Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
202. Kinh Trì Trai
203. Kinh Bô-Lị-Ða
204. Kinh La-Ma
205. Kinh Ngũ Hạ Phần Kết
206. Kinh Tâm Uế
207. Kinh Tiá» n Mao (I)
208. Kinh Tiá» n Mao (II)
209. Kinh Bệ-Ma-Na-Tu
210. Kinh Tỳ-Kheo-Ni Pháp Lạc
211. Kinh Đại Câu-Hy-La
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI

208. KINH TIỄN MAO (II)[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại thà nh Vương xá, ở Trúc lâm vườn Ca-lan-đa cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngà n hai trăm năm mươi người, an cư mùa mưa.

Bấy giờ, trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát và o thà nh Vương xá để khất thực. Khất thực xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, Ngà i khoác ni-sư-đà n trên vai và đi đến vườn Dị học, trong rừng Khổng tước. Tại rừng Khổng tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một người Dị học tên là TiỠn Mao là một danh đức, bậc tông chủ, được mọi người tôn là m thầy, có tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lãnh đồ chúng đông đảo, được năm trăm vị dị học tôn trọng. Vị nà y ở giữa một đại chúng đang ồn à o, nhiỠu loạn, nói năng lớn tiếng, bà n luận đủ mọi vấn đề súc sanh, tức là vấn đề vua chúa, về giặc, về việc đấu tranh, việc ăn uống, về y phục, về đà n bà , về con gái, về dâm nữ, về thế gian, về đồng trống, về dưới biển và việc nước, việc dân. Những người ấy cùng nhau nhóm họp ngồi bà n luận về những vấn đề như súc sanh vậy.

Dị học TiỠn Mao thấy Phật từ xa đến, dặn đồ chúng của mình rằng: ”Nà y các ông, hãy ngồi im lặng. Người đang đến kia là Sa-môn Cù-đà m, đồ chúng của ông ấy im lặng, thường ưa sự im lặng, khen ngợi sự im lặng. Ông ấy nếu thấy chúng ta im lặng, có thể đến thăm.

Dị học TiỠn Mao dặn đồ chúng im lặng, chính mình cũng im lặng mà ngồi.

Thế Tôn đi đến chỗ Dị học TiỠn Mao. Dị học TiỠn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay hướng về Phật bạch rằng:

“Kính chà o Sa-môn Cù-đà m, Sa-môn Cù-đà m đã lâu không đến đây, mời Ngà i ngồi xuống chỗ nà y.”

Thế Tôn liền ngồi xuống chỗ ngồi TiỠn Mao đã trải sẵn. Dị học TiỠn Mao và Thế Tôn, sau khi cùng nhau chà o hỏi, rồi lui ngồi một bên.

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, các ông vừa bà n luận những gì? Do việc gì mà cùng nhau ngồi họp ở đây? Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, xin bỏ qua vấn đề nà y, vấn đề nà y không hay ho gì. Sa-môn Cù-đà m muốn nghe vấn đề nà y để sau nà y nghe cũng không khó gì.”

Thế Tôn hỏi như vậy ba lần rằng:

“Ưu-đà -di, vừa bà n luận những gì? Do việc gì mà nhóm họp ngồi đây?”

Dị học TiỠn Mao cũng đáp lại ba lần rằng:

“Bạch Cù-đà m, xin bỏ qua vấn đề nà y, nó không hay ho gì, Sa-môn Cù-đà m nếu muốn nghe, sau nà y nghe cũng không khó. Nhưng nếu Sa-môn Cù-đà m ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói.[02]

“Bạch Cù-đà m, tôi có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tà i, khi nghe có người nói: ‘Thật sự có Tát-vân-nhiên, [03] thấy tất cả, biết tất cả, không cái gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi liền vấn sự vị ấy, nhưng vị ấy không biết. Bạch Cù-đà m, tôi nghĩ như vầy, ‘Đây là những ai?’.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Nà y Ưu-đà -di, ông có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tà i, nhưng ai nói, ‘Thật sự có Tát-vân-nhiên, biết tất cả, thấy tất cả, không có gì không biết, không có gì không thấy’ nhưng khi ông đến vấn sự, thì vị ấy không biết?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, đó là Bất-lan Ca-diếp. Vì sao? Bạch Cù-đà m, vì Bất-lan Ca-diếp tự cho là thật có Tát-vân-nhiên, biết tất cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy. Tôi có sách lự, có tư duy, trụ trong sách lự, trụ trong tư duy có trí tuệ, có biện tà i; tôi đến vấn sự. Nhưng vị ấy không biết. Bạch Cù-đà m, vậy nên tôi nghĩ thế nà y, ‘Đây là những ai?’

“Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Bà -nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phù Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi, các vị nà y cũng vậy. Bạch Cù-đà m, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà -lợi tự cho thật sự có Tát-vân-nhiên, biết tất cả thấy tất cả, không cái gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi có sách lự, có tư duy, trú trong sách lự, trú trong tư duy, có trí tuệ, có biện tà i, tôi đến vấn sự những vị ấy không biết. Bạch Cù-đà m, vậy nên tôi khởi ý nghĩ rằng, ‘Đây là những ai?’

“Bạch Cù-đà m, vậy nên tôi lại suy nghĩ, ‘Như vậy ta phải đến chỗ Sa-môn Cù-đà m để hỏi những việc quá khứ. Sa-môn Cù-đà m ắt có thể đáp những việc quá khứ của ta. Ta phải đến chỗ Sa-môn Cù-đà m, hỏi những việc vị lai, Sa-môn Cù-đà m ắt sẽ đáp những việc vị lai của ta. Lại nữa, ta tùy những việc mà hỏi cùng Sa-môn Cù-đà m, ắt Sa-môn Cù-đà m cũng tùy mà trả lời những việc ta hỏi.”

Thế Tôn đáp rằng:

“Ưu-đà -di! Thôi! Thôi, ông luôn luôn có dị kiến, dị nhẫn, dị lạc, dị dục, dị ý, nên không thấu triệt ý nghĩa những điều Ta nói. Ưu-đà -di, Ta có đệ tử, có nhân, có duyên, nhớ được vô lượng đời sống về trước, trong quá khứ, nghĩa là một đời, hai đời, trăm đời, ngà n đời, thà nh kiếp, bại kiếp, vô lượng thà nh bại kiếp, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ lâu như vậy, chết như vậy, từ đây sanh tử ra kia, từ kia sanh tử ra đây. Ta sanh tại đây, họ như vậy, tên như vậy, sống như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, sống lâu như vậy, trú lâu như vậy, thọ chung như vậy. Vị ấy đến hỏi ta việc quá khứ, Ta đáp việc quá khứ cho vị ấy. Ta cũng đến hỏi việc quá khứ, vị ấy cũng đáp việc quá khứ cho Ta. Ta tùy theo sự việc đó mà hỏi, vị đó cũng tùy theo việc Ta hỏi mà đáp.

“Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta có đệ tử thanh tịnh thiên nhãn, vượt quá người thường, thấy chúng sanh nà y, khi sanh khi chết, sắc đẹp sắc xấu, sắc diệu hay bất diệu, qua lại chỗ thiện hay bất thiện, tùy theo sự thọ nghiệp của chúng mà thấy đúng như thật. Nếu chúng sanh nà y thà nh tựu thân ác hạnh, thà nh tựu khẩu và ý ác hạnh, vu báng Thánh nhân, tà kiến, thà nh tựu nghiệp tà kiến, người ấy do nhân duyên nà y, khi thân hoại mạng chung ắt đến chỗ dữ, sanh và o trong địa ngục. Nếu chúng sanh nà y thà nh tựu thân diệu hạnh, thà nh tựu khẩu và ý diệu hạnh, không vu báng Thánh nhân, chánh kiến, thà nh tựu nghiệp chánh kiến; người ấy do nhân duyên nà y, khi thân hoại mạng chung ắt sanh lên chỗ thiện, được sanh lên trời. Người đó đến hỏi Ta việc vị lai, Ta đáp việc vị lai cho họ; ta cũng hỏi việc vị lai nơi họ, họ cũng đáp việc vị lai cho ta; ta tùy theo việc người ấy hỏi mà đáp, người ấy cũng tùy theo việc ta hỏi mà đáp.”

