Thưa Cù-đà m, các sự trừng phạt nà y tương tự như vậy. Tôn sư tôi, Ni-kiền Thân Tử chủ trương thân phạt là nặng hơn hết để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Khẩu phạt thì không phải vậy, ý phạt thì nhẹ nhất, không bằng thân phạt vốn “rất lớn lao, rất nặng nề.

Thế Tôn lại hỏi:

“Nà y Khổ Hạnh, ông nói thân phạt nặng nhất chăng?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp:

“Thưa Cù-đà m, thân phạt nặng nhất.”

Đức Thế Tôn hỏi lại đến lần thứ ba:

“Nà y Khổ Hạnh, ông nói thân phạt nặng nhất chăng?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh cũng ba lần đáp lại:

“Thưa Cù-đà m, thân phạt nặng nhất.”

Đức Thế Tôn thẩm định ba lần Ni-kiền Trường Khổ Hạnh việc như vậy xong, bèn ngồi im lặng.

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh hỏi:

“Sa-môn Cù-đà m chủ trương có bao nhiêu sự trừng phạt để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp?”

Bấy giờ Đức Thế Tôn đáp:

“Nà y Khổ Hạnh, ta không giảng thuyết về những trừng phạt để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Ta chỉ giảng thuyết về nghiệp để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh hỏi:

“Cù-đà m chủ trương có bao nhiêu nghiệp để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp?”

Thế Tôn lại đáp:

“Nà y Khổ Hạnh, Ta giảng thuyết về ba nghiệp để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Thế nà o là ba? Là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh lại hỏi:

“Cù-đà m, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác chăng?”

Thế Tôn lại đáp:

“Ta nói, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác vậy”.

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh hỏi:

“Thưa Cù-đà m, ba nghiệp nà y tương tự như vậy, Ngà i chủ trương nghiệp nà o nặng nhất để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp? Là thân nghiệp chăng? Khẩu nghiệp chăng? Ý nghiệp chăng?”

Thế Tôn lại đáp:

“Nà y Khổ Hạnh, ba nghiệp nà y tương tự như vậy, Ta giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất để không hà nh ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp. Thân nghiệp và khẩu nghiệp thì không phải vậy.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh hỏi:

“Cù-Đà m chủ trương ý nghiệp nặng nhất chăng?”

Thế Tôn đáp:

“Nà y Khổ Hạnh, Ta giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh lại hỏi đến ba lần:

“Cù-Đà m chủ trương thi thiết ý nghiệp là nặng nhất chăng?”

Thế Tôn cũng trả lời đến ba lần:

“Nà y Khổ Hạnh, Ta giảng thuyết ý nghiệp là nặng nhất vậy.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh ba lần thẩm định Thế Tôn sự việc đó như vậy xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiỠu ba vòng quanh Thế Tôn rồi lui về; đi đến chỗ Ni-kiền Thân Tử. Ni-kiền Thân Tử từ xa thấy Trường Khổ Hạnh đi đến, liền hỏi:

“Nà y Khổ Hạnh, ngươi từ đâu đến vậy?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp:

“Con từ Na-nan-đà , trong vườn xoà i Ba-bà -ly, tại chỗ của Sa-môn Cù-đà m đến đây.”

Ni-kiền Thân Tử hỏi:

“Nà y Khổ Hạnh, ông có cùng Sa-môn Cù-đà m bà n luận không?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp:

“Có bà n luận với nhau.”

Ni-kiền Thân Tử nói rằng:

“Nà y Khổ Hạnh, nếu đã cùng với Sa-môn Cù-đà m bà n luận, thì hãy nói lại hết cho ta nghe, để hoặc giả ta biết được luận thuyết của vị ấy”.

Rồi Ni-kiền Trường Khổ Hạnh mới đem sự việc thảo luận với Thế Tôn nói lại cho ông nghe. Ni-kiền Thân Tử nghe xong, khen rằng:

“Hay thay Khổ Hạnh! Ngươi đối với Tôn sư đã là m đúng pháp của đệ tử. Ông là người mà việc phải là m được thà nh biện bằng trí tuệ. Với quyết định thông minh, với sự trầm tĩnh không sợ hãi, hoà n toà n tự tin tưởng, đã đạt đến tà i hùng biện, đã bắt được ngọn cờ cam lộ, ở trong cảnh giới cam lộ tự thân chứng ngộ, thà nh tựu an trụ[08]. Vì sao vậy? Ngươi vừa rồi đối với Sa-môn Cù-đà m mà giảng thuyết thân phạt là nặng nhất để không hà nh ác nghiệp, không gây ác nghiệp. Khẩu phạt không như vậy. Ýù phạt cà ng kém hơn; không bằng thân phạt rất lớn lao, rất trầm trọng.”

Khi ấy, Cư sĩ Ưu-ba-ly[09] cùng năm trăm Cư sĩ tập họp trong chúng chắp tay hướng Ni-kiền Thân tử. Rồi Cư sĩ Ưu-ba-ly nói với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh:

“Ngà i đã ba lần thẩm định Sa-môn Cù-đà m việc như vậy?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp:

“Cư sĩ, tôi đã ba lần thẩm định Sa-môn Cù-đà m việc như vậy.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly nói với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh:

“Tôi cũng có thể đến thẩm định ba lần Sa-môn Cù-đà m việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Cũng như người lực sĩ nắm con dê có cái bờm dà i[10] rồi lôi kéo đi đâu tùy ý; tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định ba lần Sa-môn Cù-đà m việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Cũng như người lực sĩ cầm áo lông giũ bụi, tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định lại ba lần với Sa-môn Cù-đà m việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định lại ba lần với Sa-môn Cù-đà m việc như vậy rồi lôi kéo đi dâu tùy ý. Cũng như người nấu rượu[11], hay đệ tử của người nấu rượu, lấy cái túi lọc rượu đem để và o trong nước, rồi tùy theo ý muốn, lôi đi đâu tùy ý; tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định ba lần Sa-môn Cù-đà m việc như vậy, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Cũng như con voi chúa đã sáu mươi tuổi, là một đại long tượng kiêu ngạo[12], đủ ngà , đủ vóc, gân sức mạnh mẽ, một lực sĩ dẫn đi, lấy nước rửa bắp vế, rửa xương sống, rửa sườn, rửa bụng, rửa răng, rửa đầu và giỡn chơi trong nước; tôi cũng như vậy, có thể đến thẩm định ba lần với Sa-môn Cù-đà m việc như vậy, rồi tùy theo chỗ mà tẩy. Tôi đến chỗ Sa-môn Cù-đà m cùng ông bà n luận, hà ng phục xong rồi trở về.”

