Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
202. Kinh Trì Trai
203. Kinh Bô-Lị-Ða
204. Kinh La-Ma
205. Kinh Ngũ Hạ Phần Kết
206. Kinh Tâm Uế
207. Kinh Tiá» n Mao (I)
208. Kinh Tiá» n Mao (II)
209. Kinh Bệ-Ma-Na-Tu
210. Kinh Tỳ-Kheo-Ni Pháp Lạc
211. Kinh Đại Câu-Hy-La
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI

207. KINH TIỄN MAO (I)[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại thà nh Vương xá, ở Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngà n hai trăm năm mươi người đang an cư mùa mưa.

Bấy giờ trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát và o thà nh Vương xá để khất thá»±c. Khất thá»±c xong, thu dọn y bát, rá»­a chân tay, Ngà i khoác y ni-sư-đà n trên vai và đi đến vườn Dị học trong rừng Khổng tước.  [02]

 Tại rừng Khổng tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một người Dị học tên là Tiá» n Mao [03] là một vị danh đức, là bậc Tông chá»§, được nhiều người tôn là m Thầy, có tiếng tăm lớn, nhiều người kính trọng ông đang ở giữa đám đông ồn à o, lớn tiếng, âm thanh huyên náo, luận bà n đủ mọi đề tà i súc sanh, [04] như: bà n chuyện vua chúa, bà n chuyện trộm cướp, bà n chuyện đấu tranh, bà n chuyện ăn uống, bà n chuyện áo chăn, bà n chuyện phụ nữ, bà n chuyện đà n bà , bà n chuyện con gái, bà n chuyện dâm nữ, bà n chuyện thế gian, bà n chuyện tà đạo, bà n chuyện trong biển; đại loại như thế, chúng tụ tập luận bà n đủ mọi đề tà i súc sanh.

Dị học TiỠn Mao thấy Phật từ xa đến, dặn dò chúng của mình rằng: ”Nà y các ông, hãy ngồi im lặng, người đang đến kia là Sa-môn Cù-đà m. Đồ chúng của ông ấy im lặng, thường ưa sự im lặng, khen ngợi sự im lặng. Ông ấy nếu thấy chúng ta im lặng, có thể sẽ đến thăm.”

Dị học TiỠn Mao dặn chúng im lặng, chính mình cũng im lặng mà ngồi.

Thế Tôn đi đến chỗ Dị học TiỠn Mao. Dị học TiỠn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay mà bạch Phật rằng:

“Kính chà o Sa-môn Cù-đà m, Sa-môn Cù-đà m đã lâu không đến đây. Mời Ngà i ngồi xuống chỗ nà y.”

Thế Tôn liền ngồi xuống chỗ ngồi TiỠn Mao đã trải sẵn. Dị học TiỠn Mao và Thế Tôn sau khi cùng nhau chà o hỏi, rồi lui ngồi một bên.

Thế Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà -di, [05]các ông vừa bà n luận những gì, do việc gì mà cùng nhóm họp ở đây?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, xin bỏ qua vấn đề nà y. Vấn đề nà y không hay ho gì. Sa-môn Cù-đà m nếu muốn nghe vấn đề nà y để sau nà y nghe cũng không khó gì.”

Thế Tôn hỏi như vậy ba lần rằng:

“Ưu-đà -di, các ông vừa bà n luận những vấn đề gì? Do việc gì mà cùng nhóm họp nơi đây?”

Dị học TiỠn Mao cũng đáp lại ba lần rằng:

“Bạch Cù-đà m, xin bỏ qua vấn đề nà y. Nó không hay ho gì. Sa-môn Cù-đà m nếu muốn nghe sau nà y nghe cũng không khó. Nhưng Sa-môn Cù-đà m ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói.