Dị học TiỠn Mao bạch rằng:

“Bạch Cù-đà m, nếu như vậy, tôi cà ng trở thà nh không biết, không thấy, cà ng trở thà nh ngu si, rớt và o ngu si. Nghĩa là vì Sa-môn Cù-đà m nói như vầy, ‘Ưu-đà -di! Thôi! Thôi! Ông luôn luôn dị kiến, dị nhân, dị lạc, dị dục và dị ý, nên không thấu triệt ý nghĩa những điều ta nói. Ưu-đà -di, Ta có đệ tử, có nhân có duyên, nhớ được vô lượng đời sống về trước trong quá khứ, nghĩa là một đời, hai đời, trăm đời, ngà n đời, thà nh kiếp, bại kiếp, vô lượng thà nh kiếp, vô lượng bại kiếp, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ lâu như vậy, mạng chung như vậy, từ đây sanh tử ra kia, từ kia sanh tử ra đây, ta sanh tại đây, họ như vậy, tên như vậy, sống lâu như vậy, ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, trú lâu như vậy, mạng chung như vậy. Vị ấy đến hỏi ta việc quá khứ, ta đáp việc quá khứ cho vị ấy; ta cũng đến hỏi vị ấy việc quá khứ, vị ấy cũng đáp việc quá khứ cho ta. Ta theo sự việc người đó hỏi mà đáp, người đó cũng tùy theo sự việc ta hỏi mà đáp. Lại nữa, Ưu-đà -di, Ta có đệ tử thanh tịnh thiên nhãn, vượt quá người thường, thấy chúng sanh nà y khi sanh khi tử, sắc đẹp sắc xấu, sắc diệu hay bất diệu, qua lại chỗ thiện hay chỗ bất thiện, tùy theo sự tạo nghiệp của chúng sanh nà y mà thấy như thật. Nếu chúng sanh nà y thà nh tựu thân ác hạnh, thà nh tựu khẩu, ý ác hạnh, vu báng Thánh nhân, tà kiến, thà nh tựu nghiệp tà kiến, người ấy do nhân duyên nà y khi thân hoại mạng chung, ắt đến chỗ ác, sanh trong địa ngục. Nếu chúng sanh nà y thà nh tựu thân diệu hạnh, khẩu, ý diệu hạnh, không vu báng Thánh nhân, chánh kiến, thà nh tựu nghiệp chánh kiến, người ấy do nhân duyên nà y khi thân hoại mạng chung ắt sanh lên chỗ thiện, được sanh lên trời. Người đó đến hỏi ta việc vị lai, ta đáp việc vị lai cho họ. Ta cũng hỏi việc vị lai nơi vị ấy, vị ấy cũng đáp việc vị lai cho ta. Ta tùy theo việc người ấy hỏi mà đáp, người ấy cũng tùy việc ta hỏi mà đáp’.

“Bạch Cù-đà m, tôi đối với đời sống nà y là m những gì đã là m, được những gì đã được, nhưng vẫn không thể nhớ huống gì có thể nhớ được sự việc trong vô lượng đời sống về trước, có nhân có duyên sao? Bạch Cù-đà m, tôi còn không thể thấy con quỷ Phiêu phong[04] thì là m gì mà được thiên nhãn thanh tịnh vượt qua người thường, thấy chúng sanh nà y khi chết, khi sống, sắc tốt, sắc xấu, đẹp hoặc không đẹp, đưa đến chỗ thiện hoặc chỗ bất thiện tùy sự tạo nghiệp của chúng sanh nà y, thấy đó như thật.

“Bạch Cù-đà m, tôi lại nghĩ như vầy, ‘Nếu Sa-môn Cù-đà m hỏi ta vấn đề theo Thầy học pháp, hoặc giả có thể đáp khiến Ngà i vừa ý.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, ông theo Thầy học những pháp gì?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, người đó nói, ‘Sắc vượt quá sắc, sắc kia tối thắng, sắc kia tối thượng.[05]“

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, sắc là gì?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, nếu sắc nà o không có sắc khác tối thượng hơn, tối diệu hơn là tối thắng hơn; vậy sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng.”

Thế Tôn bảo rằng:

“Ưu-đà -di, cũng như có người nói như vầy, ‘Nếu trong nước có người con gái rất đẹp, ta muốn được người con gái đó’. Nếu có người hỏi người đó như vầy, ‘Ông biết trong nước có người con gái rất đẹp, nhưng có biết tên gì, họ gì, sanh sống như thế nà o? Là cao hay thấp, thô hay tế, trắng hay đen, hoặc không trắng không đen, là con gái Sát-đế-lợi, con gái Phạm chí, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc?’ Người đó đáp, ‘Tôi không biết’. Người kia lại hòi, ‘Ông không biết, không thấy trong nước có người con gái rất đẹp, tên họ như vậy, sanh sống như vậy, dà i, ngắn, thô, tế, trắng, đen, không trắng không đen, con gái Sát-lợi, con gái Phạm chí, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc, mà lại nói như vầy, ‘Ta muốn được người con gái đó được ư’?’

