Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
152. Kinh Anh VÅ©
153. Kinh Man-Nhà n-Ðề
154. Kinh Bà -La-Bà -Ðường
155. Kinh Tu-Ðạt-Ða
156. Kinh Phạm Ba-La-Diên
157. Kinh Hoà ng Lô Viên
158. Kinh Đầu-Na
159. Kinh A-Già -Là -Ha-Na
160. Kinh A-Lan-Na
161. Kinh Phạm-Ma
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

12. PHẨM PHẠM CHÍ
(Phần Sau)

154. KINH BÀ-LA-BÀ ĐƯỜNG[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa nước Xá-vệ, trú tại Đông viên, trong giảng đường Lộc tử mẫu[02].

Bấy giờ, có hai người thuộc dòng Phạm chí là Bà -tư-tra[03] và Bà -la-bà [04], cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Các Phạm chí khác thấy vậy, chỉ trích họ dữ dội, nói những lời rất gay gắt và cay đắng, rằng: “Dòng Phạm chí là hơn hết, không dòng nà o bằng; dòng Phạm chí là da trắng, ngoà i ra đều là da đen; Phạm chí được thanh tịnh, không phải Phạm chí thì không được thanh tịnh; Phạm chí con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, được hóa sanh từ Phạm thiên. Các ông bỏ nơi thù thắng mà đi theo chỗ thấp hèn, bỏ trắng theo đen. Bọn Sa-môn đầu trọc kia bị trói buộc và o da đen, nên tuyệt tự, không con cái. Cho nên, các ông đã là m chuyện đại cực ác, phạm việc đại sai lầm.”

Bấy giờ, và o buổi chiều, Đức Thế Tôn từ thiền tọa dậy, bước xuống giảng đường. Ngà i kinh hà nh trên khoảng đất trống trong bóng mát của giảng đường, rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo.

Tôn giả Bà -tư-tra từ xa trông thấy Đức Thế Tôn và o buổi chiều từ thiền tọa dậy, bước xuống giảng đường. Ngà i kinh hà nh trên khoảng đất trống trong bóng mát của giảng đường, rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Sau khi thấy như vậy, Tôn giả Bà -tư-tra nói:

“Nà y Hiền giả Bà -la-bà , nên biết, Đức Thế Tôn, và o buổi chiều, từ thiền tọa dậy, bước xuống giảng đường. Ngà i kinh hà nh trên khoảng đất trống trong bóng mát của giảng đường, rồi nói pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo. Nà y Hiền giả Bà -la-bà , chúng ta nên đến chỗ Đức Phật, hoặc có thể nhân đây mà được nghe Ngà i nói pháp.”

Khi ấy, Bà -tư-tra và Bà -la-bà liền đến chỗ Phật, cúi đầu là m lỠ, rồi đi kinh hà nh theo sau.

Đức Thế Tôn quay lại nói với hai người kia:

“Bà -tư-tra, hai Phạm chí, các ngươi từ bỏ chủng tộc Phạm chí, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; các Phạm chí khác thấy như vậy, không chỉ trích các ngươi sao?”

Hai người kia liền bạch:

“Quả thật vậy, bạch Đức Thế Tôn. Các Phạm chí thấy như vậy, chỉ trích dữ dội, gay gắt, cay đắng.”

Đức Thế tôn hỏi:

“Nà y Bà -tư-tra, các Phạm chí thấy như vậy, đã chỉ trích dữ dội, gay gắt, cay đắng như thế nà o?”

Bà -tư-tra thưa:

“Bạch Thế Tôn, các Phạm chí thấy chúng con như vậy, nói như thế nà y, ‘Dòng Phạm chí là hơn hết, không dòng nà o bằng; dòng Phạm chí là da trắng, ngoà i ra đều là da đen; Phạm chí được thanh tịnh, không phải Phạm chí thì không được thanh tịnh; Phạm chí con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, được hóa sanh từ Phạm thiên. Các ông bỏ nơi thù thắng mà đi theo chỗ thấp hèn, bỏ trắng theo đen. Bọn Sa-môn đầu trọc kia bị trói buộc và o da đen, nên tuyệt tự, không con cái. Cho nên, các ông đã là m chuyện đại cực ác, phạm việc đại sai lầm.’ Bạch Thế Tôn, các Phạm chí thấy chúng con như vậy, đã chỉ trích dữ dội, gay gắt, cay đắng như vậy.”

Đức Thế Tôn nói:

“Nà y Bà -tư-tra, những lời của các Phạm chí quá độc ác, hết sức vô lại. Vì sao? Vì họ ngu si, không khéo hiểu rõ, không biết ruộng tốt, không thể tự biết mình, dó đó mới nói như thế nà y, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, được hóa sanh từ Phạm thiên.’ Vì sao? Nà y Bà -tư-tra, chính Ta, với sự chứng đắc Minh Hạnh vô thượng nà y không chủ trương thọ sanh ưu thắng, không chủ trương chủng tộc, không chủ trương kiêu mạn, nói rắng ‘Nó đẹp lòng Ta; nó không đẹp lòng Ta[05],’ không vì chỗ ngồi, không vì nước[06], không vì sở học kinh sách.

“Nà y Bà -tư-tra, chỗ nà o có hôn nhân[07], nơi đó mới có thể nói về thọ sanh, về chủng tộc, về kiêu mạn, nói, ‘Nó đẹp lòng Ta, không đẹp lòng Ta; vì chỗ ngồi, vì nước uống và vì sở học kinh sách.