“Bạch Cù-đà m, chúng tôi cùng với số đông các Phạm chí nước Câu-tát-la cùng tụ tập ngồi ở học đường Câu-tát-la [06]  bà n luận như vầy, ”Thật tốt đẹp và lợi ích cho dân nước Ương-già Ma-kiệt-đà ! [07] Thật tốt đẹp và lợi ích cho người nước Ương-già Ma-kiệt-đà ! Chúng Đại phước điền [08]như thế cùng an cư mùa mưa tại thà nh Vương xá.

“Đó là có ngà i Phất-lan Ca-diếp [09]

 Vì sao? Bạch Cù-đà m, Phất-lan Ca-diếp là bậc Tông chá»§ danh đức, là m Thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, lãnh đạo đồ chúng lớn, được năm trăm dị học tôn trọng, cùng an cư mùa mưa tại thà nh Vương xá nà y.

“Cũng vậy, Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Sa-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phục Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi. Bạch Cù-đà m, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi là danh đức Tông chủ, là m Thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người đều kính trọng, thống lãnh đồ chúng lớn, được năm trăm dị học tôn trọng, cùng an cư mùa mưa ở thà nh Vương xá.

“Vừa rồi cùng bà n đến Sa-môn Cù-đà m rằng, ‘Sa-môn Cù-đà m nà y là bậc danh đức Tông chủ, là m Thầy mọi người có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lĩnh đại chúng Tỳ-kheo được một ngà n hai trăm người tôn trọng, cũng cùng nhau an cư mùa mưa tại thà nh Vương xá nà y.

“Bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, ‘Nay trong các Sa-môn, Phạm chí được tôn trọng nà y, ai là người được đệ tử cung kính, cúng dường, không bị đệ tử đúng theo pháp mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều nà y hoà n toà n không thể có, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi?’

“Bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, Phất-lan Ca-diếp nà y không được đệ tử hầu hạ, tôn trọng, cúng dường, bị đệ tử dùng pháp mà mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử nạn vấn rằng ‘Điều nà y hoà n toà n không thể được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi.

“Bạch Cù-đà m, thuở xưa Phất-lan Ca-diếp đã có lần ở trong chúng đệ tử giơ tay la lớn, ‘Các ông hãy dừng lại! Không có ai đến hỏi các ông. Người ta hỏi tôi, các ông không thể giải quyết việc nà y, nhưng ta có thể giải quyết được việc nà y’. Nhưng các đệ tử ngay trong lúc đó lại bà n luận việc khác nữa, không chờ ngươi nói xong vấn đề. Bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, như vậy, Phất-lan Ca-diếp nà y không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường. Bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng: ‘Điều nà y hoà n toà n không thể được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi liền bỏ đi.

“Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Sa-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phục Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi. Cũng vậy, bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, ‘A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi nà y, không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường, bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều nà y hoà n toà n không thể được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi.

“Bạch Cù-đà m, thuở xưa A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi đã có lần ở trong chúng đệ tử giơ tay la lớn rằng, ‘Các ông hãy dừng lại, không có ai đến hỏi các ông. Người ta hỏi tôi, các ông không thể giải quyết được việc nà y’. Nhưng các đệ tử ngay trong lúc đó, lại bà n luận việc khác không chờ ngươi nói xong. Bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, như vậy, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi, không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường mà bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều nà y hoà n toà n không thể được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi.

“Bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, Sa-môn Cù-đà m nà y được đệ tử hầu hạ, cung kính, tông trọng, cúng dường, cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều nà y hoà n toà n không thể được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi.

“Bạch Cù-đà m, thuở xưa Sa-môn Cù-đà m đã có lần nói pháp tại đại chúng, vô lượng trăm ngà n người vây quanh. Ngay bấy giờ có một người ngủ mà ngáy. Lại có một người bảo người kia rằng ‘Đừng có ngủ ngáy. Ông không muốn nghe Thế Tôn nói pháp vi diệu như cam lồ sao?’ Người kia liền im lặng không gây tiếng động nữa.