Ni-kiền Thân Tử nới với Cư sĩ Ưu-ba-ly rằng:

“Ta cũng có thể hà ng phục Sa-môn Cù-đà m. Ông cũng có thể. Ni-kiền Trường Khổ Hạnh cũng có thể vậy.”

Khi ấy, Ni-kiền Trường Khổ Hạnh thưa với Ni-kiền Thân Tử:

“Con không muốn để cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đà m. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đà m biết chú huyỠn hóa, có thể dùng chú thuật biến hóa là m đệ tử, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Con sợ Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa, hóa là m đệ tử.”

Ni-kiền Thân Tử nói:

“Khổ Hạnh, Cư sĩ Ưu-ba-ly mà bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa, hóa là m đệ tử, việc đó hoà n toà n không có. Sa-môn Cù-đà m bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa là m đệ tử, chắc chắn có việc ấy.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly thưa lại lần thứ ba với Ni-kiền Thân Tử rằng:

“Hôm nay con đi đến chỗ Sa-môn Cù-đà m cùng ông ấy đà m luận. Hà ng phục xong, con trở về.”

Ni-kiền Thân Tử cũng đáp lại lần thứ ba rằng:

“Ông nên đi nhanh đi. Ta cũng có thể hà ng phục Sa-môn Cù-đà m. Ông cũng có thể. Ni-kiền Trường Khổ Hạnh cũng có thể vậy.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh bạch lại lần thứ ba rằng:

“Con không muốn để cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn. Vì sao vậy? Vì Sa-môn Cù-đà m biết chú huyỠn hóa, có thể dùng chú thuật biến hóa là m đệ tử, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Con sợ Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa là m đệ tử.”

Ni-kiền Thân Tử nói:

“Khổ Hạnh, Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa là m đệ tử, việc đó hoà n toà n không có. Sa-môn Cù-đà m bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa là m đệ tử, chắc chắn có việc ấy. Cư sĩ Ưu-ba-ly, người đi tùy ý.”

Lúc ấy, Cư sĩ Ưu-ba-ly cúi đầu sát chân Ni-kiền Thân Tử ba lần rồi đi đến chỗ Phật, chà o hỏi Phật rồi ngồi sang một bên, hỏi rằng:

“Thưa Cù-đà m, ngà y hôm nay Ni-kiền Trường Khổ Hạnh có đến đây không?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Cư sĩ, có đến.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly hỏi:

“Cù-đà m, có cùng với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đà m luận chăng?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Có cùng đà m luận.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:

“Cù-đà m, nếu đã cùng với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đà m luận, xin Ngà i thuật lại hết cho tôi nghe. Hoặc giả, sau khi nghe xong, tôi biết được việc đó.”

Rồi Thế Tôn thuật hết lại những điều mà Ngà i cùng với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đà m luận cho Ưu-ba-ly nghe. Lúc đó Cư sĩ Ưu-ba-ly nghe rồi, khen rằng:

“Hay thay Khổ Hạnh! Như vậy mới gọi là đối với Tôn sư là m đúng việc thực hà nh pháp của một đệ tử. Điều phải là m được thà nh biện bằng trí tuệ, với quyết định thông minh, với sự trầm tĩnh không sợ hãi, với sự hoà n toà n tự tin tưởng, đạt đến đại biện tà i, bắt được ngọn cờ cam lộ, ở trong cảnh giới cam lộ mà tự tác chứng, thà nh tựu an trụ. Vì sao như vậy? Vì đã đối với Sa-môn Cù-đà m mà trình bà y thân phạt là tối thượng để không hà nh ác nghiệp, không gây ác nghiệp. Khẩu phạt không như vậy, ý cà ng kém hơn, không bằng thân phạt, vốn rất lớn lao, rất nặng nề”.

Khi đó Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Cư sĩ, ta muốn cùng ông bà n luận về việc nà y. Nếu như ông an trụ trong sự thật, thì bằng sự thật mà đáp.”[13]

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Cù-đà m, tôi an trụ trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đà m, hãy nên cùng tôi bà n luận việc nà y.”

Đức Thế Tôn hỏi:

“Cư sĩ, ông nghĩ sao? Ở đây nếu Ni-kiền ưa bố thí, thích hà nh việc bố thí, không hý luận, ưa sự không hý luận, rất thanh tịnh, chuyên hà nh chú[14]. Nếu khi người ấy đi đến đây, đạp chết nhiều côn trùng lớn nhỏ, thì thế nà o, Cư sĩ, Ni-kiền Thân Tử đối với việc sát sanh nà y chủ trương có quả báo ra sao?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Thưa Cù-đà m, nếu người ấy cố ý thì có tội lớn, nếu không cố ý[15] thì không có tội lớn.”

Đức Thế Tôn hỏi:

“Cư sĩ, ông nói cố ý là thế nà o?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Thưa Cù-đà m, đó là ý nghiệp[16] vậy.”