“Cũng vậy, Ưu-đà -di, ông nói như vầy, ‘Người đó nói sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thắng. Nhưng khi hỏi sắc đó thì ông lại không biết.”

Dị học TiỠn Mao thưa rằng:

“Bạch Cù-đà m, cũng như tinh và ng tử ma là thứ cực diệu, người thợ và ng khéo mà i dũa, sửa sang khiến cho trong suốt, nhờ dùng tấm lụa trắng đem giữa nắng, sắc của nó cực diệu, ánh sáng chiếu sáng lấp lánh. Cũng vậy, bạch Cù-đà m, tôi nói, ‘Sắc đó vượt hơn sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng’.”

Thế Tôn bảo rằng:

“Ưu-đà -di, nay Ta hỏi ông, tùy theo chỗ hiểu mà đáp. Ưu-đà -di, ý ông nghĩ sao? Và ng ròng tử ma nhờ dùng lụa trắng, để giữa nắng mà sắc của nó cực diệu chiếu sáng lấp lánh, và ánh sáng con đom đóm trong đêm tối chiếu sáng lấp lánh, trong hai ánh sáng đó, cái nà o tối thượïng, tối thắng?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, ánh sáng con đom đóm đối với ánh sáng của và ng ròng tử ma thì ánh sáng đom đóm tối thượng, tối thắng.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng lấp lánh của đom đóm trong đêm tối và ánh sáng lấp lánh của đèn dầu trong đêm tối, trong hai ánh sáng đó, cái nà o tối thượng, tối thắng?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, ánh sáng đèn dầu đối với ánh sáng đom đóm, thì ánh sáng đèn dầu tối thượng, tối thắng.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng đèn dầu trong đêm tối và lửa đống cây lớn trong đêm tối, trong hai ánh sáng đó, cái nà o tối thượng, tối thắng?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, ánh sáng lửa cây lớn đối với ánh sáng đốt đèn dầu thì ánh sáng lửa đống cây lớn tối thượng, tối thắng.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, ý ông thế nà o? Ánh sáng chiếu của lửa đống cây lớn, trong đêm tối và ánh sáng chiếu của sao Thái bạch và o buổi sáng, trời không u ám, hai ánh sáng ấy, ánh sáng nà o tối thượng, tối thắng?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, ánh sáng của saoThái bạch đối với ánh sáng của lửa đống cây lớn, thì ánh sáng của sao Thái bạch tối thượng, tối thắng.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Nà y Ưu-đà -di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái bạch và o buổi sáng trời không u ám và ánh sáng tỏa chiếu của mặt trăng nửa đêm không u ám, trong ánh sáng ấy, cái nà o tối thượng, tối thắng?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, ánh sáng của mặt trăng đối với ánh sáng của sao Thái bạch thì ánh sáng của mặt trăng tối thượng, tối thắng.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Nà y Ưu-đà -di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng nửa đêm trời không u ám, và ánh sáng chiếu tỏa của mặt trời và o mùa thu, đứng ngay giữa bầu trời trong suốt, không u ám, trong hai ánh sáng ấy cái nà o tối thượng, tối thắng?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, ánh sáng mặt trời so với ánh sáng mặt trăng thì ánh sáng mặt trời tối thượng, tối thắng.”

Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y Ưu-đà -di, có rất nhiều chư Thiên; mà nay ánh sáng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng nà y, tuy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nhưng ánh sáng đó cũng không bằng ánh sáng của chư Thiên. Ta ngà y xưa đã cùng với chư Thiên tụ tập luận sự, nhưng những điều ta nói đều vừa ý chư Thiên ấy, tuy vậy Ta không nói: ‘Sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng’. Nà y Ưu-đà -di, còn ông đối với ánh lửa đom đóm, lửa sâu bọ, sắc rất tệ, rất xấu mà nói ‘Sắc đó vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng,’ và khi được hỏi lại không biết.”

