Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
117. Kinh Nhu Nhuyến
118. Kinh Long Tượng
119. Kinh Thuyết Xứ
120. Kinh Thưyết Vô Thường
121. Kinh Thỉnh Thỉnh
122. Kinh Chiêm-Ba
123. Kinh Sa-Môn Nhị Thập Ức
124. Kinh Bát Nạn
125. Kinh Bần Cùng
126. Kinh Hà nh Dục
127. Kinh Phước Ðiền
128. Kinh Ưu-Bà -Tắc
129. Kinh Oán Gia
130. Kinh Giáo
131. Kinh HÃ ng Ma
132. Kinh Lại-Tra-Hòa-La
133. Kinh Ưu-Bà -Ly
134. Kinh Thích Vấn
135. Kinh Thiện Sanh
136. Kinh Thương Nhân Cầu Tà i
137. Kinh Thế Gian
138. Kinh Phước
139. Kinh Tức Chỉ Ðạo
140. Kinh Chí Biên
141. Kinh Dụ
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

11. PHẨM ÐẠI
(Phần Ðầu)

138. KINH PHƯỚC[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Phật bảo các vị Tỳ-kheo:

“Đừng sợ hãi phước[02] mà hãy có ý niệm yêu thích. Vì sao vậy? Vì những gì được gọi là phước thì cũng nói là lạc. Sự sợ hãi đối với phước là không có ý niệm yêu thích. Vì sao vậy? Những gì là phi phước được nói là khổ.

“Ta nhớ lại trong thời quá khứ, lâu dà i tác phước, lâu dà i thọ báo mà ý niệm yêu thích. Thời quá khứ Ta hà nh từ tâm trong bảy năm mà trải qua bảy lần kiếp thà nh và kiếp hoại, không tái sanh trong thế gian nà y. Nếu thời kiếp hoại, Ta sanh lên cõi trời Hoảng dục[03]. Trong thời kiếp thà nh, Ta tái sanh trở xuống trong cung điện trống không của Phạm thiên và là Đại Phạm thiên trong cõi Phạm thiên đó.

“Trong những trường hợp khác, ta trải qua một ngà n lần là m Tự Tại Thiên vương, ba mươi sáu lần là m Thiên Đế Thích và vô lượng lần là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh.

“Nà y Tỳ-kheo, lúc là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngà n thớt voi lớn được phủ những đồ cưỡi rất đẹp; dùng các báu bạch châu lạc[04] trang sức, phủ lên voi chúa đầu đà n Vu-sa-hạ[05].

“Nà y Tỳ-kheo, lúc Ta là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn ngà n con ngựa được phủ lên các thứ đồ cưỡi đẹp. Dùng các báu và ng, bạc, dao lạc để trang sức cho ngựa đầu đà n là ngựa Mao[06].

“Nà y Tỳ-kheo, lúc Ta là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn ngà n cỗ xe, trang sức bằng bốn cánh, dùng da vằn quý báu đủ mà u của các thú như sư tử, cọp, beo, dệt thà nh đủ loại mà u sắc xen lẫn trang sức cho cỗ xe dẫn đầu chạy rất nhanh chóng tên là xe Nhạc thanh[07].

“Nà y Tỳ-kheo, lúc Ta là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn ngà n thà nh lớn, già u có cùng cực, dân chúng đông đúc, lấy vương thà nh Câu-xá-hòa-đề[08] là m đầu.

“Nà y Tỳ-kheo, lúc là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngà n ngôi lầu; có bốn loại lầu báu, là m bằng và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh; đứng đầu là Chánh pháp điện[09].

“Nà y Tỳ-kheo, lúc là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngà n ngự tòa; bốn loại tòa báu, bằng và ng, bạc, lưu ly và thủy tinh; trải lên bằng các thứ nệm, chiếu dệt bằng lông năm sắc, phủ lên bằng những gấm, the, sa trun, lụa là ; có chăn nệm lót, hai đầu để gối, trải thảm quý bằng da sơn dương[10].

“Nà y Tỳ-kheo, lúc là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngà n chiếc áo song y, áo sơ-ma[11], áo gấm, áo lụa, áo kiếp bối, áo gia-lăng-già -ba-hòa-la.

“Nà y Tỳ-kheo, lúc là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngà n người nữ, thân thể nõn nà , sạch sẽ sáng sủa, sắc đẹp hơn người, không thua chư Thiên, tư dung đoan chánh, ai nhìn cũng sinh ưa thích, trang điểm bằng các thứ vật báu, anh lạc; tất cả đều thuộc dòng Sát-lợi. Ngoà i ra, những người thuộc dòng khác thì nhiều vô số.