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, ông nên suy nghĩ rồi trả lời. Những điều nói trước trái với điều sau, sau trái với điều trước, không phù hợp nhau. Cư sĩ, ông ở trong chúng nà y tự nói: ‘Cù-đà m, tôi an trụ trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đà m, hãy nên cùng tôi bà n luận việc nà y’. Cư sĩ, ông nghĩ sao? Nếu có Ni-kiền chỉ uống nước nóng, dứt hẳn nước lạnh[17]. Nhưng khi không có nước nóng bèn muốn uống nước lạnh. Không có nước lạnh người ấy liền chết. Nà y Cư sĩ, Ni-kiền Thân Tử có thể nói thế nà o về chỗ thác sanh của Ni-kiền ấy?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Thưa Cù-đà m, có loại trời gọi là Ý trước[18]. Vị Ni-kiền đó mạng chung, do ý có chấp trước tất sanh và o chỗ ấy.”

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, ông nên suy nghĩ rồi sẽ trả lời. Những điều ông nói trước trái với sau, sau trái với trước, không phù hợp nhau. Cư sĩ, ông ở trong chúng nà y tự nói: ‘Cù-đà m, tôi an trụ trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đà m, hãy nên cùng tôi bà n luận việc nà y’. Cư sĩ, ông nghĩ sao, giả sử có người cầm dao bén tới đây, người ấy nói rằng: ‘Trong một ngà y tôi chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh ở trong xứ Na-nan-đà nà y chất thà nh đống thịt, là m thà nh khối thịt’. Cư sĩ, ông nghĩ sao, người ấy có thể trong một ngà y mà chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh ở xứ Na-nan-đà nà y chất thà nh đống thịt, là m thà nh một khối thịt không?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Không thể. Vì sao như vậy? Xứ Na-nan-đà nà y quá già u có an vui, nhân dân đông đúc, cho nên người ấy chắc chắn không thể trong một ngà y mà chém đầu, lột da, xẻ thịt tất cả chúng sanh chất thà nh đống thịt, là m thà nh khối thịt được. Thưa Cù-đà m, người ấy chỉ gây phiền nhọc vô ích.”

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, ông nghĩ sao, nếu có Sa-môn, Phạm chí đến, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, người ấy nói như vầy: ‘Ta chỉ khởi một niệm sân, là m cho cả xứ Na-nan-đà nà y thiêu rụi thà nh tro’. Nà y Cư sĩ, ông nghĩ sao? Sa-môn, Phạm chí ấy có thể là m cho cả Na-nan-đà nà y thiêu rụi thà nh tro không?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Thưa Cù-đà m, đâu phải chỉ một Na-nan-đà , đâu phải chỉ hai hoặc ba, hoặc bốn; mà thưa Cù-đà m, Sa-môn Phạm chí kia có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, nếu khởi lên niệm sân thì có thể là m cho hết thảy các nước, hết thảy nhân dân thiêu rụi thà nh tro, sá gì một Na-nan-đà ?”

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, ông nên suy nghĩ rồi sẽ trả lời. Những điều nói trước trái với sau, sau trái với trước, không phù hợp nhau. Ông ở tại chúng nà y tự nói: ‘Sa-môn Cù-đà m, tôi an trú trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đà m, hãy nên cùng tôi bà n luận việc nà y’.”

Đức Thế Tôn hỏi:

“Cư sĩ, ông có từng nghe rừng Đại-trạch, rừng Kỳ-lân, rừng Mê-lộc, rừng Tĩnh tịch, rừng Không dã; tại sao những khu rừng ấy là những khu rừng?[19]“

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Thưa Cù-đà m, tôi có nghe.”

“Cư sĩ, ông nghĩ sao? Vì ai mà rừng Đại-trạch, rừng Kỳ-lân, rừng Mê-lộc, rừng Tĩnh tịch, rừng Không dã, tại sao những khu rừng nà y là những khu rừng?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly im lặng không đáp.

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, hãy trả lời nhanh đi! Hãy trả lời nhanh đi! Bây giờ không phải là lúc im lặng. Cư sĩ! Ở tại chúng nà y, ông tự nói: ‘Thưa Cù-đà m, tôi an trú trong sự thật, bằng sự thật mà đáp. Sa-môn Cù-đà m, hãy nên cùng tôi bà n luận việc nà y’.”

Lúc ấy, Cư sĩ Ưu-ba-ly chỉ im lặng trong chốc lát rồi nói:

“Thưa Cù-đà m, tôi không im lặng. Tôi chỉ suy nghĩ về ý nghĩa nà y vậy. Thưa Cù-đà m, bọn Ni-kiền ngu si kia không hiểu rõ rà ng, không thể giải biết, không biết khoảnh ruộng tốt mà không tự xét, cứ mãi lừa dối tôi, tôi mê lầm vì họ, nghĩa là vì nhắm đến Sa-môn Cù-đà m mà họ chủ trương thân phạt là nặng nhất để không là m ác nghiệp, không gây ác nghiệp, khẩu phạt và ý phạt không bằng. Nếu như theo những điều mà Sa-môn Cù-đà m đã nói, tôi hiểu ý nghĩa rằng, bởi vì Tiên nhân khởi một niệm sân mà có thể là m cho rừng Đại-trạch, rừng Kỳ-lân, rừng Mê-lộc, rừng Tĩnh tịch, rừng Không dã, những khu rừng nà y trở thà nh những khu rừng.

“Bạch Thế Tôn, con đã biết. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Hôm nay con xin quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi xin Thế Tôn nhận con là m Ưu-bà -tắc. Từ nay về sau, trọn đời con quy y cho đến khi chết”.

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, ông hãy im lặng mà là m, không nên lớn tiếng tuyên bố[20]. Sự im lặng của người thù thắng[21] như vậy là tốt đẹp.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly bạch:

“Bạch Thế Tôn, với sự kiện nà y, đối với Thế Tôn con lại bội phần hoan hỷ. Vì sao như vậy? Vì Thế Tôn đã nói như thế nà y: “Cư sĩ, ông hãy im lặng mà là m, không nên lớn tiếng tuyên bố. Sự im lặng của người thù thắng như vậy là tốt đẹp’.