Dị học TiỠn Mao thưa rằng:

“Bạch Cù-đà m, con xin hối lỗi về lời nói nà y. Bạch Thiện Thệ, con xin hối lỗi về lời nói nà y.” [06]

Thế Tôn hỏi rằng:

“Nà y Ưu-đà -di, ý ông nghĩ sao mà nói như vầy, ‘Bạch Thế Tôn, con xin hối lỗi về lời nói đó, bạch Thiện Thệ, con xin hối lỗi về lời nói đó?’.”

Dị học TiỠn Mao đáp:

“Bạch Cù-đà m, con nói như vầy, ‘Sắc kia vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thượng’. Sa-môn Cù-đà m nay khéo tra xét tôi, khéo dạy dỗ và khéo quở trách, khiến sự hư vọng của tôi không còn nữa. Bạch Cù-đà m, vậy nên con nói như vầy. ‘Bạch Thế Tôn, con xin hối lỗi về lời nói nà y. Bạch Thiện thệ con xin hối lỗi về lời nói nà y’.”

Dị học TiỠn Mao lại thưa rằng:

“Bạch Cù-đà m, ‘Đời sau tuyệt đối lạc  [07], có một đạo tích để chứng đắc  [08] thế giới tuyệt đối lạc.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, thế nà o gọi là hậu thế tuyệt đối lạc? Thế nà o là có một đạo tích chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, giả sử có một người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh; xa lìa trộm cắp tà dâm, nói láo; cho đến, xa lìa tà kiến được chánh kiến. Bạch Cù-đà m, đó gọi là đời sau tuyệt đối lạc, đó gọi là chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc.”

Thế Tôn lại bảo rằng:

“Ưu-đà -di, nay Ta hỏi ông, theo sự hiểu biết mà đáp. Nà y Ưu-đà -di, ý ông nghĩ thế nà o? Nếu có một người xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, người ấy là tuyệt đối lạc, hay là hỗn tạp khổ [09]?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, là hỗn tạp khổ.”

“Nếu có một người xa lìa trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến xa lìa tà kiến có chánh kiến, người ấy là tuyệt đối lạc, hay là hỗn tạp khổ?”

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“BaÏch Cù-đà m, là hỗn tạp khổ.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, há không phải rằng hỗn tạp khổ lạc như vậy là đạo tích chứng đắc thế giới?”

Dị học TiỠn Mao đáp:

“Bạch Cù-đà m, hỗn tạp khổ lạc như vậy là đạo tích chứng đắc thế giới vậy.”

Dị học TiỠn Mao lại thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời nói nà y. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói nà y.”

Thế Tôn hỏi rằng:

“Ưu-đà -di, ông nghĩ thế nà o mà nói như vầy, ‘Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời nói nà y. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói nà y?’

Dị học TiỠn Mao đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, con vừa nói, ‘Đời sau tuyệt đối lạc, có một đạo tích chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc’. Nay Sa-môn Cù-đà m khéo tra xét con, khéo dạy dỗ và khéo quở trách, khiến cho sự hư vọng của con không còn nữa. Bạch Cù-đà m, do đó con nói như vầy, ‘Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời nói nà y. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói nà y’.”

Thế Tôn bảo rằng:

“Ưu-đà -di, đời quả có tuyệt đối lạc, có một đạo tích chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc.”

Dị học TiỠn Mao hỏi rằng:

“Bạch Cù-đà m, thế nà o là đời quả có tuyệt đối lạc? Thế nà o là có một đạo tích chứng đắc tuyệt đối lạc?”

Thế Tôn đáp rằng:

“Ưu-đà -di, nếu khi Như Lai xuất thế, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng Hựu; người ấy đoạn trừ năm triền cái, là thứ là m tâm tạp uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất thiện pháp; có giác, có quán, hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thà nh tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, về kiến vậy. Vị ấy giác quán đã dứt, nội tâm tịch tĩnh, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị thiền, thà nh tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, và về kiến vậy. Vị đó ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân giác lạc, điều mà bậc Thánh nói là được Thánh xả, có niệm, an trú lạc, chứng Tam thiền thà nh tựu an trú, cùng với chư Thiên tương đồng về giới, về tâm và về kiến vậy. Ưu-đà -di, đó gọi là thế giới tuyệt đối lạc.”

Dị học TiỠn Mao hỏi:

“Bạch Cù-đà m, Trong đời, tuyệt đối lạc chỉ cùng cực là thế chăng?”