“Nà y Bà -tư-tra, nếu ai chủ trương thọ sanh, chủ trương chủng tộc, chủ trương kiêu mạn, người ấy cách biệt quá xa đối với sự chứng đắc Minh Hạnh vô thượng của Ta.

Nà y Bà -tư-tra, nói về thọ sanh, về chủng tộc, về kiêu mạn, nói: ‘Nó đẹp lòng Ta, không đẹp lòng ta,’ vì chỗ ngồi, vì nước uống và vì sở học kinh sách thì cách biệt với sự chứng đắc Minh Hạnh vô thượng của ta.

“Lại nữa, nà y Bà -tư-tra, ở đây có ba giai cấp[08] khiến cho không phải tất cả mọi người cùng tranh luận với nhau, thiện và bất thiện lẫn lộn, được các bậc Thánh khen ngợi hoặc không khen ngợi. Thế nà o là ba? Đó là : dòng Sát-lợi, dòng Phạm chí, dòng Cư sĩ.

“Nà y Bà -tư-tra, ý ngươi thế nà o? Người Sát-lợi có sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo cho đến tà khiến; người Cư sĩ cũng vậy, chứ không phải Phạm chí (mới là m những chuyện đó chăng)?”

Bà -tư-tra rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, dòng Sát-lợi cũng có người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến tà kiến và dòng Phạm chí, Cư sĩ cũng vậy.”

Đức Thế Tôn hỏi:

“Nà y Bà -tư-tra, ý ngươi thế nà o? Chỉ có người Phạm chí mới xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến xa lìa tà kiến, được chánh kiến; còn Sát-lợi, Cư sĩ thì không như vậy chăng?”

Bà -tư-tra thưa rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, Phạm chí cũng có người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến xa lìa tà kiến, được chánh kiến, và Sát-lợi, Cư sĩ cũng vậy.”

Đức Thế Tôn hỏi:

“Nà y Bà -tư-tra, ý ngươi thế nà o? Nếu có vô lượng pháp ác, bất thiện, thì đó chỉ là việc là m của Sát-lợi, Cư sĩ, chứ không phải Phạm chí chăng? Và nếu có vô lượng pháp thiện, thì đó chỉ là việc là m của Phạm chí chứ chẳng phải Sát-lợi, Cư sĩ?”

Bà -tư-tra thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, nếu có vô lượng pháp ác, bất thiện thì hà ng Sát-lợi, Cư sĩ kia cũng có thể là m, mà Phạm chí cũng vậy. Nếu có vô lượng pháp thiện, thì Phạm chí cũng có thể là m, và Sát-lợi, Cư sĩ cũng vậy.”

“Nà y Bà -tư-tra, nếu có vô lượng pháp ác, bất thiện, mà tuyệt đối chỉ có Sát-lợi là m, chứ không phải Phạm chí là m, và nếu có vô lượng pháp thiện, mà tuyệt đối chỉ có Phạm chí là m chứ không phải Sát-lợi, Cư sĩ là m, thì các Phạm chí kia có thể nói như thế nà y, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm thiên.’ Vì sao? Nà y Bà -tư-tra, người ta thấy một nữ Phạm chí vừa mới lấy chồng, sau khi lấy chồng thì nà ng mang thai và sau đó lại thấy nà ng sanh ra một bé trai, hoăc là một bé gái. Nà y Bà -tư-tra, như vậy, các Phạm chí cũng y theo pháp thế gian sanh ra từ sản đạo, thế nhưng họ lại nói láo, vu báng Phạm thiên mà nói như thế nà y, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm thiên.’

“Nà y Bà -tư-tra, nếu một Thiện nam tử, bất luận chủng tộc hay tánh danh nà o, từ bỏ chủng tộc, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, theo Ta học đạo, thì có thể nói như thế nà y, ‘Phạm chí chúng tôi là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm thiên[09].’ Vì sao? Nà y Bà -tư-tra, vì Thiện nam tử ấy và o trong Chánh pháp luật của Ta, thọ lãnh Chánh pháp và Giới luật, đến được bờ bên kia, đoạn nghi, trừ hoặc, không có do dự, đối với Pháp của Đấng Thế Tôn đã được vô sở úy. Cho nên, người ấy đáng nói như thế nà y, ‘Phạm chí chúng ta là con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, hóa sanh từ Phạm thiên.’

“Nà y Bà -tư-tra, Phạm thiên đó là nói Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Bởi vì Phạm là Như Lai, Mát lạnh là Như Lai, Không phiền không nhiệt, Không lìa Như là Như Lai[10].

“Nà y Bà -tư-tra, ý ngươi thế nà o? Những người họ Thích có hạ ý yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Ba-tư-nặc, vua nước Câu-tát-la chăng?”

Bà -tư-tra thưa:

“Bạch Thế Tôn, có.”

Đức Thế Tôn hỏi:

“Nà y Bà -tư-tra, ý ngươi thế nà o? Nếu những người họ Thích hạ ý yêu kính, quý trọng, cúng dường, phụng sự vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thì như vậy, vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đối với bản thân có hạ ý, yêu kính, quý trọng, cúng dường, phụng sự Ta chăng?”

Đáp rằng:

“Những người họ Thích mà hạ ý, yêu kính, quý trọng, cúng dường, phụng sự vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, thì việc nà y không có gì lạ. Nếu vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la mà hạ ý, yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Đức Thế Tôn, thì việc nà y rất kỳ lạ.”