“Bạch Thế Tôn, nếu như con mà là m đệ tử của các Sa-môn, Phạm chí khác thì họ đã cầm trà ng phan, dù lọng đi tuyên bố khắp nơi Na-nan-đà , nói như thế nà y: ‘Cư sĩ Ưu-ba-ly đã là m đệ tử ta! Cư sĩ Ưu-ba-ly đã là m đệ tử ta!’ Nhưng Thế Tôn lại nói như thế nà y: ‘Cư sĩ, ông hãy im lặng mà là m, không nên lớn tiếng tuyên bố. Sự im lặng của người thù thắng như vậy là tốt đẹp’.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly lại bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, từ nay về sau con không cho các Ni-kiền đi và o nhà con. Chỉ có bốn chúng đệ tử Thế Tôn, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o mà thôi.”

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, các Ni-kiền kia cùng với gia đình ông trong một thời gian dà i đã tôn kính nhau. Nếu họ có đến thì ông nên tùy theo khả năng của mình mà cúng dường họ.”

Ưu-ba-ly bạch:

“Bạch Thế Tôn, với sự kiện nà y, đối với Thế Tôn con lại bội phần hoan hỷ. Vì sao như vậy? Vì Thế Tôn đã nói như thế nà y: ‘Cư sĩ, các Ni-kiền kia đối với gia đình ông trong một thời gian dà i đã tôn kính nhau. Nếu họ có đến thì ông nên tùy theo khả năng của mình mà cúng dường họ’. Bạch Thế Tôn, ngà y trước con nghe nói Thế Tôn dạy như thế nà y: ‘Nên cho Ta, đừng cho người khác. Nếu cho Ta sẽ được phước lớn, nếu cho người khác thì không được phước lớn. Cho đệ tử Ta thì sẽ được phước lớn, cho đệ tử người khác thì không được phước lớn’.”

Đức Thế Tôn bảo:

“Cư sĩ, Ta không nói như thế. Ta không nói rằng: ‘Nên cho Ta chứ đừng cho người khác. Cho đệ tử Ta chứ đừng cho đệ tử người khác. Nếu cho Ta thì phước lớn, nếu cho người khác thì không được phước lớn. Cho đệ tử Ta sẽ được phước lớn, nếu cho đệ tử người khác thì không được phước lớn’. Cư sĩ, Ta nói như thế nà y: ‘Hãy cho tất cả tùy theo tâm hoan hỷ. Nhưng cho người không tinh tấn không được phước lớn. Cho người tinh tấn sẽ được phước lớn’.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly bạch:

“Bạch Thế Tôn, xin nguyện không là m vậy[22]. Con tự biết nên cho Ni-kiền hay không nên cho Ni-kiền. Bạch Thế Tôn, hôm nay một lần nữa con xin tự quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi xin Thế Tôn nhận con là m Ưu-bà -tắc. Từ nay về sau, trọn đời quy y cho đến khi chết.”

Khi ấy Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Cư sĩ Ưu-ba-ly, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thà nh tựu hoan hỷ rồi, như pháp của chư Phật, Đức Phật trước hết nói pháp đoan chánh[23] khiến người nghe hoan hỷ, ấy là nói pháp bố thí, trì giới, sanh thiên, chê bai dục là tai hoạn, sanh tử là nhớp nhơ; khen vô dục là đạo phẩm vi diệu, là bạch tịnh.

Thế Tôn nói pháp như vậy cho ông nghe xong, Ngà i biết ông có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến, tâm kham nại, tâm tăng thượng, tâm hướng đến, tâm không nghi ngờ, tâm không triền cái, có năng lực nhận lãnh chánh pháp. Rồi như pháp chánh yếu mà chư Phật đã nói, Đức Thế Tôn liền nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo cho ông nghe. Cư sĩ Ưu-ba-ly ngay tại chỗ ngồi đã thấy bốn Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng như vải trắng dỠnhuộm sắc mà u; cũng vậy, Cư sĩ Ưu-ba-ly ngay tại chỗ ngồi thấy bốn Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngay khi đó, Cư sĩ Ưu-ba-ly thấy pháp, đắc pháp, biết pháp bạch tịnh, đoạn nghi độ hoặc, không còn tôn thờ ai khác, không theo ai khác, không còn do dự, đã trụ quả chứng. Đối với pháp của Thế Tôn được vô sở úy, liền rời chỗ ngồi đứng dậy là m lỠĐức Phật:

“Bạch Thế Tôn, hôm nay con ba lần tự quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi xin Thế Tôn nhận con là m Ưu-bà -tắc. Từ nay về sau, trọn đời con quy y cho đến khi chết.”

Rồi Cư sĩ Ưu-ba-ly sau khi nghe pháp được Phật giảng dạy, khéo thọ, khéo trì, cúi đầu lỠchân Phật, đi quanh ba vòng, trở về nhà bảo người đứng giữ cửa rằng:

“Các ngươi nên biết, nay ta là đệ tử của Đức Thế Tôn. Từ nay về sau, các Ni-kiền tử đến chớ cho và o cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o mà thôi. Nếu có Ni-kiền đến thì nói với họ rằng: ‘Tôn giả, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay được Phật cải hóa, đã hóa là m đệ tử Phật, nên không cho các Ni-kiền và o cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o mà thôi. Nếu người cần thức ăn, hãy đứng đó. sẽ đem thức ăn ra cho.”

Khi đó, Ni-kiền Trường Khổ Hạnh nghe Cư sĩ Ưu-ba-ly đã được Sa-môn Cù-đà m cải hóa, hóa là m đệ tử và không cho Ni-kiền và o cửa, chỉ cho đệ tử của Sa-môn Cù-đà m là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o. Ni-kiền Trường Khổ Hạnh nghe xong như vậy rồi đi đến chỗ Ni-kiền Thân Tử bạch rằng:

“Thưa tôn sư, đây điều con đã nói trước.”