“Nà y Tỳ-kheo, lúc là m vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn ngà n món ăn, ngà y đêm thường dọn ra cho Ta ăn.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n món ăn kia, có một món hết sức ngon, sạch sẽ, có vô lượng mùi vị, là món Ta thường ăn.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n người nữ kia có một người thuộc dòng Sát-lợi, đoan chánh đẹp đẽ khác thường, hầu hạ Ta.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n song y kia có một chiếc áo song y, hoặc là áo sơ ma, hoặc áo gấm, hoặc áo lụa, hoặc áo kiếp-bối[12], hoặc áo gia-lăng-già -ba-hòa-la là Ta thường mặc.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n ngự tòa kia, có một ngự tòa là m bằng và ng, hoặc bạc, hoặc lưu ly, hoặc thủy tinh; đồ trải lên thì dùng những tấm nệm, những chiếc chiếu dệt bằng lông năm sắc; đồ phủ lên thì dùng gấm, the, sa trun, lụa là , có chăn nệm lót, hai đầu để gối, có trải thảm quý bằng da sơn dương, là Ta thường nằm.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n lầu quán kia, có một lầu quán là m bằng và ng, hoặc bạc, hoặc lưu ly, hoặc thủy tinh, tên là Chánh pháp điện, là nơi Ta thường ở.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n thà nh lớn kia, có một thà nh già u có cùng cực, dân chúng đông đúc, gọi là thà nh Câu-xá-hòa-đề là chỗ ta thường ở.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n cỗ xe kia, có một cỗ được dùng da đủ mà u của các thú như sư tử, cọp, beo dệt thà nh, mà u sắc xen kẽ để trang hoà ng, chạy rất nhanh chóng, tên là xe Nhạc thanh, Ta thường ngồi lên, đi đến các lầu quán để ngắm nhìn các vườn tược.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n con ngựa kia có một con mà u xanh biếc, đầu như chim, gọi là ngựa Mao, là Ta thường cưỡi, đi đến các lầu quán để ngắm các vườn tược.

“Nà y Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngà n thớt voi lớn kia, có một thớt toà n thân trắng toát, bảy chi thảy đều ngay thẳng, gọi là voi Chúa Vu-sa-hạ, là Ta thường cưỡi đi đến các lầu quán để ngắm các vườn tược.

“Nà y Tỳ-kheo, bấy giờ Ta nghĩ: ‘Đó là nghiệp quả gì, là nghiệp báo gì, mà ngà y nay Ta có đại như ý túc, đại oai đức, đại phước hựu, đại oai thần?’

“Nà y Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: ‘Đó là ba nghiệp quả, là ba nghiệp báo, khiến ta ngà y nay có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần: một là bố thí, hai là điều phục, ba là thủ hộ’.”

Bấy giờ Thế Tôn liền nói bà i kệ:

Quán sát phước báo nà y,
Diệu thiện, nhiều ích lợi.
Tỳ-kheo, Ta quá khứ
Bảy năm tu từ tâm;
Bảy kiếp thà nh, kiếp hoại,
Không tái sinh cõi nà y.
Lúc thế gian hủy hoại,
Ta sanh trời Hoảng dục.
Lúc thế gian chuyển thà nh,
Ta sanh và o Phạm thiên;
Ở đó, Ta Đại phạm.
Nghìn sanh, Tự Tại thiên;
Ba sáu lần Đế thích;
Vô lượng trăm Đảnh vương.
Sát-lợi Đảnh Sanh vương,
Tối tôn trong loà i người[13].
Đúng pháp, không dao gậy,
Thống trị cả thiên hạ.
Đúng pháp, không dối trá[14]
Chánh an lạc, dạy dân.
Đúng pháp, lần lượt truyền,
Khắp tất cả cõi đất.
Chỗ già u sang, nhiều của,
Sanh và o chủng tộc ấy;
Lúa gạo thảy trà n đầy’
Thánh tựu bảy trân bảo.
Do các phước lớn ấy,
Chỗ sanh đều tự tại.
Chư Phật ngự thế gian,
Những điều Phật ấy dạy;
Biết điều nà y kỳ diệu,
Thấy thần thông không ít.
Ai biết mà không tin,
Như vậy sanh trong tối.
Vì vậy hãy vì mình
Mong cầu đại phước hựu.
Hãy cung kính Chánh pháp;
Thường niệm Pháp Luật Phật.

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tham chiếu Pāli A.7.58 Pacala (ngủ gục), đoạn cuối.
[02] Pāli: mā bhikkhave puññānaṃ bhāyittha, sukkhass’etaṃ bhikkhave adhivacanaṃ, yad idaṃ puññaun ti, “đừng sợ phước; đồng nghĩa với lạc, đó là phước”.
[03] Hoảng dục thiên tức Quang âm thiên hay Cực quang thiên; Pāli: Ābhassara.
[04] Bạch châu lạc 白 ç çž.
[05] Vu-sa-hạ tượng vương 于 娑 賀 象 王. Pāli: Uposathanāgarāja.
[06] Mao mã vương [馬+毛] 馬 王. Pāli: Valāhaka-assarāja.
[07] Nhạc thanh xa 樂 聲 車. Pāli: Vejayanta-ratha, cỗ xe (= cung điện) Chiến thắng.
[08] Câu-xá-hòa-đề 拘 舍 惒 提. Pāli: Kusāvati.
[09] Chánh pháp điện 正 法 殿. Pāli: Dhammapāsāda.
[10] Hán dịch: gia-lăng-già -ba-hòa-la ba-giá-tất-đa-la-na åŠ é™µ ä¼½ æ³¢ 惒 邏 æ³¢ 遮 悉 多 ç¾ é‚£. Pāli: kadalimigapavara-pacchattharaṇa, thảm lông bằng da sÆ¡n dương cá»±c quý.
[11] Sơ-ma y 初 摩 衣; Pāli: khoma-pilotikā, vải lanh.
[12] Kiếp-bối y 劫 貝 衣. Pāli: kappāsika, vải bông (gòn).
[13] Pāli: Muddhābhisitto khattiyo manussādhipatī, là m vua Đảnh Sanh, thuộc dòng Sát-lợi, là bậc Nhân chủ.
[14] Như pháp bất gia uổng 如 法 不 åŠ æŠ‚. Pāli: asāhasena dhammena, đúng theo pháp chứ không cưỡng chế.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]