Đức Thế Tôn nói:

“Nà y Bà -tư-tra, vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la đối với bản thân Ta mà hạ ý, yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Ta, không phải với ý nghĩ rằng, ‘Sa-môn Cù-đà m thuộc chủng tộc rất cao, còn ta chủng tộc quá thấp. Sa-môn Cù-đà m tà i bảo rất nhiều, còn ta tà i bảo quá ít. Sa-môn Cù-đà m hình sắc rất đẹp, còn ta hình sắc thô kịch. Sa-môn Cù-đà m có oai thần lớn, còn ta oai thần quá ít. Sa-môn Cù-đà m có trí tuệ thiện còn ta có trí tuệ ác.’ Nhưng nà y Bà -tư-tra, vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-là chỉ vì yêu kính, tôn trọng Pháp và cúng dường Pháp, vì phụng sự Pháp cho nên đối với bản thân Ta, mà hạ ý, yêu quý, kính trọng, cúng dường, phụng sự Ta.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo rằng:

“Nà y Bà -tư-tra, có một lúc tất cả thế gian nà y đều hoại diệt. Khi thế gian nà y hoại, các chúng sanh sanh lên cõi trời Hoảng dục[11]; ở trong cõi ấy, sắc vi diệu, do ý hóa sanh. Tất cả chi tiết và các căn đều đầy đủ, dùng hỷ là m món ăn, tự thân phát sáng, bay lên hư không, sống lâu trong tịnh sắc[12].

“Nà y Bà -tư-tra, trong một thời gian quả đất nà y trà n ngập nước[13], do gió thổi qua và khuấy động trên mặt nước đóng lại một lớp tinh, hòa hiệp giống như sữa chín đóng váng và đông lại thà nh một lớp tinh. Cũng vậy, Bà -tư-tra, có một thời gian quả đất nà y trà n ngập nước, do gió thổi và khuấy động, trên mặt nước đông lại và hợp tụ hòa hợp thà nh một lớp tinh, từ đó sanh ra vị của đất[14], có sắc, có hương vị. Sắc nó như thế nà o? Giống như sắc của sanh tô, và sắc của thục tô. Và vị của nó như thế nà o? Như vị mật ong.

“Nà y Bà -tư-tra, có một thời gian khi thế giới nà y trở lại thời kỳ thà nh lập, có những chúng sanh, sanh trên cõi trời Hoảng dục, tuổi thọ hết, nghiệp hết, phước hết, mạng chung, sanh trở lại là m người, sanh và o thế gian nà y, cũng với sắc tướng thù diệu và do hóa sanh; tất cả chi tiết và các căn đều đầy đủ, dùng hỷ lạc là m thức ăn, tự thân phát sáng, bay trong hư không, sống lâu dà i trong tịnh sắc.

“Nà y Bà -tư-tra, bấy giờ ở trong thế giới đó không có mặt trời, mặt trăng, cũng không có tinh tú, không có ngà y đêm, không có một tháng hay nửa tháng, không có ngà y giờ, không có năm. Nà y Bà -tư-tra, ngay và o lúc đó, không có cha, không có mẹ, không có trai hay gái, lại cũng không có chủ nhân và tôi tớ, chỉ một loại chúng sanh như nhau mà thôi. Rồi có một chúng sanh tham ăn, không liêm khiết, đã nghĩ như thế nà y, ‘Vị của đất như thế nà o? Ta thử dùng ngón tay móc một ít đất nà y nếm thử.’ Khi ấy chúng sanh nà y bèn dùng ngón tay móc đất đó mà nếm thử. Như vậy, chúng sanh đã biết vị của đất. Người ấy lại muốn được ăn. Bấy giờ chúng sanh đó lại nghĩ như thế nà y, ‘Sao lại phải nếm vị của đất bằng ngón tay cho nhọc sức. Ta hãy dùng bà n tay vóc lấy vị đất nà y mà ăn.’ Khi đó chúng sanh nà y bèn dùng tay vóc lấy vị đất nà y mà ăn.

“Trong số các chúng sanh kia lại có những chúng sanh khác thấy các chúng sanh nà y mỗi người dùng tay vóc lấy vị đất mà ăn, bèn nghĩ như thế nà y, ‘Cái nà y thật là hay, cái nà y thật là khoái, chúng ta có thể dùng tay vóc lấy vị đất nà y để ăn.’ Rồi các chúng sanh liền dùng tay vóc lấy vị đất nà y để ăn. Khi họ đã dùng tay vóc lấy vị đất nà y để ăn như vậy và như vậy, thân họ trở thà nh dà y, trở thà nh nặng, thà nh cứng. Nếu trước kia họ có sắc thanh tịnh, thì lúc ấy bị mất, tự nhiên sanh ra tối tăm.

“Nà y Bà -tư-tra, pháp của thế gian tự nhiên có điều nà y: nếu sự tối tăm đã sanh ra, thì mặt trời, mặt trăng tất xuất hiện. Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện, thì các tinh tú cũng xuất hiện; tinh tú xuất hiện, tức thì thà nh ngà y đêm, thà nh ngà y đêm rồi, thì liền có một tháng hay nửa tháng có ngà y giờ và có năm. Họ ăn vị của đất và sống đời rất lâu.