Ni-kiền Thân Tử hỏi:

“Khổ Hạnh, điều gì gọi là điều ngươi đã nói trước?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đáp:

“Thưa tôn sư, con đã nói trước rằng: ‘Không muốn cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đà m. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đà m biết chú huyỠn hóa, có thể dùng chú thuật hóa là m đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Con sợ rằng Cư sĩ Ưu-ba-ly sẽ bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa, hóa là m đệ tử’. Thưa tôn sư, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay đã bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa, hóa là m đệ tử rồi, không cho các Ni-kiền và o cửa, chỉ cho đệ tử Sa-môn Cù-đà m là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o.”

Ni-kiền Thân Tử nói:

“Khổ Hạnh, Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa là m đệ tử, việc ấy hoà n toà n không có. Sa-môn Cù-đà m bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa là m đệ tử, việc ấy chắc chắn có.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh bạch lại:

“Thưa tôn sư, nếu không tin lời con nói, thì tôn sư có thể thân hà nh đến, hoặc sai người đến.”

Khi ấy, Ni-kiền thân tử bảo:

“Khổ Hạnh, ông nên thân hà nh đến đó xem sao. Có phải Cư sĩ Ưu-ba-ly đã bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa là m đệ tử rồi chăng? Hay là Sa-môn Cù-đà m bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa là m đệ tử rồi?”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh vâng lệnh Ni-kiền Thân Tử, đi đến nhà Cư sĩ Ưu-ba-ly. Người giữ cửa vườn trông thấy Ni-kiền Trường Khổ Hạnh đến, liền nói như thế nà y:

“Tôn giả, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay đã được Phật cải hóa, hóa thà nh đệ tử Phật rồi, nên không cho các Ni-kiền và o cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Thế Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o thôi. Nếu ngà i muốn nhận thức ăn thì nên đứng đó, con sẽ đem thức ra cho.

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh nói:

“Người giữ cửa, ta không cần thức ăn.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh biết việc nà y như vậy rồi, lắc đầu bỏ đi, về tới chỗ Ni-kiền Thân Tử thưa:

“Thưa tôn sư, đây là điều con đã nói trước.”

Ni-kiền thân tử hỏi:

“Khổ Hạnh, cái gì gọi là điều ông đã nói trước?”

Trường khổ hạnh Ni-kiền đáp:

“Thưa tôn sư, tôi đã nói rằng: ‘Không muốn cho Cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đà m. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đà m biết chú huyỠn hóa, có thể dùng chú thuật hóa là m đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Con sợ rằng Cư sĩ Ưu-ba-ly sẽ bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa, hóa là m đệ tử’. Thưa tôn sư, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay đã bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa, hóa là m đệ tử rồi, không cho các Ni-kiền và o cửa, chỉ cho đệ tử Sa-môn Cù-đà m là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o.”

Ni-kiền Thân Tử nói:

“Khổ Hạnh, Cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa là m đệ tử, việc ấy hoà n toà n không có. Sa-môn Cù-đà m bị Cư sĩ Ưu-ba-ly biến hóa là m đệ tử, việc ấy chắc chắn có.”

Ni-kiền Trường Khổ Hạnh bạch lại:

“Thưa tôn sư, nếu không tin lời con nói, thì tôn sư có thể thân hà nh đến.

Lúc đó Ni-kiền thân tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người cùng đi đến nhà Cư sĩ Ưu-ba-ly. Người giữ cửa vừa trông thấy Ni-kiền Thân Tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người kéo đến, nói như thế nà y: “Thưa Tôn giả, Cư sĩ Ưu-ba-ly nay đã được Phật cải hóa, hóa thà nh đệ tử Ngà i rồi, nên không cho các Ni-kiền và o cửa, chỉ cho bốn chúng đệ tử của Thế Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di và o cửa mà thôi. Nếu ngà i muốn nhận thức ăn thì nên đứng đó, con sẽ đem thức ăn ra cho.”

Ni-kiền Thân Tử nói:

“Người giữ cửa, ta không cần thức ăn, Ta chỉ muốn gặp Cư sĩ Ưu-ba-ly.”

Người giữ cửa nói:

“Xin ngà i đứng đó, để con thưa với Cư sĩ Ưu-ba-ly.”

Người giữ cửa kia liền và o thưa rằng:

“Thưa Cư sĩ, Ni-kiền Thân Tử cùng đại chúng Ni-kiền năm trăm người đứng ở ngoà i cửa, nói như thế nà y: ‘Ta muốn được gặp Cư sĩ Ưu-ba-ly.’”

Cư sĩ Ưu-ba-ly bảo người giữ cửa:

“Ngươi đến cửa giữa[24] trải bà y tòa ngồi. Bà y xong trở lại cho ta biết.”

Người giữ cửa vâng lệnh, đi đến cửa giữa trải bà y giường ngồi xong rồi trở lại thưa:

“Thưa Cư sĩ, đã trải giường xong, kính mong Cư sĩ tự biết thời.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly dẫn người giữ cửa đi đến nhà giữa. Ở đó có một cái giường thật cao rộng, to lớn, rất sạch sẽ, được trải khéo léo, đó là chỗ Cư sĩ Ưu-ba-ly trước kia đã bế[25] Ni-kiền Thân Tử để ngồi lên đó, thì bây giờ Cư sĩ Ưu-ba-ly tự leo lên ngồi kiết già , bảo với người giữ cửa:

“Ngươi ra chỗ Ni-kiền Thân Tử nói như thế nà y: ‘Tôn nhân, Cư sĩ Ưu-ba-ly nói tôn nhân muốn và o thì tùy ý’.”

Người giữ cửa vâng lệnh đi ra, đến chỗ Ni-kiền nói như thế nà y:

“Tôn nhân, Cư sĩ Ưu-ba-ly nói: Tôn nhân muốn và o thì tùy ý.”