“Bạch Cù-đà m, chúng tôi lại nghĩ, như vậy Sa-môn Cù-đà m được đệ tử hầu hạ cung kính, tôn trọng, cúng dường, không bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều đó hoà n toà n không thể được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi liền bỏ đi.”

Thế Tôn nghe rồi liền hỏi TiỠn Mao rằng:

“Ưu-đà -di, ông thấy Ta có bao nhiêu pháp khiến cho các đệ tử hầu hạ cung kính, tôn trọng và cúng dường, thường theo Ta không rời?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Tôi thấy Cù-đà m có năm pháp khiến đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời. Những gì là năm? Sa-môn Cù-đà m trí túc về thô y, khen ngợi tri túc về thô y. Bởi vì Sa-môn Cù-đà m tri túc về thô y, khen ngợi tri túc về vải thô, nên tôi thấy tri túc đó là pháp thứ nhất mà Sa-môn Cù-đà m có thể khiến cho hà ng đệ tử phụng sự cung kính, tôn trọng cúng dường, thường theo không rời.

“Lại nữa, Sa-môn Cù-đà m tri túc về ăn uống đạm bạc, khen ngợi về tri túc đạm bạc. Bởi vì Sa-môn Cù-đà m tri túc về ăn uống đạm bạc, khen ngợi về tri túc ăn uống đạm bạc, nên tôi thấy Sa-môn Cù-đà m có pháp thứ hai khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng cúng dường, phụng sự thường theo không rời.

“Lại nữa, Sa-môn Cù-đà m ăn ít, khen ngợi sự ăn ít. Vì Sa-môn Cù-đà m ăn ít và khen ngợi sự ăn ít, nên tôi thấy Sa-môn Cù-đà m có pháp thứ ba khiến các đệ tử cung kính tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời.

“Lại nữa, Sa-môn Cù-đà m tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ, khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ. Vì Sa-môn Cù-đà m tri túc như vậy, nên tôi thấy đó là pháp thứ tư mà Sa-môn Cù-đà m có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, thường theo không rời.

“Lại nữa Sa-môn Cù-đà m tĩnh tọa và ngợi khen tĩnh tọa. [10] Vì vậy tôi thấy đó là pháp thứ năm mà Sa-môn Cù-đà m có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng hà nh thường theo không rời.

“Đó là năm pháp mà tôi thấy Sa-môn Cù-đà m có thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng hà nh, thường theo không rời.”

Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y Ưu-đà -di, Ta không phải do năm pháp ấy mà khiến các đệ tử cung kính tôn trọng, cúng dường thừa sự, thường theo không rời. Nà y Ưu-đà -di, áo ta mặc được cắt theo con dao Thánh [11] và nhuộm mà u sắc xấu xa. Như vậy, y Thánh được nhuộm mà u sắc xấu xa. Ưu-đà -di! Nhưng đệ tử Ta cũng có người trọn đời chỉ mặc áo phấn tảo do người ta bỏ, và cũng nói thế nà y, ‘Thế Tôn ta tri túc về thô y’, khen ngợi sự tri túc về thô y. Nà y Ưu-đà -di, nếu đệ tử ta nhận sự tri túc về thô y mà khen ngợi Ta, thì người đó do sự kiện nà y đã không cung kính tôn trọng, cúng dường phụng sự Ta, cũng không theo Ta.