“Nà y Bà -tư-tra, nếu chúng sanh nà o ăn nhiều vị của đất, thì sắc da thà nh xấu, nếu ăn ít vị của đất thì sắc da đẹp; từ đó có sự phân biệt hơn kém về mà u sắc. Nhân mà u sắc hơn kém cho nên mỗi mỗi chúng sanh có những lời khinh mạn lẫn nhau, ‘Sắc da của ta hơn, sắc của ông không bằng.’ Nhân mà u sắc hơn kém mà sanh ra sự khimh mạn và ác pháp, cho nên vị của đất liền mất. Khi vị của đất đã mất, các chúng sanh kia liền tụ tập nhau lại, khóc lóc não nề và nói như thế nà y, ‘Hỡi ôi vị đất! Hỡi ôi vị đất!’ Cũng như người đời nay ngậm tan vật ngon; chúng không nói chữ của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa[15]. Sự quán sát ý nghĩa cũng được nói như vậy.

“Nà y Bà -tư-tra, sau khi vị của đất mất, chất béo của đất[16] có sắc, hương, vị sanh ra cho các chúng sanh kia. Sắc nó như thế nà o? Như sắc của sanh tô và thục tô. Vị như thế nà o? Như vị của mật ong. Chúng sanh kia ăn chất béo của đất nà y mà tồn tại ở thế gian trong một thời gian lâu dà i.

“Nà y Bà -tư-tra, nếu chúng sanh nà o ăn chất béo của đất nhiều thì sắc da xanh xấu, người ăn chất béo của đất ít thì có sắc da đẹp, từ đó có sự phân biệt hơn kém về sắc da. Nhân mà u sắc có hơn kém cho nên mỗi mỗi chúng sanh cùng nói nhau lời khinh mạn: ‘Sắc của ta hơn, sắc của ông không bằng.’ Do sắc hơn kém mà sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho nên chất chất béo của đất liền tiêu mất. Khi chất béo của đất tiêu mất, các chúng sanh kia liền nhóm họp nhau lại, khóc lóc não nề và nói như thế nà y: ‘Hỡi ơi chất béo của đất! Hỡi ơi chất béo của đất!’ Cũng như người đời nay bị người khác mắng; chúng không nói chữ của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa[17]. Sự quán sát ý nghĩa cũng được nói như vậy.

“Nà y Bà -tư-tra, sau khi chất béo của đất tiêu mất, một loại bà -la[18] có sắc, có hương vị sanh ra cho các chúng sanh kia. Sắc nó như thế nà o? Như sắc hoa đà m. Vị nó như thế nà o? Như vị mật ong tinh chất. Họ ăn dây bà -la nà y mà tồn tại ở thế gian trong thời gian lâu dà i.

“Nà y Bà -tư-tra, nếu chúng sanh nà o ăn bà -la nhiều thì sắc da thà nh xấu, người ăn ít bà -la thì có sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về mà u da. Nhân sắc có hơn kém, cho nên mỗi mỗi chúng sanh nói lời khinh mạn với nhau rằng, ‘Sắc ta hơn, sắc ông không bằng.’ Nhân sắc có hơn kém mà sanh khinh mạn và ác pháp, cho nên bà -la liền diệt mất. Khi bà -la đã diệt mất, các chúng sanh kia liền nhóm họp nhau lại, khóc lóc não nề và nói như thế nà y: ‘Hỡi ơi bà -la! Hỡi ơi bà -la!’ Cũng như người đời nay bị người khác mắng; chúng không nói chữ của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa. Sự quán sát ý nghĩa cũng được nói như vậy.

“Nà y Bà -tư-tra, sau khi bà -la diệt mất, loại nếp tự nhiên[19] sanh ra cho các chúng sanh kia. Trắng tinh, không vỏ cũng không có cám, trấu; dà i bốn tấc. Sớm mai cắt chiều sanh, chiều cắt sáng sanh; lúa chín có vị muối, không có mùi sống. Chúng sanh ăn loại nếp tự nhiên nà y. Sau khi họ ăn nếp tự nhiên nà y, tức thì sanh ra sự khác nhau về thân hình. Hoặc có chúng sanh trở thà nh hình dạng con trai, hoặc có chúng sanh trở thà nh hình dạng con gái. Sau khi các chúng sanh nà y trở thà nh hình trai và hình gái, họ thấy nhau bèn nói như thế nà y: ‘Ôi, ác chúng sanh ra đời! Ác chúng sanh ra đời!’

“Nà y Bà -tư-tra, ác chúng sanh đó là nói người đà n bà . Khi chúng sanh kia đã trở thà nh hình trai và hình gái, thì họ nhìn ngắm nhau. Nhìn ngắm nhau rồi, nhìn kỹ nhau bằng mắt; mắt nhìn kỹ rồi, thì họ nhiỠm nhau; nhiỠm nhau rồi, liền sanh bức rức; bức rức rồi, thì ái trước nhau; ái trước nhau rồi, họ là m chuyện dâm dục. Nếu họ bị bắt gặp trong lúc hà nh dục, người ta bèn dùng cây, đá, hoặc dùng gậy, đất cục mà đánh, ném, và nói như thế nà y: ‘Ôi, bọn họ xấu xa, là m việc phi pháp! Tại sao chúng sanh là m chung nhau chuyện như vậy?’ Cũng như người thời nay khi rước vợ mới người ta rải hoa, hay buông rũ những trà ng hoa và nói như thế nà y: ‘Chúc cô dâu bình an! Chúc cô dâu bình an!’[20] Đó là việc mà xưa kia thì người ta ghét, còn nay thì người ta yêu.