Lúc đó, Ni-kiền Thân Tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người cùng đến nhà giữa. Cư sĩ Ưu-ba-ly vừa trông thấy Ni-kiền Thân Tử và đại chúng Ni-kiền năm trăm người cùng và o, nói như thế nà y:

“Tôn nhân, ở đây có chỗ ngồi, muốn ngồi xin tùy ý.”

Ni-kiền thân tử nói:

“Cư sĩ, ông là m như vậy phải lẽ chăng? Tự mình lên tòa cao ngồi kiết già cùng nói chuyện với người như người xuất gia học đạo không khác?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:

“Tôn nhân, tôi có đồ vật của mình, muốn cho thì cho, không cho thì không cho. Chỗ ngồi nà y là của tôi, cho nên tôi nói có chỗ ngồi, muốn ngồi xin tùy ý.”

Ni-kiền Thân Tử trải chỗ ngồi mà ngồi, rồi nói rằng:

“Cư sĩ, vì sao như vậy? Muốn hà ng phục Sa-môn Cù-đà m nhưng khi trở về đã bị hà ng phục. Cũng như có người và o rừng nên đi tìm con mắt, nhưng khi trở về bị mất con mắt. Cũng vậy, Cư sĩ, muốn đến hà ng phục Sa-môn Cù-đà m nhưng khi trở về đã bị hà ng phục. Cũng như người vì khát mà xuống ao; nhưng trở lên vẫn cứ khát. Cư sĩ cũng như vậy, muốn đi chinh phục Sa-môn Cù-đà m, thì bị chinh phục ngược trở lại. Cư sĩ, vì sao như vậy?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:

“Tôn nhân, xin nghe tôi nói dụ. Người trí tuệ nghe dụ thì hiểu được ý nghĩa. Tôn nhân, ví như có một người Phạm chí có người vợ trẻ. Người vợ kia đang có thai, nói với chồng rằng: ‘Tôi nay mang thai, anh hãy đến chợ mua đồ chơi đẹp về cho con’. Lúc đó, Phạm chí kia nói với vợ rằng: “Chỉ mong em được bình yên sinh sản, rồi lo gì mà không có. Nếu sanh con trai thì mua đồ chơi con trai cho nó. Nếu sanh con gái thì mua đồ chơi con gái cho nó’. Người vợ lại ba lần nói với chồng: ‘Tôi nay đang mang thai, anh hãy đến chợ mua đồ chơi về cho con’. Phạm chí đã ba lần nói lại với vợ rằng: Chỉ mong em được bình yên sanh sản, rồi lo gì mà không có. Nếu sanh con trai thì phải mua đồ chơi con trai. Còn nếu sanh con gái thì mua đồ chơi con gái’. Phạm chí kia thương vợ quá sức, liền nói rằng: ‘Em muốn mua đồ chơi gì cho con?’ Người vợ đáp: ‘Anh mua đồ chơi đẹp là con khỉ con’. Phạm chí nghe rồi, đi và o chợ mua đồ chơi đẹp bằng con khỉ con, đem về nói với vợ: ‘Tôi đã mua đồ chơi đẹp bằng khỉ con về đây’. Người vợ thấy rồi chê rằng mà u sắc không đẹp, liền nói với chồng: ‘Anh nên đem thứ đồ chơi khỉ con nà y thợ nhuộm mà u và ng để được rất dỠthương hơn và nhồi cho nó phát ra ánh sáng’. Phạm chí nghe xong, liền cầm đồ chơi con khỉ con đến thợ nhuộm, nói rằng: ‘Hãy nhuộm đồ chơi khỉ con nà y thà nh sắc và ng, là m cho nó rất dỠthương và nhồi cho nó phát ra ánh sáng cho tôi’. Khi ấy người thợ nhuộm nói với Phạm chí: ‘Đồ chơi khỉ con nhuộm thà nh mà u và ng là m cho dỠthương, việc nà y là m được, nhưng không thể nhồi cho nó phát ra ánh sáng được’.

“Khi ấy người thợ nhuộm nói tụng nà y:

‘Khỉ nhỏ tiếp nhận sắc,
Không hay chịu đảo nhồi.
Nếu nhồi, nó sẽ chết;
Chịu sao được với chà y?
Đây là đãy xú uế,
Khỉ con đầy bất tịnh’.

“Thưa Tôn nhân, nên biết, những điều được Ni-kiền thuyết cũng giống như vậy, không thể chịu đựng được những nạn vấn của người khác, cũng không thể suy nghĩ quán sát được. Chỉ có nhuộm sự ngu si, không nhuộm trí tuệ. Tôn nhân, xin hãy nghe đấy. Cũng như chiếc áo Ba-la-nại thanh tịnh, người chủ cầm đến thợ nhuộm, nói rằng: ‘Nhuộm giùm chiếc áo nà y thà nh cực đẹp, là m cho dỠyêu, cũng đập nhồi kỹ cho nó phát ánh sáng’. Lúc đó, thợ nhuộm bảo với chủ áo rằng: ‘Áo nà y có thể nhuộm thà nh mà u sắc cực đẹp, là m cho dỠưa; cũng có thể đập nhồi cho phát ánh sáng’.

“Khi ấy thợ nhuộm nói tụng nà y:

‘Như vải Ba-la-nại,
Trắng sạch, chịu sắc mà u;
Đập xong thời mềm mại,
Sáng chói, cà ng thêm đẹp’.

“Thưa Tôn nhân, những điều các Đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã dạy cũng như vậy; rất đủ khả năng chịu đựng những nạn vấn của kẻ khác, cũng có thể suy nghĩ quán sát một cách thỏa đáng được; chỉ có nhuộm trí tuệ, không nhuộm ngu si.”

Ni-kiền Thân Tử nói:

“Cư sĩ, ông đã bị Sa-môn Cù-đà m biến hóa bằng chú huyỠn thuật.”