Thế Tôn nói:

“Trong đời, tuyệt đối lạc không chỉ cùng cực là thế. Ưu-đà -di, còn có đạo tích nữa chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc.”

Dị học TiỠn Mao hỏi:

“Bạch Cù-đà m, thế nà o là có đạo tích nữa chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc?”

Thế Tôn đáp:

“Ưu-đà -di, Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp; có giác, có quán, hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thà nh tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, về kiến vậy. Vị ấy giác quán đã dứt, nội tâm tịch tĩnh, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị thiền, thà nh tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, và về kiến vậy. Vị đó ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân giác lạc, điều mà bậc Thánh nói là được Thánh xả, có niệm, an trú lạc, chứng Tam thiền thà nh tựu an trú, cùng với chư Thiên tương đồng về giới, về tâm và về kiến vậy. Ưu-đà -di, đó gọi là thế giới tuyệt đối lạc.”

Dị học TiỠn Mao hỏi rằng:

“Bạch Cù-đà m, phải chăng đệ tử của Sa-môn Cù-đà m vì thế giới tuyệt đối lạc, và vì đạo tích chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc ấy mà theo Sa-môn Cù-đà m học phạm hạnh chăng?”

Thế Tôn đáp rằng:

“Đệ tử của Ta không phải chỉ vì thế giới tuyệt đối lạc và vì chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc ấy mà theo học phạm hạnh. Nhưng còn có sự tối thắng, tối diệu, tối thượng khác để chứng đắc nữa.”

Bấy giờ cả đại chúng nà y cùng lớn tiếng nói:

“Cái ấy là tối thượng, tối diệu, tối thắng; vì để chứng đắc cái ấy mà đệ tử Sa-môn Cù-đà m theo Sa-môn Cù-đà m học phạm hạnh.”

Sau khi là m cho đại chúng của mình im lặng rồi, Phạm chí TiỠn Mao lại thưa rằng:

“Bạch Cù-đà m, cái gì là tối thượng, tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như vậy, mà đệ tử Sa-môn Cù-đà m theo Sa-môn Cù-đà m học phạm hạnh?”

Thế Tôn đáp rằng:

“Ưu-đà -di, Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, và ưu, hỷ đã có từ trước cũng diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc Tứ thiền, thà nh tựu an trụ. Ưu-đà -di, đó gọi là tối thượng tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như vậy mà đệ tử Ta theo học phạm hạnh.”

Bấy giờ Dị học TiỠn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, muốn cúi đầu sát chân Phật. Ngay lúc đó các đệ tử dị học phạm hạnh của Dị học TiỠn Mao thưa với Dị học TiỠn Mao rằng: “Tôn giả nay đáng là m bậc Thầy mà muốn là m đệ tử Sa-môn Cù-đà m ư? Khi nà o Tôn giả không đáng là m Thầy, rồi hãy là m đệ tử Sa-môn Cù-đà m vậy.”

Đó là các đệ tử của Dị học TiỠn Mao là chướng ngại cho Dị học TiỠn Mao đối với sự tu học phạm hạnh.

Phật thuyết như vậy. Dị học TiỠn Mao sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: M.79. Cūḷa-Sakuludāyi-sutta.
[02] Toà n cả đoạn trên, giống Kinh 208.
[03] Tát-vân-nhiên 薩 云 然; Pāli: sabaññu, hoặc âm là tá-bà -nhã: vị Nhất thiết trí; người hay đấng Toà n trí.
[04] Phiêu phong quỷ 飄 風 鬼; Pāli: Pamsupisācaka, “quỷ bùn”, môt loại tì-xá-xà .
[05] Pāli: ayaṃ paramo vaṇṇo ayaṃ paramo vaṇṇo ti, ”sắc nà y là tối thượng, sắc nà y là tối thượng”. Sắc (vaṇṇa) ở đây có nghĩa mà u sắc hay mà u da.
[06] Thế Tôn, hối quá thử thuyết. Pāli: acchidaṃ Bhagavā kathaṃ, Thế Tôn đã cắt đứt vấn đề.
[07] Hậu thế nhất hướng lạc 後 世 一向 樂. Pāli: ekantasukho loko, thế giới nhất hướng lạc.
[08] Pāli: atthi ākāravatī paṭipadā... sacchikiriyāyāti, có đường lối có cơ sở để thực chứng bản thân.
[09] Tạp khổ 雜 苦. Pāli: sukhadukkhī, vừa sướng vừa khổ.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]