“Nà y Bà -tư-tra, cũng có chúng sanh ghét pháp bất tịnh, ghê tởm, sỉ nhục, hổ thẹn, người đó liền xa đám đông[21] từ một ngà y, hai ngà y, đến sáu bảy ngà y, nửa tháng, một thà ng cho đến một năm.

“Nà y Bà -tư-tra, nếu chúng sanh nà o muốn là m việc bất tịnh nà y, thì người ấy bèn là m nhà và nói như thế nà y: ‘Ta là m chuyện xấu trong nà y! Ta là m chuyện xấu trong nà y!’ Nà y Bà -tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên trong thế gian có pháp dựng nhà . Đó là trí bậc nhất kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn quý giữa loà i người[22].

“Ở đây, có một chúng sanh lười biếng. Người ấy nghĩ như thế nà y: ‘Tại sao ta phải mỗi bữa đi lấy nếp tự nhiên? Sao ta không lấy luôn cho đủ ăn một ngà y?’ Người ấy bèn gom lấy gạo ăn cho một ngà y. Khi ấy, có một chúng sanh khác nói với người ấy rằng: ‘Nà y Chúng sanh, ông đi lấy gạo với tôi chăng?’ Vị ấy trả lời: ‘Tôi đã gom đủ. Ông đi lấy một mình vậy.’

“Chúng sanh kia nghe rồi, liền nghĩ như thế nà y: ‘Thật là hay, thật là khoái! Ta cũng có thể lấy luôn gạo ăn cho ngà y mai chăng?’ Người nà y bèn lấy luôn gạo cho ngà y mai.

“Lại có một chúng sanh khác nói với người nà y rằng: ‘Nà y Chúng sanh! Ông hãy đi lấy gạo với tôi chăng?’ Chúng sanh kia đáp: ‘Tôi đã lấy luôn gạo cho ngà y mai, ông đi một mình vậy.’ Chúng sanh nà y nghe rồi, bèn nghĩ như thế nà y: ‘Thật là hay, thật là khoái! Ta nay nên lấy gạo ăn luôn trong bảy ngà y.’ Khi chúng sanh nà y lấy loại lúa tự nhiên tích tụ rất nhiều; lúa nếp được cất bèn sanh ra vỏ và cám, cắt lấy cho đến bảy ngà y cũng sanh vỏ và cám. Cắt đến đâu, chỗ ấy không còn mọc trở lại nữa.

“Bấy giờ, các chúng sanh mới cùng nhóm họp, khóc lóc não nề mà nói thế nà y: ‘Chúng ta đã là m phát sanh pháp ác, bất thiện; bọn chúng ta cất chứa gạo để lâu. Vì sao? Bởi lẽ, chúng ta trước kia có sắc tướng thù diệu, và do ý hóa sanh; tất cả chi tiết và các căn đều đầy đủ, dùng hỷ là m thức ăn, tự nhiên chói sáng, bay trong hư không, sống lâu dà i với tịnh sắc. Chúng ta sanh ra vị của đất có sắc, hương, vị. Sắc như thế nà o? Như sắc của sanh tô và thục tô. Vị thế nà o? Vị như mật ong. Chúng ta ăn vị của đất và tồn tại trong một thời gian lâu dà i. Chúng ta nếu ăn nhiều vị của đất, sắc da thà nh xấu. Người ăn vị của đất ít, thì có sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về mà u sắc. Nhân mà u sắc hơn kém, cho nên chúng ta mỗi người cùng nói lời khinh mạn nhau rằng: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Nhân sắc có hơn kém mà sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho nên vị của đất liền tiêu mất. Sau khi vị của đất tiêu mất, loại chất béo của đất, có sắc, hương, vị sanh ra cho chúng ta. Sắc như thế nà o? Như sắc của sanh tô, thục tô. Vị như thế nà o? Vị như mật ong. Chúng ta ăn chất béo của đất mà tồn tại ở thế gian trong một thời gian lâu dà i. Người nà o ăn chất béo của đất nhiều thì sắc da thà nh xấu; người ăn chất béo của đất ít thì sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về mà u sắc. Vì sắc có hơn kém, cho nên chúng ta mỗi người cùng nói lời khinh mạn nhau: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Vì sắc hơn kém mà sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho nên chất béo của đất liền tiêu mất. Sau khi chất béo của đất tiêu mất, loại bà -la, có sắc, hương, vị sanh ra cho chúng ta. Sắc như thế nà o? Sắc như hoa đà m. Vị như thế nà o? Như vị mật ong tinh chất. Chúng ta ăn bà -la mà tồn tại ở thế gian lâu dà i. Người nà o nếu ăn bà -la nhiều, thì sắc da thà nh xấu, người ăn bà -la ít, thì có sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về mà u sắc. Nhân sắc có hơn kém cho nên chúng ta mỗi người cùng nói lời khinh mạn nhau rằng: ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Nhân sắc hơn kém mà sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho nên bà -la liền tiêu mất. Sau khi bà -la mất, loại nếp tự nhiên sanh ra cho chúng ta, trắng tinh, không vỏ, cũng không cám, trấu; dà i bốn tấc, sáng cắt chiều sanh, chiều cắt sáng sanh, lúa chín có chất muối, không có mùi sống. Chúng ta ăn nếp tự nhiên kia. Khi chúng ta tích tụ loại nếp tự nhiên rất nhiều; nếp lúa được cất liền sanh vỏ, cám, cắt cho đến bảy ngà y cũng sanh vỏ, cám; cắt đến đâu, chỗ đó không còn mọc trở lại nữa. Vậy chúng ta phải là m thà nh ruộng, và cắm mốc chăng?’