Cư sĩ Ưu-ba-ly nói:

“Tôn nhân, thật tốt đẹp loại chú huyỠn hóa ấy, rất tốt đẹp loại chú huyỠn hóa. Thưa Tôn nhân, loại chú huyỠn hóa đó là m cho cha mẹ tôi được lợi ích an ổn, khoái lạc lâu dà i; vợ con, nô tỳ, người giúp việc, quốc vương Na-nan-đà và tất cả thế gian, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ người đến trời, là m cho họ được lợi ích an ổn khoái lạc lâu dà i.”

Ni-kiền thân tử nói:

“Cư sĩ, toà n cõi Na-nan-đà đều biết Cư sĩ Ưu-ba-ly là đệ tử Ni-kiền, nay đây cuối cùng là đệ tử của ai?”

Khi ấy, Cư sĩ Ưu-ba-ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, gối phải quỳ xuống đất, nhắm phương có Phật, chắp tay hướng về, nói:

“Tôn nhân, hãy nghe điều tôi nói đây:

Đại Hùng, trừ si ngốc;
Diệt uế, bắt hà ng phục.
Vô địch, vi diệu tư,
Học giới, thiền, trí tuệ;
An ổn không bợn nhơ;
Ba-ly đệ tử Phật.
Bậc Đại Thánh tu nhiều;
Thà nh đức tự tại thuyết.
Khéo niệm, quán sát mầu;
Không thấp, cũng không cao;
Bất động, thường tự tại;
Ba-ly đệ tử Phật.
Không cong, thường biết đủ;
Thỏa mãn, trừ xan tham;
Hiện Sa-môn chứng ngộ,
Tôn đại sĩ, hậu thân;
Vô tỷ, không nhiỠm trần;
Ba-ly đệ tử Phật.
Bao dung, không ganh ghét;
Đấng Tịch Mặc nhiệm mầu,
Dũng mãnh, hằng an ổn;
Trụ pháp, vi diệu tư,
Chế ngự, không hý bỡn;
Ba-ly đệ tử Phật.
Đại long sống vượt tục,
Giải trừ mọi sử kiết,
Ưng thanh tịnh biện tà i,
Tuệ phát, dứt vui buồn;
Đức Thích-ca, cõi ngoà i;
Ba-ly đệ tử Phật.
Thiền tư duy Chánh pháp,
Thanh tịnh, nhiỠu loạn trừ;
Thường cười, không hờn giận;
Đệ nhất đời viỠn ly.
Thường chuyên tinh, vô úy
Ba Ly đệ tử Phật
Bậc Thất Tiên[26] vô đẳng,
Chứng tịnh hạnh, tam minh[27].
Tắm sạch, như đèn sáng
Yên nghỉ, dứt oán kết;
Dũng mãnh, cực thanh tịnh’
Ba-ly đệ tử Phật.
Tịch tĩnh, tuệ như đất;
Trí trừ tham thế gian;
Đáng thờ, con mắt siêu;
Thượng sỹ không ai sánh;
Tự điều ngự, triệt sân;
Ba-ly đệ tử Phật.
Đoạn dục[28], vô thượng thiện;
Khéo điều ngự vô song;
Vô thượng thường hoan hỷ;
Trừ nghi, rực sắc quang;
Đoạn mạn, vô thượng giác;
Ba-ly đệ tử Phật.
Đoạn ái, giác tối thượng;
Khói tan, lửa đã tắt;
Đấng Như Khứ[29], Thiện Thệ;
Đấng Vô Đẳng, Tối Tôn;
Đấng Đại Danh, Chân Chánh;
Ba-ly đệ tử Phật.
Trăm lời tán Phật nà y,
Tự phát, không cần suy.
Những sự Ba-ly nói,
Chư Thiên đến hội tề.
Khéo gia sức hùng biện;
Đúng pháp, đúng nhân tà i.

Ni-kiền thân tử hỏi:

‘Đệ tử của Như Lai’.”

Ni-kiền Thân Tử hỏi:

“Cư sĩ, ông ca ngợi Sa-môn Cù-đà m với ý gì?”

Cư sĩ Ưu-ba-ly đáp:

“Hãy nghe tôi nói dụ, người trí nghe dụ thì hiểu rõ ý nghĩa. Như thầy trò người là m trà ng hoa, chọn các loại hoa, dùng dây dà i kết là m các loại trà ng hoa. Cũng vậy, nà y Tôn nhân, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có vô lượng xưng tán, là đấng tối tôn thờ, nên tôi ca ngợi.”

Khi nói pháp nà y, Cư sĩ Ưu-ba-ly xa lìa trần cấu, phát sanh con mắt pháp thấy các pháp. Ni-kiền Thân Tử liền mửa máu nóng, rồi đến nước Bà -hòa[30] vì bệnh nà y mà mạng chung.