“Lại nữa, nà y Ưu-đà -di, Ta ăn đồ ăn gạo nếp, nấu chín và không có hạt xép, vô lượng tạp vị. Ưu-đà -di, nhưng đệ tử Ta có người trọn đời khất thực, ăn đồ ăn đã bỏ, cũng lại nói rằng, ‘Thế Tôn ta tri túc về thô thực’, khen ngợi tri túc về thô thực. Ưu-đà -di, nếu đệ tử Ta nhân sự tri túc về ăn uống thô sơ, mà khen ngợi Ta, người ấy nhân sự kiện nà y đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, cũng không theo Ta.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta chỉ ăn bằng một trái cây bệ-la [12] hoặc bằng nửa bệ-la. Nhưng đệ tử của Ta có người ăn bằng một câu-tha [13], hoặc bằng nửa câu-tha, cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn ăn ít, khen ngợi sự ăn ít’. Nếu đệ tử Ta nhân sự ăn ít mà khen ngợi Ta, người ấy do sự kiện nà y đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự và theo Ta.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta hoặc ở trên lầu cao, hoặc trên nhà rạp. Ưu-đà -di, nhưng đệ tử của Ta có người trải qua chín mười tháng, suốt đêm ngủ ngoà i trời, cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn của Ta tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ, khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ’. Ưu-đà -di, nếu đệ tử Ta khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ nên khen ngợi Ta, thì người ấy do sự kiện nà y đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự Ta và cũng không theo Ta.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta thường sống trong sự náo nhiệt giữa Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Nhưng đệ tử của Ta có người quá nửa tháng mới nhập chúng một lần vì pháp thanh tịnh [14] cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn của Ta tĩnh tọa và khen ngợi sự tĩnh tọa’. Ưu-đà -di, nếu đệ tử Ta nhân sự tĩnh tọa mà khen ngợi Ta, vị ấy do sự kiện nà y đã không cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, cũng không theo Ta.

“Ưu-đà -di, Ta không có năm pháp nà y, khiến hà ng đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo không rời. Ưu-đà -di, Ta lại có năm pháp khác, khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời.

“Những gì là năm? Nà y Ưu-đà -di, Ta có đệ tử do giới vô thượng, [15] khen ngợi Ta rằng, ‘Thế Tôn có giới, đại giới, lời nói đúng theo việc là m, việc là m đúng theo lời nói’. Ưu-đà -di, nếu đệ tử Ta nhân giới vô thượng mà khen ngợi Ta thì vị ấy nhân điều nà y mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự thường theo Ta không rời.

“Lại nữa, nà y Ưu-đà -di, Ta có đệ tử, do vô thượng trí tuệ,[16] khen ngợi Ta, ‘Thế Tôn có trí tuệ, cực đại trí tuệ, nếu có ai đến bà n luận hay đối đáp, Ngà i đều khuất phục được. Nghĩa là đối với Chánh pháp luật, họ không thể nói. Đối với điều chính mình nói, họ cũng không thể nói’. Ưu-đà -di, nếu đệ tử nhân vô thượng trí tuệ, mà khen ngợi Ta, vị ấy nhân sự kiện nà y mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, theo Ta không rời.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta có đệ tử do vô thượng tri kiến, [17] khen ngợi Ta rằng, ‘Thế Tôn biết khắp chứ không phải không biết; thấy khắp chứ không phải không thấy. Ngà i nói pháp cho đệ tử có nhân chứ không phải không nhân, có duyên chớ không phải không duyên, có thể đáp chứ không phải không thể đáp, có xả ly chứ không phải không xả ly’. Ưu-đà -di, nếu đệ tử Ta nhân vô thượng tri kiến mà khen ngợi Ta, người ấy nhân sự kiện nà y mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo ta không rời.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta có đệ tử, do nhờm tởm mũi tên ái dục mà đến hỏi Ta về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo. Ta liền trả lời về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo. Ưu-đà -di, nếu có đệ tử đến hỏi Ta được trả lời xứng ý, khiến được hoan hỷ, người đó nhân sự kiện nà y mà cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, thường theo Ta không rời.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta vì các đệ tử hoặc nói Túc mạng trí thông, tác chứng, hoặc nói Lậu tận trí thông tác chứng minh đạt. Ưu-đà -di, nếu đệ tử Ta trong Chánh pháp luật nà y được thọ được độ, được đến bờ bên kia, không nghi không hoặc, ở trong thiện pháp không có do dự, người ấy nhân sự kiện nà y mà cung kính, cúng dường, tôn trọng, phụng sự Ta, thường theo ta không rời.