“Rồi các chúng sanh ấy là m ruộng, gieo giống và cắm mốc. Trong khi đó có một chúng sanh đã có lúa của mình, còn và o ruộng người khác mà lấy trộm lúa. Người chủ ruộng thấy vậy bèn nói như thế nà y: ‘Chao ôi! Chúng sanh xấu ác đã ra đời! Tại sao ngươi là m như vậy? Ngươi có lúa của ngươi mà còn và o ruộng của người khác lấy trộm lúa; hãy đi đi. Về sau đừng là m như vậy nữa.’ Song chúng sanh kia vẫn đi lấy trộm lúa của người khác hai ba lần nữa. Người chủ ruộng cũng hỏi hai ba lần, thấy rồi, liền nắm tay thoi chúng sanh kia, lôi đến chỗ đông người và nói với mọi người rằng: ‘Chúng sanh nà y có lúa của nó mà còn và o ruộng tôi lấy trộm lúa tôi.’ Chúng sanh kia cũng nói với mọi người rằng: ‘Chúng sanh nà y nắm tay tôi, thoi tôi, lôi tôi đến chỗ đông người.’ Khi ấy, các chúng sanh kia cùng nhau nhóm họp, khóc lóc não nề và nói như thế nà y: ‘Chúng ta sanh pháp ác bất thiện, đó là phải giữ ruộng vậy. Vì sao? Vì gìn giữ ruộng, cho nên mới cùng nhau tranh tụng, có mất mát, kiệt tận, có nói chuyện nhau bằng lời, có thoi nhau bằng nắm tay. Trong số đông nà y chúng ta hãy cử ra một người đoan chánh, có hình sắc rất đẹp đẽ, lập là m điền chủ. Nếu người nà o đáng quở trách thì phải để cho ông ấy quở trách. Nếu người nà o đáng đuổi thì để cho ông ấy đuổi. Còn lúa bọn chúng ta thu được thì nên theo đúng như pháp chở đến cho ông ấy.’

“Khi ấy trong số chúng sanh kia có một người đoan chánh, hình sắc đẹp đẽ đệ nhất, họ bèn cử ra, lập là m điền chủ. Nếu có ai đáng quở trách thì ông ấy quở trách; nếu có ai đáng đuổi, thì ông ấy đuổi. Nếu có lúa thì họ đúng như pháp chở đến cho điền chủ. Điền chủ đó tức là Sát-lợi[23]. Là m cho chúng sanh hoan lạc đúng như pháp, thủ hộ và hà nh giới là vua[24]. Vua được gọi là vua vậy.

“Nà y Bà -tư-tra, đó la nhân duyên đầu tiên của dòng Sát-lợi trong thế gian. Đó là trí bậc nhất kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn quý giữa loà i người.

“Khi ấy, có chúng sanh cho rằng sự thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, liền từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi vô sự[25], là m nhà lá để ở và học Thiền. Người ấy từ chỗ vô sự, mỗi buổi sáng và o thôn ấp hay vương thà nh mà khất thực. Số đông chúng sanh kia thấy vậy liền bố thí cho, cung kính, tôn trọng và nói như thế nà y: ‘Chúng sanh nà y cho rằng thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, nên đã từ bỏ thủ hộ, nương nơi vô sự là m nhà lá để ở và học Thiền. Nà y chư Tôn, người nà y đã xả bỏ sự gây hại, pháp ác, bất thiện.’ Đó là Phạm chí. Do đó Phạm chí được gọi là Phạm chí vậy[26].

“Chúng sanh kia học Thiền mà không đắc Thiền, học khổ hạnh mà không đắc khổ hạnh, học viỠn ly mà không đắc viỠn ly, học nhất tâm mà không đắc nhất tâm, học tinh tấn mà không được tinh tấn, liền bỏ chỗ vô sự, trở về thôn ấp, vương thà nh, là m nhà bốn trụ, tạo lập kinh sách. Các chúng sanh kia thấy vậy, bèn không bố thí, không cung kính, tôn trọng nữa và nói như thế nà y: ‘Chúng sanh nà y trước kia coi thủ hộ là bệnh, thủ hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, bèn từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi vô sự, là m nhà lá để ở và học Thiền, nhưng không thể đắc Thiền, học khổ hạnh mà không đắc khổ hạnh, học viỠn ly mà không được viỠn ly, học nhất tâm mà không được nhất tâm, học tinh tấn mà không được tinh tấn liền bỏ nơi vô sự, trở về thôn ấp, vương thà nh, là m nhà bốn trụ, tạo lập kinh sách. Nà y chư Tôn, người nà y lại học sự bác văn, không học Thiền nữa. Bác văn do đó được gọi là bác văn vậy[27].

“Nà y Bà -tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên của dòng Phạm chí trong thế gian. Đó là trí bậc nhất kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn quý giữa loà i người.

“Bấy giờ, các chúng sanh khác, mỗi người đến mỗi phương mà là m ruộng; người thì đi về phương nà y mà là m nghề là m ruộng; người thì đi về phương kia mà là m nghề là m ruộng. Đó là dòng Phệ-xá.

“Nà y Bà -tư-tra, đây là nhân duyên đầu tiên có dòng Phệ-xá trong đời. Đó là trí bậc nhất kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như pháp là tôn quý giữa loà i người.