Phật nói như vậy, Cư sĩ Ưu-ba-ly nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Bản Hán, quyển 32. Tương đương Pāli, M. 56. Upāli-suttaṃ
[02] Na-nan-đà 那 難 陀. Pāli: Nāḷandā.
[03] Ba-bà -ly nại lâm 波 婆 離 柰 林. Pāli: Pāvārikambavana, khu rừng xoà i của Pāvārika, một đại phú tại Nālānda (Na-nan-đà ), một thị trấn ở gần Rājagaha.
[04] Trường Khổ Hạnh Ni-kiền 長 苦 行 尼 犍. Pāli: Dīghatapassī-nigantha, một đệ tử của Nigaṇṭha-Nātaputta (Ni-kiền Thân Tử).
[05] Ni-kiền Thân Tử 尼 犍 親 子, Nigaṇṭha-Nātaputta.
[06] Hán: kỷ hà nh linh bất hà nh ác nghiệp bất tác ác nghiệp 幾 行 令 不 行 惡 業 不 作 惡 業. Pāli: kati…kammāni paññapeti pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā’ti, có bao nhiêu nghiệp để thi hà nh ác nghiệp, để tiến hà nh ác nghiệp?
[07] Tam phạt: thân phạt, khẩu phạt, ý phạt 三 罰 身 罰 口 罰 意 罰. Pāli: tiṇi … daiḍāni paññapeti… seyyathidam, kāyadaṇḍaṃ vacīdaṇḍaṃ manodaṇḍaṃ.
[08] Sở tác trí biện, thông minh quyết định, an ổn vô úy, thà nh tá»±u điều ngá»±, đãi đắc biện tà i đắc cam lộ trà ng, ư cam lộ giới, tá»± tác chứng thà nh tá»±u du 所 作 智 辯, 聰 明 決 定, 安 éš ç„¡ 畏, 成 å°± 調 御, 逮 得 辯 扌, 得 甘 露 å¹¢ , 於 甘 露 界, 自 作 證 成 å°± 遊.  Lời khen ngợi nà y cÅ©ng giống như lời khen ngợi giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và Mãn Từ Tá»­ trong kinh số 9 trên.
[09] Ưu-ba-ly cư sÄ© 優 æ³¢ 離 å± å£«, đệ tá»­ tại gia cá»§a Ni-kiền Thân Tá»­. Pāli: Upāli- gahapati.
[10] Chấp trường mao dương 執 長 髦 羊. Pāli: dīghalomikaṃ eḷakaṃ lomesu gahetvā, túm lấy lông của con dê có lông dà i.
[11] Cô tá»­u sư æ²½ é ’ 師 (nhà bán rượu). Cô, Tống-Nguyên-Minh: é ¤; Pāli, gồm hai thí dụ: balavā soṇḍikākammakaro, lá»±c sÄ© nấu ruợu; và balavāsoiḍikādhutto, lá»±c sÄ© say rượu.
[12] Kiêu ngạo Ma-ha-năng-già 憍 傲 摩 訶 能 åŠ . Không rõ Pāli; nhưng Sanskrit có thể là pramādana-mahānāga, con voi chúa say rượu; thay vì pra-māna- (kiêu mạn). Thí dụ nà y, trong bản Pāli: (…) kuñjaro saá¹­á¹­hihāyano, con voi già sáu mươi tuổi.
[13] Pāli: sace kho tvaṃ gahapati sacce patiṭṭhāya manteyyāsi siyā no ettha kathāsallāpo ti, “nếu ông an trú trên sự thật mà tư duy thì ở đây có thể có hội thoại của chúng ta”.
[14] Trong bản Pāli, đề cập bốn chế giới của Ni-kiền Tử, cātuyāmasaṃvarasaṃvutto: sabbavārivārito sabbavāriyutto sabbavāridhuto sabbavāriphuṭo, hoà n toà n cấm chỉ nước, hoà n toà n chuyên tâm (và o sự cấm chế tất cả nước).
[15] Hán: tư 思, và vô tư. Pāli: cetana; và asañcetanika.
[16] Bản Hán, tư tức ý nghiệp. Bản Pāli: tư trong trường hợp nà y là ý phạt: cetanṃ… manodaiḍaṣmiṃ.
[17] Pāli: (…) nigaṇṭho ābādhika… sītodakapaṭikkhito uṇhodakapaṭisevī, có người Ni-kiền bệnh… không uống nước lạnh, mà chỉ uống nước nóng.
[18] Ý trước (thiên) 意 著 天. Pāli: Manosatta, những ai khi chết mà còn có chỗ chấp trước sẽ tái sinh và o đây.
[19] Đại-trạch vô sự, Kỳ-lân vô sự, Mi-lộc vô sự, Tĩnh tịch vô sự, Không dã vô sự 大 澤 無 事, 麒 麟 無 事, 麋 鹿 無 事, 靜寂 無 事, 空 野 無 事. Tham chiếu dẫn chứng của Duy thức nhị thập luận: rừng Đà n-trạch-ca, rừng Ma-đăng-già , rừng Kiết-lăng-già . Những khu rừng nà y trước kia vốn là những đô thị trù phú, nhưng do sự phẫn nộ của các đạo sĩ, chúng trở thà nh rừng xanh. (Xem giải thích của Khuy Cơ, Duy thức nhị thập luận thuật ký. No.2026, trang 1005 a và tt). Các khu rừng được kể trong bản Pāli: Daṇḍakāraññaṃ KāliṠgāraññaṃ Mejjhāraññaṃ MātaṠgāraññaṃ.
[20] Hán: mặc nhiên hà nh…; Pāli: manasi karohi…manasi karitvā vyākarohi: hãy suy nghÄ© chín chắn. Suy nghÄ©  chín chắn rồi hãy tuyên bố.
[21] Thắng nhân 勝 人. Pāli nói: ñāta-nanussa, người nổi tiếng, vì Upāli vốn là nhân vật nổi tiếng.
[22] Nguyện vô vi dã  願 無 為 也. Không rõ nghÄ©a chính xác.
[23] Đoan chánh pháp 端 正 法. Trong bản Pāli: anupubbikathā, thuận tự pháp thoại.
[24] Hán: trung môn 中 門. Pāli: majjhimāya dvārasālāya, căn nhà (phòng) giữa có trổ cửa lớn.
[25] Hán: bão 抱. Tống-Nguyên-Minh: thí 施.
[26] Đức Thích-ca cũng được xưng hiệu là Đệ Thất Tiên.
[27] Nguyên Hán: tam đạt 三 達.
[28] Hán: đoạn vọng 斷 望.
[29] Như khứ 如 去, cùng nghĩa với Như Lai. Đối với Niết-bà n mà nói là Như Lai, đối với sanh tử mà nói là Như khứ.
[30] Ba-hòa quốc 波 惒 國.Tức Pāli: Pāva; xem kinh số 196.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]