“Nà y Ưu-đà -di, Đó là năm pháp Ta có khiến cho các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, thường theo không rời.”

Bấy giờ Dị học TiỠn Mao, liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch vai áo mặt, chắp tay hướng về Phật bạch rằng: “Kỳ diệu thay! Hy hữu thay! Ngà i khéo nói những điều vi diệu thấm nhuần thân thể con cũng như cam lồ. Bạch Cù-đà m, cũng như mưa lớn, cõi đất nà y từ cao đến thấp thảy được thắm nhuần khắp cả. Cũng vậy, Sa-môn Cù-đà m nói cho chúng tôi những điều vi diệu, thấm nhuần thân thể chúng tôi cũng như cam lồ.

“Bạch Thế Tôn, tôi đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Thế Tôn, hôm nay con tự quy Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con là m Ưu-bà -tắc, kể từ hôm nay con trọn đời tự quy y cho đến mạng chung.”

Phật thuyết như vậy. Dị học TiỠn Mao sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Bản Hán, quyển 57. Tương đương Pāli, M.77. Mahā-sakuludāyi-suttaṃ.
[02] Khổng tước lâm Dị học viên 孔 雀 林 異 學 園, khu vườn cho các du sĩ, rừng nuôi công. Pāli: Moranivāpa paribbājakārāma.
[03] TiỠn Mao 箭 毛. Pāli: Sakuḷudāyi, và kể thêm tên hai du sĩ khác: Varadhara, Anugāra.
[04] Súc sanh luận 畜 生 論. Pāli: tiracchāna-kathā, luận bà n phiếm, vô ích. Đoạn kế kể các đề tà i được nói là súc sanh luận.
[05] Ưu-đà -di 優 陀 夷, tức tên gọi lược của TiỠn Mao; xem cht.3 trên. Pāli: Udāyi.
[06] Học đường å­¸ å ‚. Pāli: KutÅ«halasāla, nghị luận đường; chỉ nÆ¡i xảy ra cuộc thảo luận.
[07] Ương-già Ma-kiệt-đà 鴦 伽 摩 竭 陀. Pāli: AṠga-Magadhā, lúc nà y hai nước đang liên minh chính trị nên gọi chung như vậy.
[08] Chúng đại phước điền: những người là ruộng phước lớn, thường chỉ chúng Tỳ-kheo, nhưng ở đây cũng chỉ cho nhóm ngoại đạo khác.
[09] Phất-lan Ca-diếp, Pāli: Pūrāṇa-Kassapa và năm vị kế tiếp: Makkhali-Gosāla. Sañjaya-Belaṭṭhiputta, Nigaṇṭha-Nātaputta, Pakudha-Kaccāyana, được mệnh danh là Lục sư ngoại đạo. Về chủ trương của họ, xem kinh Sa-môn quả, No.1 (27) và D. 2.
[10] Yến tọa, ngồi nghỉ ngơi chỗ thanh vắng.
[11] Để bản: Thánh lực 聖 力. Tống-Nguyên-Minh: Thánh đao 聖 刀.
[12] Bệ-la thá»±c 鞞 ç¾ é£Ÿ. Pāli: veḷuvāhāra, thức ăn bằng trái cây veḷuva, một loại dưa (tên khoa học Aegle marmelos).
[13] Câu-tha thực 拘 拖 食, kosāhāra, một bát cơm.
[14] Pháp thanh tịnh, đây chỉ Giới bổn Tỳ-kheo, Pāli: Pātimokkhuddesāya, để tụng giới bổn Pātimokkha.
[15] Vô thượng giới. Pāli: adhisīla, tăng thượng giới.
[16] Vô thượng trí tuệ. Pāli: adhipaññā, tăng thượng tuệ.
[17] Vô thượng tri kiến. Pāli: abhikkaantañāṇadassana, tri kiến siêu việt.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]