“Nà y Bà -tư-tra, khi thế gian khởi lên ba chủng tánh nà y rồi, thì liền biết có dòng Sa-môn thứ tư[28]. Tại sao trong thế gian có ba chủng tánh nà y rồi liền biết có dòng Sa-môn thứ tư? Trong dòng tộc Sát-lợi có những thiện nam tử hay tự quở trách mình, ghét pháp bất thiện, tự chán ghét pháp ác, bất thiện, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình học đạo, và suy nghĩ thế nà y: ‘Ta nên là m Sa-môn, tu Phạm hạnh.’ Người ấy bèn là m Sa-môn, tu Phạm hạnh. Thiện nam tử trong dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá cũng vậy, cũng tự quở trách, ghét pháp bất thiện, tự chán ghét pháp ác, bất thiện, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo, cũng nghĩ như thế nà y: ‘Ta nên là m Sa-môn, tu Phạm hạnh,’ bèn là m Sa-môn và tu Phạm hạnh.

“Nà y Bà -tư-tra, như vậy, trong thế gian khởi lên ba chủng tánh nà y rồi, thì liền biết có dòng Sa-môn thứ tư.

“Nà y Bà -tư-tra, nay Ta nói rộng về ba chủng tánh nà y. Nói rộng về ba chủng tánh nà y thế nà o? Một thiện nam tử thuộc chủng tộc Sát-lợi mà thân là m pháp bất thiện, khẩu, ý, là m pháp bất thiện, thì người đó khi thân hoại mạng chung, nhất định phải thọ khổ.

“Cũng vậy, thiện nam tử trong dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá, thân là m pháp bất thiện, khẩu, ý, là m pháp bất thiện, thì người đó khi thân hoại mạng chung, nhất định phải thọ khổ.

“Nà y Bà -tư-tra, một thiện nam tử thuộc dòng tộc Sát-lợi mà thân là m thiện pháp, khẩu, ý là m thiện pháp, thì người đó khi thân hoại chung, nhất định sẽ thọ lạc.

“Cũng vậy, thiện nam tử dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá, mà thân là m thiện pháp, khẩu, ý là m thiện pháp, thì người đó khi thân hoại mạng chung, nhất định sẽ thọ lạc.

“Nà y Bà -tư-tra, thiện nam tử thuộc dòng tộc Sát-lợi, thân là m hai hạnh, và giữ hộ hạnh[29], khẩu, ý là m hai hạnh và giữ hộ hạnh, thì người đó khi thân hoại mạng chung, sẽ thọ khổ và lạc.

“Cũng vậy, nà y Bà -tư-tra, thiện nam tử thuộc dòng tộc Phạm chí hay Phệ-xá, thân là m hai hạnh, và giữ hộ hạnh, khẩu, ý là m hai hạnh và giữ hộ hạnh, thì người đó khi thân hoại mạng chung, sẽ thọ khổ và lạc.

“Nà y Bà -tư-tra, thiện nam tử dòng tộc Sát-lợi tu bảy giác pháp, khéo tư duy và khéo quán sát, biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu, giải thoát rồi liền biết giải thoát, biết như thật: Sự sanh đã hết, Phạm hạnh đã lập, điều cần là m đã là m xong, sẽ không còn tái sanh nữa.

“Cũng vậy, thiện nam tử dòng tộc Phạm chí, dòng tộc Phệ-xá tu bảy giác pháp, khéo tư duy, khéo quán sát; người ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát khỏi hữu lậu, vô minh lậu, giải thoát rồi liền biết giải thoát, biết như thật: Sự sanh đã hết, Phạm hạnh đã lập, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh.

“Nà y Bà -tư-tra, như vậy, Ta đã phân biệt rộng rãi về ba chủng tánh nà y vậy.

“Phạm thiên đế chúa[30] nói bà i kệ:
Loà i hai chân, Sát-lợi tối tôn,
Đấy là chủ trương có chủng tộc.
Những ai cầu học Minh và Hạnh,
Vị ấy, Thiên, Nhân đều tán thán.

“Nà y Bà -tư-tra, Phạm thiên đế chúa khéo nói bà i kệ nà y chứ không phải không khéo, khéo ca ngơi, phúng tụng chứ không phải không khéo, khéo ngâm vịnh và nói, chứ không phải không khéo, nói như thế nà y:

Loà i hai chân, Sát-lợi tối tôn,
Đấy là chủ trương có chủng tộc.
Những ai cầu học Minh và Hạnh,
Vị ấy, Thiên, Nhân đều tán thán.
“Vì sao? Vì Ta cũng nói như vậy:
Loà i hai chân, Sát-lợi tối tôn,
Đấy là chủ trương có chủng tộc.
Những ai cầu học Minh và Hạnh,
Vị ấy, Thiên, Nhân đều tán thán.”

Đức Phật nói như vậy, Tôn giả Bà -tư-tra, Bà -la-bà và chư Tỳ-kheo nghe Phật nói, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Bản Hán, quyển 39. Pāli, D.27 Agaññasuttanta. Hán, biệt dịch, Trường A-hà m 5, “Kinh Tiểu Duyên”; No.10 Phật Thuyết Bạch Y Kim Trà ng Nhị Bà -la-môn Duyên Khởi Kinh, Tống, Thi Hộ dịch.
[02] Đông viên, Lộc tá»­ mẫu giảng đường 東 園 鹿 子 母 講 å ‚. Pāli: pubbārāme Migāra-mātu-pasāde.
[03] Bà -tư-tra 婆 私 吒. Pāli: Vāseṭṭha.
[04] Bà -la-bà 婆 ç¾ å©†. Pāli: Bhāradvāja.
[05] Cf. D.3 Ambaṭiha-suttanta: jātivādo vā vuccati, gottavādo vā vuccati manavādo vā vuccati, ’arahasi vā maṃ na vā maṃ tvaṃ arahasī ti, “thuyết về thọ sanh (huyết thống), thuyết về chủng tộc, thuyết về kiêu mạn, rằng ‘Ngươi xứng với ta; ngươi không xứng với ta’.”
[06] Chỗ ngồi và nước (Pāli: āsanaṃ vā udakaṃ vā), tiêu chuẩn ưu tiên giai cấp.
[07] Pāli, tham chiếu D.3 Ambaṭṭha, đã dẫn.
[08] Bản Pāli: bốn giai cấp, kể luôn cả sudda.
[09] Bản Pāli: Bhagavato’ mhi putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimito dhammadayāko, “Chúng tôi là con của Thế Tôn; sanh ra từ miệng của Thế Tôn; được sanh ra bởi Pháp; được sáng tạo bởi Pháp, là kẻ thừa tự Pháp”.
[10] Hán: lãnh thị Như Lai, vô phiền vô nhiệt, bất ly như, thị Như Lai 冷 是 如 來, 無 ç © 無 熱, 不 離 如, 是 如 來. Pāli: tathāgatassa h’etam... adhivacanaṃ, dhammakāyo iti pi brahmakāyo iti pi dhammabhÅ«to iti pi brahmabhÅ«to iti pi, “Những từ ngữ nà y đồng nghÄ©a với Như Lai, Pháp thân, Phạm thân, Pháp thể, Phạm thể”.
[11] Hoảng dục thiên 晃 昱 天. Pāli: Ābhassara. cũng dịch là Quang âm thiên, hay Cực quang thiên.
[12] Pāli: subhaṭṭhāyin, sống trong phước lạc thuần tịnh.
[13] Bản Pāli: ekodakī-bhūtaṃ... andhakāro andhakāra-timisā, chỉ toà n nước, một mà u đen sẩm tối tâm.
[14] Pāli: rasa-paṭhavī, vị đất, hay đất dưới dạng dịch vị (thể lỏng).
[15] Pāli: tad eva porāṇaṃ aggaññaṃ akkharaṃ anupatanti, na tv ev’ assa atthaṃ ājānanti, chúng nói theo văn tự ấy của thượng cổ, mà không biết ý nghĩa của nó.
[16] Hán: địa phì 地 肥. Pāli: bhÅ«mi-pappaá¹­aka, một thứ bánh (sá»­a bò trộn với gạo) cá»§a đất. No.1(5) dịch là địa bính 地 é¤ .
[17] Xem cht.15 trên.
[18] Bà -la 婆 ç¾ . Pāli: badālatā, một loại dây leo hay bò. No.1(5) dịch là lâm đằng 林 藤, dây sắn, hay dây leo rừng.
[19] Tự nhiên canh mỠ自 然 粳 米. Pāli: akaṭṭhapāko sāli, thứ thóc lúa tự chín, không cần canh tác.
[20] Trong bản Pāli: bị những người khác ném tro, bùn đất, hay phân bò, và nhiếc mắng.
[21] Trong bản Pāli, những con người hà nh dâm đầu tiên bị cộng đồng xa lánh.
[22] Pāli: dhammo hi... seṭṭho jane tasmiṃ diṭṭhe c’ eva dhamme abhisamparāyañ ca, “Pháp là tối thượng trong đời, trong hiện tại, và trong đời sau”.
[23] Định nghĩa từ sát-đế-lị; Pāli: khettānaṃ patīti...khattiyo, “Khattiya (sát-đế-lị), là người chủ của ruộng đất”.
[24] Định nghĩa từ vua, trong Pāli, từ rājā (vua) được nói là xuất xứ từ động từ rañjeti, là m vui lòng. Pāli: dhammena pare rañjetiit... rājā, “Vua, là người đúng như pháp mà là m vui lòng mọi người”.
[25] Pāli: araññāyatane, trong khu rừng vắng.
[26] Định nghĩa ngữ nguyên của từ Bà -la-môn; Pāli: pāpake akusale dhamme bāhentīti... brāhmaṇā, “Bà -la-môn là những người loại bỏ pháp ác bất thiện”. Từ brāhmaṇa được giải thích là do động từ bà heti: loại bỏ, tống khứ.
[27] Pāli, định nghĩa ajjhāyaka, hạng người có học thức: na dān’ ime jhāyantī i.. ajjhāyaka, “Họ không tu thiền, nên gọi họ là ajjhāyaka”. Theo ngữ nguyên nà y, ajjhāyaka (người bác văn) là do động từ jhāyati, tu thiền.
[28] Trong bản Pāli, giai cấp thứ tư là suddā (Thủ-đà -la).
[29] Hộ hà nh 護 行; chỉ hà nh vi thủ hộ. Bản Pāli không có từ nà y.
[30] Phạm thiên đế chúa 梵 天 帝 主. Pāli: Sanaṃ-kumāra Brahaman, Thuong đồng hình Phạm thiên (Phạm thiên trong hình dáng con nít).

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]